Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
đinh quang hà
di dân tự do nông thôn - đô thị
với trật tự xã hội ở Hà Nội
Chuyờn ngnh
: Xó hi hc
Mó s
: 62 31 30 01
luận án tiến sĩ xã hội học
Ngi hng dn khoa hc:
1. GS.TS nguyễn đình tấn
2. PGS.Ts phạm xuân hảo
Hà nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu trong luận án là trung thực. Những
kết luận nêu trong luận án chưa từng được công bố ở bất
kỳ công trình khoa học nào khác.
2.1. Một số khái niệm cơ bản trong nghiên cứu di dân tự do nông
thôn - đô thị với trật tự xã hội
2.2. Một số lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu di dân tự do nông
thôn - đô thị với trật tự xã hội
2.3. Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về di
dân, về trật tự xã hội
Chƣơng 3:
38
48
63
-
70
3.1. Tình hình di dân tự do nông thôn - đô thị và trật tự xã hội ở Hà
Nội hiện nay
3.2. Thực trạng di dân tự do nông thôn - đô thị với trật tự xã hội ở
Hà Nội hiện nay
3.3. Yếu tố tác động di dân tự do nông thôn - đô thị với trật tự xã hội
ở Hà Nội hiện nay
70
81
96
Chƣơng 4:
-
122
Quản lý hành chính
TTATGT
Trật tự an toàn giao thông
TTATXH
Trật tự an toàn xã hội
TTCC
Trật tự công cộng
TTĐT
Trật tự đô thị
TTXH
Trật tự xã hội
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Trang
Bảng 3.1: GDP bình quân đầu người của Hà Nội và cả nước 2000 - 2010
73
Bảng 3.2: Tỷ lệ và số lượng người di cư đến Hà Nội qua các năm
quãng thời gian tính từ khi bắt đầu ra Hà Nội làm ăn sinh
sống của di dân tự do nông thôn - đô thị
101
Bảng 3.9: Hình thức phạm tội, vi phạm tệ nạn xã hội của di dân tự
do nông thôn - đô thị theo việc làm
118
DANH MỤC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Trang
Biểu đồ 3.1: Những lỗi vi phạm thường mắc phải của người di dân tự
do nông thôn - đô thị ở Hà Nội
Biểu đồ 3.2: Thời gian làm ăn sinh sống của người di cư tự do nông
thôn - đô thị trên địa bàn Hà Nội
Biểu đồ 3.3: Hình thức, mức độ phạm tội, vi phạm tệ nạn xã hội
của người
- đô thị
Biểu đồ 3.4: Hình thức, mức độ phạm tội, vi phạm tệ nạn xã hội của di
dân tự do nông thôn - đô thị ở Hà Nội theo hình thái di dân
Biểu đồ 3.5: Hình thức, mức độ phạm tội, vi phạm tệ nạn xã hội của
di dân tự do nông thôn - đô thị theo giới tính
Biểu đồ 3.6: Hình thức, mức độ vi phạm quy định về quản lý hành
chính của di dân tự do nông thôn - đô thị theo lứa tuổi
Biểu đồ 3.7: Hình thức, mức độ phạm tội, vi phạm tệ nạn xã hội của
di dân tự do nông thôn - đô thị theo độ tuổi
Biểu đồ 3.8: Hình thức, mức độ vi phạm quy định về quản lý hành
chính của di dân tự do nông thôn - đô thị theo trình độ
điều tra dân số, trong 10 năm (1999-2009), dân số Hà Nội tăng bình quân
hàng năm 2,11%, cao hơn mức tăng trung bình của cả nước (1,2%). Trong 5
năm gần đây, tỷ suất nhập cư của Hà Nội là 65,3%, tỷ suất xuất cư là 15,5%.
Như vậy, Hà Nội là một trong những thành phố có tỷ suất nhập cư cao trong
nước (Đồng Nai 68,4%; Thành phố Hồ Chí Minh 116,0%) [102].
Dân di cư tự do đến khu vực nội thành Hà Nội chủ yếu từ vùng nông
thôn của Hà Nội và vùng nông thôn của các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng.
Họ gồm đủ các lứa tuổi, thành phần xã hội, nghề nghiệp, trình độ học vấn;
làm đủ nghề tùy thuộc vào năng lực, sức khỏe, thói quen, truyền thống của địa
phương và mạng quan hệ xã hội của mỗi người, nhóm người di cư.
