ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN
THẠC SỸ BÁO CHÍ
Đề tài: KHAI THÁC KÊNH THÔNG TIN BÁO CHÍ
ĐỂ LÀM TRUYỀN THÔNG NỘI BỘ
TRONG DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Vũ Quang Hào
Tên học viên
: Lại Hoàng Dũng
Sinh ngày
: 13/10/1978
Khoa
: Báo chí và Truyền thông
Hà Nội - 2015
1
DANH MỤC BẢNG CHỮ TẮT TRONG LUẬN VĂN
VN:
Việt Nam
Đô la Mỹ
ĐTNN:
Đầu tư nước ngoài
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hãng tin AP và các đài truyền hình của Nhật Bản đã truyền đi một
thông điệp giàu cảm xúc, chạm đến trái tim của hàng triệu người trên thế
giới về hình ảnh Chủ tịch Tập đoàn nổi tiếng Toyota vào ngày 24-2-2011:
“Sau buổi điều trần trước Quốc hội Mỹ về độ an toàn của các loại xe, Chủ
tịch Toyota Akio toyoda đã gặp gỡ nhân viên, cảm ơn họ đã ủng hộ công ty
trong khủng khoảng.
“Khi phải điều trần trước Quốc hội Mỹ, tôi không thấy cô đơn. Các
bạn, những đồng nghiệp của tôi trên toàn nước Mỹ và khắp thế giới đều ở
bên tôi”, giọng người đứng đầu hãng sản xuất xe Nhật Bản danh tiếng toàn
cầu bất ngờ nghẹn lại, rồi bật khóc. Khán phòng im lặng, vị chủ tịch mãi
không thể cất lên lời và toàn thể những người có mặt cùng vỗ tay khích lệ.
Ông chủ tịch Toyota tiếp tục làm mọi người phải rơi lệ. “Các bạn đã
có mặt bên tôi, cổ vũ và chia sẻ. Không gì có thể diễn tả hết lòng biết ơn
những gì các bạn đã dành cho tôi, cho công ty. Tôi chỉ có thể nói một điều
đơn giản thế này: Cảm ơn các bạn rất nhiều. Chúng ta, những thành viên
Toyota trên toàn thế giới cần sũy nghĩ lại mọi chuyện trong hoạt động của
chúng ta để giành lại niềm tin khách hàng” [33].
Một lời xin lỗi chân thành không làm hạ thấp Chủ tịch Toyota mà
Vấn đề là làm sao để hàng vạn lao động ở nhiều vùng miền cùng làm
việc trong một công ty có vốn đầu từ nước ngoài như SamSung với văn hóa
khác nhau có được tinh thần đoàn kết vì sự phát triển của công ty luôn làm
đau đầu ban lãnh đạo công ty. Rồi làm sao để ban lãnh đạo ở xứ sở bên
ngoài có thể hòa nhập với nhân viên và công nhân sở tại chưa bao giờ là
vấn đề đơn giản. Truyền thông nội bộ có thể là chìa khóa hữu hiệu để mở
toang cách cửa ngăn cách sự khác biệt, tạo lập, duy trùy sự hiểu biết và
phát triển mối quan hệ tốt đẹp trong nội bộ công ty. Qua đó, tạo sự đồng
lòng từ lãnh đạo đến chuyên viên, nhân viên, công nhân cùng nắm chặt tay
nhau để đưa công ty đến với sự thịnh vượng. Sự phát triển của công ty cũng
mang lại cơ hội cải thiện đời sống cho từng cá nhân trong công ty đó.
4
Ông Alvie Smith, cựu giám đốc truyền thông của công ty General
Motors trong một nghiên cứu đã cho biết, người lao động không trung
thành với tổ chức của họ, hoặc không cam kết giúp tổ chức đạt được mục
tiêu của họ, có thể làm tốn mất 50 tỷ USD/năm [32, tr.124]. Trong khi đó,
hơn 80% nhân viên ở Mỹ và Anh nói rằng hoạt động giao tiếp nội bộ ảnh
hưởng đến mong muốn tiếp tục duy trì hay thôi việc đối với một tổ chức.
Gần 1/3 cho rằng hoạt động này có ảnh hưởng lớn đến quyết định của họ
[32, tr. 124, 125]. Như vậy, truyền thông nội bộ là cánh tay đắc lực giúp
lãnh đạo công ty tạo lập, duy trì và phát triển niềm tin trong công ty.Tuy
nhiên thực tế không ít công ty có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chưa coi
trọng việc truyền thông nội bộ.
