PhầnI. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Giới thiệu về khoá bồi dưỡng kiến thức lớp chuyên viên.
Khóa học bồi dưỡng kiến thức dành cho chuyên viên nhằm cung cấp cho
người học những kiến thức cơ bản, giúp người học nâng cao năng lực cho công
chức, viên chức nhà nước trong đơn vị hành chính.
Khóa học cung cấp cho người học kiến thức cơ bản về nhà nước, cơ chế tổ
chức và nội dung quản lý hành chính nhà nước, từ đó giúp người học ý thức được
những chức trách, nhiệm vụ của mình trong quá trình nâng cao chất lượng trong
công tác.
Khóa học chú trọng đến việc hình thành các kỹ năng nhận thức và vận dụng
những kiến thức vào việc bồi dưỡng nhân cách cho công chức, viên chức làm việc
tại các cơ quan hành chính Nhà nước; đồng thời góp phần hình thành các kỹ năng
về quản lý con người, quản lý tài sản... Các kỹ năng chủ yếu được hình thành thông
qua các nội dung của môn học có sự lồng ghép của giảng viên.
2. Trình bày lý do mà cá nhân quyết định tham dự khoá bồi dưỡng;
Trường học là đơn vị hành chính sự nghiệp, nằm trong nền hành chính quốc
gia. Là một giáo viên kiêm tổ trưởng chuyên môm của trường, bản thân mới được
bồi dưỡng kiến thức về quản lý giáo dục; Vốn hiểu biết về Nhà nước và quản lý
hành chính nhà nước còn còn hạn chế. Tôi quyết định tham gia lớp bồi dưỡng
chuyên viên k22 do Bộ Nội Vụ đào tạo để nâng cao kiến thức và năng lực của
mình; từ đó vận dụng vào thực tiễn công tác tại đơn vị.
3. Giới thiệu về cấu trúc nội dung, chương trình khoá bồi dưỡng;
Nội dung chương trình khóa bồi dưỡng về Quản lý hành chính Nhà nước
dành cho chuyên viên gồm 3 phần :
Phần I: Nhà nước và Pháp luật
Phần II : Hành chính nhà nước và công nghệ hành chính
Phần III : Quản lý Nhà nước đối với ngành, lĩnh vực.
4. Cấu trúc, nội dung của Tiểu luận tình huống giáo dục.
Để đóng góp một số kinh nghiệm của mình cho lĩnh vực Giáo dục đồng thời ứng
cháu, sau đó báo cho bà cháu biết và ngay lập tức bà cháu đến trường lu loa lên, khi
nhận được thông tin đó ngay lập tức tôi về báo cáo lại với cô phó Hiệu Trưởng.
Trong khi đó bà T vẫn khóc lóc đòi cháu và bắt nhà trường phải sử lí cô giáo. Hiệu
trưởng hứa sẽ tìm hiểu thêm vụ việc và xử lý thấu tình đạt lý sự cố đã xảy ra. Tôi
về khoảng 20 phút sau thì bà họ của cháu lai cháu đến và khóc lóc chửi bới nhà
trường là trông nom như thế ah chúng mày về hết đi hôm nay tao phải cho mấy con
ở cái lớp này phải thôi việc, nếu như hôm nay mất cháu bà thật thì chúng mày sẽ
thế nào. Và bà đòi đuổi việc ba cô giáo đã để cháu chốn về. Thật sự là một tổ
trưởng và là một giáo viên đứng lớp đã 13 măm cũng có đôi chút kinh nghiệm tôi
tiếp cận bà họ của cháu là mẹ của bạn học tôi, đầu tiên tôi xoa dịu bằng những lời
nhẹ nhàng “ Bác hãy nể mặt con là bạn của thuận cũng như con của bác, không
mừng gì hơn là đã thấy cháu đó là cái mừng lớn của gia đình và của chúng con, bác
hãy nể mặt con và từ từ nói chuyện, Hiệu trưởng trường con sẽ giải quyết thỏa đáng
cho bác, và rót một cốc nước mời bác ấy uống với vẻ mặt thân thiện và mong thông
cảm, lúc đầu bà vẫn nhẩy lên nói mày không phải bênh để tao cho chúng nó một
chận, nhưng sau đó có sự tác động của tôi bà cũng ngồi cùng ban giám hiệu, tiếp
sau đó tôi tiếp cận đến các bà hàng xóm của cháu bé mà tôi biết nhờ các bà tác
động đến bà và mẹ của cháu bé để họ chấn tĩnh lại và vào phòng BGH để giải
quyết. Đồng thời Hiệu trưởng trường hứa sẽ sử lí thỏa đáng nên bà T bớt giận và ra
về hẹn giải quyết vụ việc vào buổi chiều, không yêu cầu gặp ngay cô Nguyễn Thị
Hồng G nữa.