Di dân tự do tạo áp lực lớn về các vấn đề kinh tế - xã hội ở khu vực nội
thành Hà Nội. Di dân tự do làm gia tăng đột biến về dân số cơ học, về cơ cấu
dân cư, tạo những áp lực về việc làm, chỗ ở, giao thông, an sinh xã hội,... Có
nghiên cứu cho rằng, những người di dân tự do gây khó khăn cho công tác
quản lý hành chính, quản lý con người, gây nên những khó khăn trong đấu
tranh phòng chống tệ nạn xã hội và tội phạm; là một yếu tố gây nên sự nhức
nhối, bức xúc trong xã hội đô thị, gia tăng sự mất ổn định về trật tự xã hội.
2
Nhằm đảm bảo trật tự xã hội, trong những năm vừa qua, cấp ủy đảng,
chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội và cơ quan công an các cấp của
Hà Nội đã tích cực, chủ động lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành công tác quản lý
người di cư tự do đến khu vực nội thành, tạo điều kiện cho họ về việc làm và
ổn định sinh hoạt, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm trật tự xã hội.
Nhìn chung, người dân di cư tự do đến khu vực nội thành đã chấp hành các
quy định của Thành phố, của các quận, phường; tình hình vi phạm trật tự xã
hội trong những người di cư tự do có chiều hướng giảm. Tuy nhiên, công tác
quản lý dân di cư tự do từ nông thôn đến khu vực nội thành còn nhiều bất cập;
tình hình vi phạm trật tự xã hội trong người di cư tự do từ nông thôn đến
- Khảo sát, đánh giá thực trạng về di dân tự do nông thôn - đô thị với trật
tự xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
- Phân tích những yếu tố tác động, xác định những vấn đề đặt ra và đề
xuất giải pháp cơ bản nhằm hạn chế tác động tiêu cực của di dân tự do nông
thôn - đô thị đến trật tự xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
3. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Di dân tự do nông thôn - đô với trật tự xã hội ở đô thị hiện nay.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Người dân nông thôn di cư tự do đến các quận nội thành thành phố Hà Nội.
- Cán bộ công an các phường nội thành thành phố Hà Nội.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu tương quan giữa
di dân tự do nông thôn - đô thị với công tác quản lý đô thị, trật tự giao thông,
tội phạm và các tệ nạn xã hội.
Trong các nhóm di dân tự do nông thôn - đô thị, luận án chỉ nghiên cứu
nhóm di dân tạm thời và di dân mùa vụ, trong đó di dân mùa vụ hàm chứa di
dân con lắc, không nghiên cứu nhóm di dân tự do nông thôn - đô thị đã đăng
ký hộ khẩu thường trú tại các quận nội thành Hà Nội.
4
- Phạm vi về không gian nghiên cứu. Các quận nội thành (nơi dân di cư
tự do đến): Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa.
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2001 đến 2012; thời điểm
khảo sát thực tiễn: năm 2013.
4. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp luận, phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận, phương pháp luận
- Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử trong phân tích di dân tự do nông thôn - đô thị với trật tự xã
nghiên cứu của luận án, gồm:
- Thu thập, phân tích số liệu, tài liệu về di dân tự do từ nông thôn đến
khu vực nội thành Hà Nội, từ năm 2001 đến 2012.
- Thu thập, phân tích các báo cáo về tình hình trật tự xã hội trên địa bàn
thành phố Hà Nội từ năm 2001 đến 2012; tập trung chủ yếu từ năm 2006 đến
năm 2012. Các báo cáo được thu thập chủ yếu từ cơ quan công an thành phố
Hà Nội và một số quận huyện.
4.2.2. Phỏng vấn sâu
- 20 cán bộ, công an phường các quận nội thành Hà Nội. Trong đó,
phỏng vấn 15 công an khu vực, những người trực tiếp quản lý nhân khẩu và
trật tự xã hội ở cơ sở tổ dân phố, đường phố; 5 cán bộ công an cấp sở, phòng.
- 20 người dân di cư tự do từ nông thôn đang làm ăn sinh sống tại chợ
đầu mối Long Biên, bến xe Lương Yên và trên đường phố quận nội thành.
4.2.3. Điều tra bằng phiếu
- Điều tra bằng phiếu đối với 400 người dân nông thôn di cư đến các
quận nội thành thành phố Hà Nội.