Báo chí luôn là một kênh có vai trò quan trọng trong hoạt động
truyền thông của các công ty, trong đó có truyền thông nội bộ. Kênh báo
chí giúp cho người làm truyền nội bộ hiệu quả hơn và rút ngắn con đường
để đạt được mục đích truyền thông. Báo chí không chỉ góp phần xây dựng
hình ảnh, thương hiệu cho công ty mà các kết dính các thành viên trong
bộ chưa thu hút được nhiều nghiên cứu của các chuyên gia cũng như các
nhà nghiên cứu.
- Về hoạt động truyền thông và truyền thông nội bộ của doanh nghiệp
Hầu hết nghiên cứu về hoạt động truyền thông của doanh nghiệp
được đề cập tới trong những cuốn sách về quản trị kinh doanh hay quan hệ
công chúng. Những công trình nghiên cứu, bài báo, cuốn sách này đề cập
tới lý thuyết gắn với hoạt động truyền thông theo nhiều cách khác nhau, tuy
nhiên vẫn tập trung tới việc đưa các những vấn đề lý luận chung nhất gắn
với khái niệm công cụ liên quan tới truyền thông, quan hệ công chúng, vai
trò của hoạt động truyền thông đối với doanh nghiệp, các cách thức để phát
triển kỹ năng cho người làm truyền thông và áp dụng hoạt động quan hệ
công chúng đối với doanh nghiệp… Có thể kể tới như Thấu hiểu tiếp thị từ
A đến Z (Philip Kotler, Lê Hoàng Anh dịch, 2006), Quan hệ công chúng,
6
biến công chúng thành “fan” của doanh nghiệp (Business Edge. MPDF,
2006), PR – Kiến thức cơ bản và đạo đức chuyên nghiệp (Đinh Thị Thúy
Hằng chủ biên, NXB Lao động Xã hội, 2007), Sáng tạo chiến dịch PR hiệu
quả (Anne Gregory, Trung An và Việt Hà dịch, 2007), Hoạt động PR trong
thời đại mới (Lê Thúy Hà, Tạp chí Thông tin Khoa học kỹ thuật và kinh tế
bưu điện, số 12/2007), Lợi ích của PR đối với một doanh nghiệp (Phan Thị
Bình Minh, tạp chí Thông tin Khoa học kỹ thuật và kinh tế bưu điện, số
12/2007), Quy luật mới của PR và tiếp thị (David Meerman Scott, 2008),
PR: Lý luận và ứng dụng (Đinh Thị Thúy Hằng, NXB Lao động Xã hội,
2008), Ngành PR tại Việt Nam (Đinh Thị Thúy Hằng, NXB Lao động Xã
hội, 2010), Quản trị Quan hệ công chúng (PGS. TS Lưu Văn Nghiêm,
NXB Kinh tế Quốc dân, 2011)…
Không chỉ được đề cập tới trong những cuốn sách chung về quan hệ
công chúng, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và báo chí được nghiên cứu
thông trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại. Có chăng chỉ là
thấp thoáng đâu đó trong một số công trình nghiên cứu đề cập gần đến lĩnh
vực này. Có thể kể đến:
+ Michael Schudson, Sức mạnh của tin tức truyền thông (bản dịch
cuốn The Power of News, Harvarrd, Harvard University Press, 1995, người
dịch: Thế Hùng, Trà My), Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia, 2003.
+ Robert L.Heath (2004), Handbook of
Public Relations, Sage
Publications, Inc
+ Kotler Philip/ Keller Kevin (2009), Marketing Manage-ment, (13th
Edition), Pearson Education, USA
+ Mc Quail D. (1994), Mass communication Theory: An
Introduction (Third Edition), SAGE Publications, London-Thousand Oaks
– New Delhi.
8
+Renner
Wolfgang.
(2010),
Newspaper
Marketing
&
đời sống xã hội.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra các vấn đề đặt ra trong hoạt động truyền thông nội bộ trong
doanh nghiệp FDI và vai trò của kênh báo chí đối với truyền thông
nội bộ doanh nghiệp FDI
Phân tích tính đặc thù của của hoạt động truyền thông nội bộ trong
doanh nghiệp FDI.