Ngay sau đó buổi họp đột xuất được triệu tập các cô giáo của lớp đó và đại
diện mỗi lớp một cô lên đại diên họp và cho ý kiến. Hiệu trưởng đã mời cô Nguyễn
Thị Hồng G và 2 cô giáo khác đến tại văn phòng để tìm hiểu vụ việc. Qua trao đổi,
cô Nguyễn Thị Hồng G xác nhận là do cháu mới đến và vừa đầu năm học nên cô đã
chưa nắm vững được tính cách của cháu và từ hôm đi học do cháu chưa quen nên
khóc suốt các cô giáo phải thay nhau giỗ dành sự việc dẫn đến cháu chốn về có thể
là do các cô sơ xểnh khi phải chuẩn bị bài cho các con hoạt động nên nhãng đi vì
lớp của cháu sát cạnh cổng nên cháu lẻn ra ngoài khi gv không để ý. Như vậy nhà
trường phải sớm giải quyết vấn đề trên để bà T không lại trường la lối làm mất uy
việc. Bản thân em P cũng hay khóc và cũng đã nhiều lần chốn ra khỏi lớp nhưng
được cô giáo phát hiện và đưa về lớp.
Trước việc này Hiệu trưởng trao đổi với các P.Hiệu trưởng, Tổ trưởng
chuyên môn là tôi và đưa ra nhận định.
- Cách quản lí trẻ của Cô G là chưa đủ trách nhiệm, dựa vào các căn cứ sau đây:
+ Quyết định số 16 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc quy định đạo đức Nhà giáo: Điều 4 có nêu Nhà
giáo phải “Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà
giáo; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và
trong công tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng đối xử hoà nhã với người học,
đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của
người học, đồng nghiệp và cộng đồng”.
Với quy tắc đã nêu trên đây chúng ta hy vọng rằng công tác chăm sóc giáo dục học
sinh sẽ có những bước chuyển biến mới. Tuy nhiên việc chăm sóc giáo dục trẻ
không chỉ dựa vào nhà trường mà gia đình phải cực kì quan tâm đến con em mình
để việc chăm sóc giáo dục nhân cách cho trẻ được phát triển một cách toàn diện và
không dẫn đến những tình huống tương tự mà tôi vừa nêu trên, bởi vậy giáo dục là
cả một quá trình và không thể chỉ thực hiện bởi giáo viên chủ nhiệm, BGH và các
tổ chức đoàn thể trong trường. Chính vì vậy chỉ có sự gắn kết của các bậc phụ
huynh, các tổ chức xã hội cùng quan tâm ủng hộ nhà trường mới có thể tin tưởng
đạt được kết quả tích cực và bền vững.
Nói về quy tắc 2T:
Chính tâm huyết và trách nhiệm sẽ giúp cho giáo viên có được năng lực “cảm hóa”
những học sinh “chưa ngoan” chưa quen trường lớp nói riêng. Đó là năng lực gây
ảnh hưởng trực tiếp của mình đến với học sinh về mặt tình cảm và ý chí. Tâm huyết
và trách nhiệm nằm trong nhân cách của mỗi cô giáo. Giáo viên chủ nhiệm phải
dùng lòng nhân ái lòng yêu thương của mình để tác động vào các con
nhiệm, tuy nhiên hậu quả chưa nghiêm trọng, có thể khắc phục được. Về phía phụ
huynh học sinh xử sự như vậy là không đúng, quá nóng nảy và xúc phạm đến giáo
viên, thiếu thiện chí trong việc phối hợp với giáo viên trong giáo dục học sinh.
Tình huống đã nêu là tình huống QLNN đồng thời là Tình huống giáo dục vì vấn
đề đã xẩy ra, trong đời sống nhà trường, lớp học, trong gia đình, ngoài cộng đồng
và xã hội.
Những yêu cầu mang tính định hướng cho việc giải quyết tình huống giáo
dục:
-
Đặt lợi ích của các con lên hàng đầu như Bác Hồ của chúng ta đã nói“vì lợi
ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người „
-
Người Quản lý Giáo dục phải khách quan, công bằng khi giải quyết vấn đề/
tình huống.
III. Xử lý tình huống:
Để xử lý tình huống QLNN nói chung và tình huống Quản lý Giáo dục nói
riêng phải qua các bước sau:
Hình 1: Sơ đồ các bước giải quyết tình huống về Giáo dục
1/ Xác định mục tiêu xử lý tình huống:
Qua thu thập thông tin, nhận dạng vấn đề, Ban Giám Hiệu. Tổ chuyên môn
và giáo viên chủ nhiệm thống nhất phải giải quyết mâu thuẫn đã phát sinh (mâu
thuẫn giữa giáo viên và bà Trần Thị T), không để bà T đến trường chửi mắng giáo
viên làm mất uy tín giáo viên và nhà trường, ảnh hưởng đến tính trang nghiêm của
nhà trường, đồng thời phải làm cho giáo viên thấy được sai sót trong cách quản lí,
*Phương án 2:
+ Mục tiêu của phương án:
Giải quyết mâu thuẫn giữa Cô G và bà T; giữ uy tín giáo viên và nhà trường; đề
cao vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc phối hợp giữa nhà trường
và gia đình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ, qua giải quyết vụ việc giáo viên
chủ nhiệm thấy rõ tầm quan trọng của mình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ từ
đó tinh thần trách nhiệm được nâng cao. Mục tiêu cần đạt là các bên có liên
quan trong vụ việc nhận ra thiếu sót của mình để sửa chữa tiến tới sự cộng tác
tốt hơn giữa nhà trường và phụ huynh học sinh.