- Cách thức lấy mẫu: mỗi quận chọn 3-5 người dân ở khu vực nông thôn
di dân tự do đang có việc làm tại các quận nội thành Hoàn Kiếm, Ba Đình,
Đống Đa, Hai Bà Trưng. Số người này do cán bộ tổ dân phố, chủ nhà trọ có
đông người di dân tự do tạm trú giới thiệu để làm điểm khởi đầu điều tra. Sau
đó, từ sự giới thiệu của những người điều tra ban đầu tiến hành gặp và điều tra
đủ theo số lượng dự định điều tra. Cụ thể:
+ Điều tra ở quận Hoàn Kiếm 120 người; quận Ba Đình 80 người; quận
Đống Đa 100 người; quận Hai Bà Trưng 100 người.
+ Số lượng phiếu được xử lý 376 (24 phiếu không chứa đủ thông tin,
không được xử lý).
6
- Cơ cấu mẫu điều tra:
7
Giả thuyết thứ hai: Đặc điểm nhân khẩu (giới tính, lứa tuổi, học vấn),
của di dân tự do nông thôn - đô thị chi phối đến mức độ, tính chất hành vi vi
phạm trật tự xã hội đô thị của nhóm xã hội này.
Giả thuyết thứ ba: Việc làm, hình thái di dân tự do nông thôn - đô thị
chi phối đến mức độ, tính chất hành vi vi phạm trật tự xã hội đô thị của nhóm
xã hội này.
5.2. Biến số
Biến độc lập: Giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, việc làm, hình thái di
của dân di cư tự do nông thôn - đô thị.
Biến phụ thuộc: Đăng ký nhân khẩu, hộ khẩu; Trật tự, an toàn giao thông
đô thị; Tội phạm và tệ nạn xã hội của dân di cư tự do nông thôn - đô thị.
Biến can thiệp: Điều kiện kinh tế - xã hội địa phương xuất cư và nhập
cư; Quan điểm, chính sách, quy định về di dân, quản lý di dân tự do của
Đảng, Nhà nước, thành phố Hà Nội.
5.3. Khung phân tích
Điều kiện kinh tế - xã hội địa phƣơng xuất, nhập cƣ
Đăng ký nhân
khẩu, hộ khẩu
Hình thái
di dân tự do
Giới tính, độ tuổi,
học vấn ngƣời di
dân tự do
Việc làmcủa ngƣời
hội đô thị; đấu tranh có hiệu quả với tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ vững ổn định
xã hội cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy
xã hội học về biến đổi xã hội, xã hội học đô thị, xã hội học quản lý.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận án gồm 4 chương, 12 tiết.
9
Chƣơng 1
, DI DÂN
1.1. NGHIÊN CỨU VỀ DI DÂN TRÊN THẾ GIỚI
Trong lịch sử, nước Mỹ là một quốc gia của nhiều người nhập cư. Vì thế,
những nghiên cứu di dân sớm nhất phải kể đến các tác giả người Mỹ, đặc biệt
là các nhà địa lý. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, ở nước Mỹ đã có nhiều công trình đề
cập đến vấn đề di dân và nghiên cứu về di dân. Đó là những nghiên cứu về di
dân quốc tế, nghiên cứu hiện tượng di dân từ các quốc gia trên thế giới đến định
cư tại nước Mỹ. Thời kỳ này, các tác giả thường dừng lại ở việc phân tích tác
động của di dân tới nền kinh tế của nước Mỹ, với hai quan điểm ủng hộ hoặc
phản đối. Các xuất bản phẩm về vấn đề này thường dưới dạng các bài báo, chưa
có công trình nghiên cứu tổng hợp, chuyên sâu về di dân. Ví dụ: “Nước Mỹ nên
vui mừng với hiện tượng nhập cư”, năm 1845 của Thomas L.Nichols; “Mỹ nên
giảm bớt nhập cư”, năm 1849 của Garrtt Davit [75, tr.385-389].
Vào thập kỷ 60 đến thập kỷ 80 thế kỷ XX, nghiên cứu về di dân thực sự
phát triển ở nước Mỹ. Các tác giả đều là những nhà khoa học, những giáo sư,
nhà nghiên cứu ở các trường đại học, viện nghiên cứu địa lý, viện nghiên cứu
kinh tế; một số người trong số đó: Norris Robert Eart, Corugean, C.Curtis
Roseman, U.A.V. Clark, E.C. Moore,…. Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, các
nghiên cứu chuyên sâu đối với mỗi loại hình di dân.