Đề xuất một số nguyên tắc và kỹ năng cơ bản để thực hiện hoạt động
truyền thông nội bộ trong doanh nghiệp FDI
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ một số lý thuyết được áp dụng và các khái niệm: truyền
thông, truyền thông trong doanh nghiệp, truyền thông nội bộ, truyền
thông trong doanh nghiệp FDI và vai trò của kênh báo chí đối với
truyền thông nội bộ doanh nghiệp FDI
Tìm hiểu và phân tích thực trạng truyền thông trong doanh nghiệp
FDI tại Việt Nam.
Nghiên cứu các hoạt động truyền thông tại 02 doanh nghiệp đã lựa
chọn là Công ty điện tử Samsung và Công ty Yamaha Motor để từ đó
hệ thống hóa khung lý thuyết truyền thông đối với doanh nghiệp
FDI.
Trên cơ sở nghiên cứu, đề xuất kiến nghị và giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả truyền thông nội bộ trong doanh nghiệp FDI.
10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của kênh báo chí đối với truyền thông nội bộ doanh
pháp quy nạp và phương pháp so sánh.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Về lý luận khoa học: Công trình là sự bổ khuyết nhất định cho các
khoảng trống lý thuyết về truyền thông, truyền thông trong doanh
nghiệp nói chung và truyền thông trong doanh nghiệp FDI nói riêng;
đồng thời làm cơ sở cho những nghiên cứu sâu hơn, góp phần định vị
cho hoạt động truyền thông trong doanh nghiệp FDI cũng như trong
hoạt động truyền thông Doanh nghiệp nói chung.
- Về thực tiễn: Công trình cung cấp cái nhìn toàn cảnh về vị trí, vai
trò của hoạt động truyền thông nội bộ tại 02 doanh nghiệp được khảo
sát; Đưa ra các đánh giá, khuyến nghị nhằm giúp các tổ chức, cá
nhân làm truyền thông có thể tham khảo, cân nhắc và điều chỉnh các
chiến lược phát triển cho phù hợp, tiết kiệm và hiệu quả nhất.
12
7. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 3 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung, Kết luận.
Phần nội dung được chia làm 3 chương chính sau:
- Chương I: Lý luận chung về truyền thông nội bộ
- Chương II: Kênh báo chí với tư cách là kênh hoạt động truyền thông
nội bộ tại công ty điện tử Samsung và công ty Yamaha Motor
- Chương III: Tìm lối truyền thông nội bộ hiệu quả tại công ty điện tử
Samsung và công ty Yamaha Motor
13
CHƯƠNG 1:
Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào
là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung
nhất định với một giá trị nhất định. Điều ấy cũng là đương nhiên, vì rằng
mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp
để phát biểu. Chẳng hạn:
Xét theo quan điểm luật pháp:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có
tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch
toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm
vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước
bằng các loại luật và chính sách thực thi
Xét theo quan điểm chức năng:
Doanh nghiệp được định nghĩa như sau: "Doanh nghiệp là một đơn vị
tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan
tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực
hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để
nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của
sản phẩm ấy. (M.Francois Peroux).
Xét theo quan điểm phát triển
15
Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó
sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua
những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi
tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được " (trích từ
sách " kinh tế doanh nghiệp của D.Larua.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa
Học Xã Hội 1992 )
Xét theo quan điểm hệ thống
càng sôi động và biến đổi không ngừng như hiện nay, ở mỗi thời điểm
người ta lại xây dựng nên các cách định nghĩa FDI để phù hợp thực tiễn.
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): Đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có
được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền
quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các
công cụ tái chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài
sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong
những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và
các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" [27].
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF-International Monetary Fund) lại có một
định nghĩa khác về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một công cuộc
đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct
investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh
nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia
khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được
công nhận là FDI [Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF-International Monetary
Fund), [28].
1. Tại Việt Nam việc xây đựng và ban hành Luật Đầu tư nước ngoài
năm 1987 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn về tư duy phát triển kinh
tế trong lịch sử Việt Nam thời hiện đại vì nó đã tạo ra nền tảng pháp
19
lý cho việc hợp tác kinh doanh với nước ngoài, một vấn đề còn quá
mới mẻ vào thời điểm đó. Khái niệm luật đầu tư nước ngoài cũng
được thể hiện cụ thể trong điều 2, Luật này như sau: "Đầu tư trực
tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bộ ở đây được hiểu là tập thể cán bộ, công nhân viên của tổ chức, doanh
nghiệp và họ gắn kết với nhau bằng mối quan hệ chuyên môn và công việc
[8, tr.247].