Cùng với hiện tượng đô thị hóa trong các nước phát triển, di dân nông
thôn - đô thị trở thành một hiện tượng xã hội nổi trội, các nghiên cứu về di
dân nông thôn - đô thị trở thành một xu hướng. Các nghiên cứu này không chỉ
phát triển ở nước Mỹ và châu Âu mà còn phát triển ở châu Á, châu Phi, châu
Mỹ la tinh. Nền tảng của những nghiên cứu về di dân nông thôn - đô thị là
những ý tưởng của E.G.Ravenstein [Trích theo 6]. Đồng thời, từ nghiên cứu
thực nghiệm, lý thuyết và phương pháp luận nghiên cứu di dân nông thôn - đô
thị được bổ sung, phát triển, hoàn thiện.
11
Một số nước châu Á như: Nhật Bản, Thái Lan, Philippin, Inđônêxia,
Malayxia, Hàn Quốc, Trung Quốc, tình trạng đô thị hóa diễn ra mạnh, vì thế
đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về di dân nông thôn - đô thị. Về
mặt lý thuyết và phương pháp luận, các nghiên cứu này vẫn chủ yếu dựa vào
mô hình lý thuyết và phương pháp luận của một số học giả phương Tây. Song
do điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc điểm tự nhiên cùng đặc
điểm về con người, cộng đồng người khác nhau nên các nghiên cứu này có
những bổ sung, cụ thể hóa lý thuyết và phương pháp luận trong nghiên cứu về
di dân nông thôn - đô thị.
Trong một vài thập kỷ gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về di
dân nông thôn - đô thị ở các nước thứ ba được triển khai dưới sự giúp đỡ
trong khuôn khổ các dự án nghiên cứu do tài trợ của một số nước và một số tổ
chức quốc tế.
Dân số là một nội dung, vấn đề nghiên cứu của xã hội học, hình thành
một chuyên ngành xã hội học về dân số. Trong nội dung, hướng nghiên cứu
về dân số, xã hội học thường hướng vào vấn đề di dân, nhập cư để làm rõ các
hiện tượng xã hội của quá trình này. Sách: Xã hội học của John & Macionis
[67, tr.66-702], có nội dung bàn về sự di cư và đô thị hóa. Giải thích về di cư
xô về thành phố sinh sống sẽ tạo ra vùng “đệm ngoại ô”; ngược lại, khi mà ở
đô thị không bảo đảm cuộc sống an toàn về các phương diện, thì người dân di
cư lại trở về nông thôn, làm bật dậy đời sống khu vực nông thôn. “Sự ngoại ô
hóa” và “cuộc sống nông thôn bật dậy” là hai khái niệm, phản ánh hai hiện
tượng của di dân nông thôn - đô thị cần tham khảo trong nghiên cứu về di dân.
Một hướng nghiên cứu về di dân đáng lưu ý, đó là nghiên cứu về mối
quan hệ giữa di dân với bình đẳng tộc người. Các sách: Xã hội học của John
& Macionis [67]; Xã hội học của Richard T. Schaefeer [75]; Những bài giảng
về xã hội học [119], trong phần nghiên cứu về chủng tộc và dân tộc đều có
mục về di dân, nhìn bình đẳng tộc người từ góc độ di dân. Sách: Xã hội học
của Richard T. Schaefeer [75], nghiên cứu về các nhóm thiểu số; thành kiến
13
và sự kỳ thị; các cấu trúc và quan hệ liên nhóm; chủng tộc và sắc tộc tại Mỹ.
Từ đó đưa ra một số luận điểm: kiến trúc xã hội bằng chủng tộc; thành kiến và
kỳ thị tộc người; sự hợp nhất, sự đồng hóa và sự cách ly. Trong việc minh
chứng cho các luận điểm, sách thường dẫn chứng vai trò, vị thế xã hội của
người nhập cư, tập trung vào các nhóm người Mỹ gốc Phi, Mỹ la tinh, Hoa,
Nhật, Hàn Quốc so với vai trò, vị thế của người chính quốc, để chỉ ra sự bất
lợi, bất bình đẳng xã hội của hai nhóm người chính cư và nhập cư. Sách:
Những bài giảng về xã hội học [119, tr.254-255], đưa ra kết quả nghiên cứu
về di dân đến nước Anh đầu thế kỷ XX; nghiên cứu về địa vị người nhập cư,
chỉ rõ sự phân biệt chủng tộc đối với người nhập cư. Sách viết: “Sau năm
1918, nước Anh củng cố việc thực hiện đối xử phân biệt chủng tộc và tạo
thêm nỗ lực ngăn chặn những đối tượng người Anh được xem là thuộc những
chủng tộc khác định cư ở Anh”. Trên thực tế, ở những nước có nhiều người
nhập cư như nước Mỹ, Anh, tộc người thiểu số là những người nhập cư, vì thế
họ bất lợi về nhiều mặt so với người bản địa. Sự bất lợi đó càng tăng khi mà
chủ nghĩa phân biệt chủng tộc còn rơi rớt, chi phối các quan hệ xã hội. Như
dân tộc, vùng lãnh thổ; được lồng ghép vào vấn đề chính trị, trong mối quan
hệ giữa các quốc gia dân tộc và trong các quan hệ quốc tế, chủ yếu những
nước phát triển và chậm phát triển, những nước nghèo. Sâu hơn, đó là vấn đề
độc lập, chủ quyền và quyền tự quyết dân tộc của các quốc gia dân tộc có chủ
quyền trong nhìn nhận và giải quyết vấn đề di dân.
Cùng với mô tả về di dân, các nghiên cứu về di dân hướng mạnh vào làm
rõ các vấn đề xã hội, hiện tượng xã hội, quá trình xã hội của di dân. Xã hội
học về di dân đặt vấn đề di dân với sự ổn định và phát triển xã hội.
Các nghiên cứu về di dân không dừng lại ở việc mô tả, giải thích mà đều
hướng tới công tác quản lý xã hội, khuyến nghị các giải pháp quản lý xã hội
về di dân, góp phần ổn định và phát triển xã hội.
Thứ ba: Các công trình nghiên cứu đã xác lập phương pháp chủ yếu
nghiên cứu về di dân, đó là phương pháp định lượng, phương pháp so sánh,
15
phương pháp nhân quả. Trong các nghiên cứu về di dân, số liệu về di dân là
bằng chứng “không thể chối cãi” để mô tả, phân tích hiện tượng di dân, mà
nếu thiếu nó, những nghiên cứu về di dân không thuyết phục. Từ những số
liệu, tư liệu thu được tiến hành so sánh, phân tích theo mô thức nhân - quả để
làm rõ nguyên nhân của di dân, xu hướng cũng như hệ lụy xã hội của di dân
đối với người dân di cư, đối với cộng đồng và đối với xã hội. Các phương
pháp sử dụng trong nghiên cứu về di dân củng cố thêm cơ sở khoa học - thực
tiễn về các phương pháp nghiên cứu của xã hội học.
1.2. NGHIÊN CỨU VỀ DI DÂN Ở VIỆT NAM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.2.1. Những nghiên cứu về di dân ở Việt Nam
Ở nước ta, thời kỳ trước năm 1986, để thực hiện cho mục tiêu phân bố
lại dân cư và lao động trong cả nước, nhiều công trình nghiên cứu về di dân
được triển khai. Song, cũng như một số nước ở châu Á, nghiên cứu về di dân
1990, 1991, cho con số: trộm cắp 357 người, mại dâm 435 người, lừa đảo 190
người, buôn bán vé, chèo kéo khách đi ô tô 49 người,... Con số đó cho thấy,
mại dâm và trộm cắp là hai hiện tượng nổi trội trong nhóm người từ nông
thôn vào thành phố Hà Nội kiếm sống. Số liệu và một vài nhận định về tác
động tiêu cực của di dân theo mùa vụ từ nông thôn vào thành phố là những tài
liệu tham khảo cho nghiên cứu của đề tài luận án.
Đề tài Nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy làn sóng di dân tự do từ các khu
vực nông thôn ra đô thị trong quá trình chuyển đổi kinh tế ở nước ta hiện nay
và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội các vùng đô thị, của Bộ
Khoa học công nghệ và Môi trường [11] tập trung đánh giá tình trạng di cư tự
do theo mùa vụ từ nông thôn đến đô thị ở thành phố Hà Nội, thành phố Huế,
đề xuất một số kiến nghị giải quyết tình trạng này.