Theo luận văn “Truyền thông nội bộ trong xây dựng và phát triển
văn hóa doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần xăng dầu
Petrolimex” của Lê Huyền Giang tại Học viện Báo chí Tuyên truyền năm
2012 thì truyền thông nội bộ cũng có chức năng quản lý và là một phần của
tiểu hệ thống quản lý. Trong đó bao gồm các hoạt động sau:
Thứ nhất, truyền thông nội bộ (inhouse PR Communication)
Thứ hai, truyền thông bên ngoài (External Communication)
Thứ ba, tư vấn nội dung và phương thức truyền thông
Thứ tư, đại diện phát ngôn.
1.2.3 Truyền thông nội bộ trong doanh nghiệp FDI
Từ định nghĩa truyền thông nội bộ, chúng ta có thể hiểu truyền thông
trong nội bộ doanh nghiệp FDI là chức năng quản lý nhằm tạo ra và gây
dựng mối quan hệ có lợi và tốt đẹp giữa lãnh đạo của tổ chức, cơ quan và
công chúng nội bộ để đi tới thành công chung của doanh nghiệp FDI.
1.3. Kênh báo chí trong truyền thông nội bộ
22
1.3.1 Vai trò của Báo chí truyền thông
Báo chí có chức năng, vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống xã
hội. Đó là các chức năng thông tin, chức năng tư tưởng, chức năng khái
sang - giải trí, chức năng tổ chức - quản lý, giám sát và phản biện xã hội,
chức năng kinh tế - dịch vụ (5 chức năng).
- Thông tin là chức năng cơ bản, chức năng khởi nguồn của báo chí.
Báo chí ra đời là để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu thông tin giao tiếp của con
người và xã hội. Xã hội càng phát triển, con người càng văn minh thì nhu
cầu thông tin giao tiếp càng cao, càng đa dạng phong phú.
phát hiện những nơi làm đúng, làm tốt để biểu dương và nhân rộng; theo
dõi và kiểm tra để phát hiện những nơi làm trệch, làm sai để uốn nắn và
đấu tranh, bảo đảm cho đường lối, chính sách chủ trương của Đảng, pháp
luật Nhà nước được thực thi đúng trong thực tế…
- Chức năng kinh tế - dịch vụ: Chức năng này xuất phát từ đòi hỏi
khách quan của hoạt động báo chí trong nền kinh tế thị trường. Các hoạt
động kinh tế báo chí bao gồm: phát hành, quảng cáo và các dịch vụ gia tăng
khác: tổ chức sự kiện, liên doanh, liên kết….
1.3.2. Vai trò của báo chí với truyền thông nội bộ doanh nghiệp
Báo chí có vai trò quan trọng hàng đầu với truyền thông nội bộ. Nó
giúp truyền thông nội bộ hiệu quả hơn và đạt được mục đích của mình. “Về
mặt bản chất, các nhà quản trị quan hệ công chúng cần phải thiết lập mối
quan hệ tốt đẹp với giới truyền thông để đảm báo cho các thông điệp được
truyền tải tới công chúng mục tiêu có sức lan tỏa mạnh mẽ nhất” [31, tr.
151]. Chúng ta có thể thấy vai trò của báo chí với truyền thông nội bộ ở các
mặt cơ bản sau:
24
Một là, đối với quan hệ đối nội của doanh nghiệp. Đối với hầu hết
các doanh nghiệp lớn, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
có số lượng vốn lớn ở Việt Nam đã thành lập bộ phận truyền thông nội bộ.
Một hoạt động quan trọng hàng đầu và thường xuyên của bộ phận này là
xây dựng mối quan hệ với báo chí và nắm bắt thông tin từ báo chí. Bộ phận
truyền thông nội bộ trong các doanh nghiệp đều có mục điểm tin báo chí
hàng ngày. Hoạt động này giúp công ty nắm bặt được những thông tin viết
về doanh nghiệp mình, bao gồm cả thông tin có lợi và bất lợi. Nhân dân ta
có câu đại ý là biết người biết ta đánh trăm trận thắng cả trăm. Bởi vậy biết
được người trong công ty và công chúng bên ngoài nghĩ gì về doanh nghiệp