Đề án “Kiểm soát dòng di dân nông thôn - đô thị trong quá trình đô thị
hóa ở Việt Nam” được thực hiện bởi Viện quy hoạch đô thị và nông thôn
[117]. Mục đích của đề án là tìm ra một số giải pháp kiểm soát dòng người từ
nông thôn tới các đô thị hiện nay ở Việt Nam. Một số nghiên cứu như, Dự án
17
VIE/95/004 “Tăng cường năng lực cho chính sách di dân nội địa ở Việt
Nam” của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện [12].“Di dân và
sức khỏe ở Việt Nam”, được thực hiện với sự giúp đỡ của Quỹ dân số Liên
Hợp quốc và Trường đại học Tổng hợp Brown [74]. Mục tiêu của các nghiên
cứu này là tập trung làm rõ một số vấn đề như: Đánh giá nguyên nhân, hậu
quả của quá trình di dân và ảnh hưởng của di dân đối với sức khỏe, sức khỏe
sinh sản trong quá trình chuyển đổi kinh tế thị trường ở Việt Nam; đưa ra một
số giải pháp quản lý di dân ở Việt Nam.
Đáng chú ý là:“Điều tra di cư Việt Nam năm 2004” do Tổng cục Thống
kê và Quỹ Dân số Liên Hợp quốc thực hiện [95]. Cuộc điều tra đã được tiến
hành ở 11 tỉnh, thành phố, theo 5 khu vực: Khu vực 1, Hà Nội; khu vực 2, khu
Năm 2009, nước ta tiến hành Tổng Điều tra dân số. Kết quả Tổng Điều
tra dân số, nhà ở Việt Nam năm 2009 [99] đã cho bức tranh khá chi tiết về di
cư. Nhìn chung, dân số di cư giữa các tỉnh có xu hướng ngày càng tăng, từ 1,3
triệu người năm 1989 lên 2 triệu người năm 1999 và tăng lên 3,4 triệu người
năm 2009. Số liệu Tổng Điều tra dân số cho bằng chứng về các vấn đề xã hội:
hiện tượng “nữ hóa di cư”, dân số nữ di cư chiếm khoảng một nửa tổng số
dân di cư và tỷ lệ dân số nữ di cư trên tổng số dân di cư liên tục tăng trong hai
thập kỷ qua; đa số dân di cư, đặc biệt di cư liên tỉnh, là những người trẻ, tập
trung trong nhóm 15-29 tuổi.
Tổng điều tra dân số cũng cho thấy, có sự khác biệt về luồng di cư giữa
các vùng và các tỉnh. Đông Nam bộ là vùng nhập cư chủ yếu trong giai đoạn
1994-1999 và tốc độ nhập cư đến vùng này tăng nhanh hơn trong giai đoạn
2004-2009. Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu
Long là nơi xuất cư chủ yếu trong giai đoạn 1994-1999 và tốc độ xuất cư khỏi
các vùng này cũng tăng nhanh hơn trong giai đoạn 2004-2009. Thành phố Hồ
Chí Minh và tỉnh Bình Dương là hai địa phương có số dân nhập cư nhiều,
Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng một triệu người, tỉnh Bình Dương có
khoảng nửa triệu người đến nhập cư. Di cư đã góp phần thúc đẩy quá trình đô
19
thị hóa. Sự tăng trưởng dân số đô thị chủ yếu diễn ra ở các khu vực đô thị lớn,
với 200.000 dân trở lên. Trong thập niên qua, tỷ lệ dân số đô thị tăng từ
23,7% năm 1999 lên 29,6% năm 2009 (10 năm tăng 5,9%). Điều đó có nghĩa
là dân cư đô thị chiếm 25,4 triệu người trong tổng số 85,8 triệu dân toàn quốc,
thời điểm năm 2009. Điều đó cho thấy, công nghiệp hóa là yếu tố thúc đẩy
nhanh quá trình đô thị hóa.
Sách Di dân trong nước: Vận hội và thách thức đối với công cuộc đổi
mới và phát triển ở Việt Nam của Đặng Nguyên Anh [4] đã phân tích khá rõ
các vấn đề: xu hướng và đặc điểm của di dân; những vấn đề nổi bật của di dân