+ Nội dung của Phương án 2:
Nhà trường giao cho giáo viên chủ động mời, Bà T. Giáo viên chủ nhiệm đóng
vai trò để giải quyết tình huống.
Ưu điểm của Phương án 2:
Đề cao vai trò của GVCN lớp đồng thời giảm bớt áp lực công việc cho BGH;
Không tạo sức ép tâm lý lên giáo viên, giải quyết vụ việc nhẹ nhàng;
Gợi lòng vị tha, tinh thần phối hợp của phụ huynh học sinh với nhà trường;
Giải quyết có lý, có tình;
Giáo viên yên tâm công tác và nâng cao ý thức chấp hành các quy định của nhà
nước.
Chăm sóc giáo dục trẻ được tốt hơn.
+ Hạn chế của Phương án 2:
Phụ thuộc nhiều vào uy tín, khả năng hòa giải của GVCN lớp
* Phương án 3:
+Mục tiêu của phương án:
Dựa trên các văn bản pháp lý về xử phạt nhà trường có hình thức cảnh cáo , nhắc
nhở đối với giáo viên lớp 3C1 trước toàn trường để làm gương cho những giáo
viên khác nhằm giữ uy tín giáo viên và nhà trường. Làm cho GV trong trường
có ý thức tốt hơn nữa trong việc chấp hành kỷ cương nề nếp
để sửa chữa tiến tới sự cộng tác tốt hơn giữa nhà trường và phụ huynh học sinh.
Không yêu cầu chính quyền địa phương kiểm điểm bà T và cô G.
2.2. Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện Phương án 2
+ Các bước thực hiện phương án:
Bước 1: Hiệu trưởng giao cho tổ trưởng sinh hoạt lại các quy định về quy chế
chuyên môn cho toàn thể giáo viên nói chung và cho cô G nói riêng.
Giáo viên vi phạm nội quy, quy chế, quy định trong trường có nhiều
nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do giáo viên còn chủ quan trong việc
chăm sóc giáo dục trẻ, Phòng Giáo Dục cũng vừa tập huấn cho tất cả giáo viên
trong huyện về thưc hiên quy chế nuôi dạy trẻ.
Bước 2: Nhận định tình hình
Giáo viên chủ nhiệm báo cáo tình hình lớp, báo cáo vụ việc nêu trên cho
Hiệu trưởng vào chiều cuối tuần (thứ 6). Hiệu trưởng và GVCN: nhận định bà T
đến trường chửi bới là có bức xúc thực sự, đành rằng phản ứng của chị T là quá
đáng. Cô G quản trẻ như vậy là chưa đúng. Hiệu trưởng và GVCN cũng thống
nhất giải quyết các bước tiếp theo
Bước 3: Ban Giám hiệu và tổ trưởng trực tiếp gặp bà T (nhà bà T gần trường) trao
đổi tình hình của em P, đề nghị bà cần thông cảm với giáo viên, nói rõ chủ
trương quan điểm của nhà trường, của ngành GD về việc giáo dục đạo đức học
sinh và hẹn bà T ngày giờ lại trường để giải quyết công việc.
Được Hiệu trưởng nhà trường góp ý, cô G là có sơ xuất, mặt khác em P cũng có lỗi,
bà T cũng nóng nảy thành thử có ứng xử không tốt… bà T suy nghĩ lại và vui
vẻ nhận lời dự họp với tổ trưởng và Cô G để hòa giải.
Bước 4: Giáo viên chủ nhiệm lớp 6C tổ chức họp giải quyết vụ việc.
Tổ trưởng chủ trì cuộc họp (bà T, cô G ) để giải quyết vụ việc và báo cáo kết quả
cho BGH.
- Tổ trưởng tuyên bố lý do họp, tuyên bố mình được Hiệu trưởng ủy quyền giải
quyết vụ việc.
giáo dục học sinh. Một số ít Phụ huynh học sinh thiếu tôn trọng thầy, cô giáo do
thiếu hiểu biết.
Việc cô Nguyễn Thị Hồng G, Trường mầm non huyện thanh oai đã lơ là
trong việc quản lí trẻ là không đúng, vi phạm quy chế của ngành. Việc bà Trần Thị
T lại trường chửi bới giáo viên là hành động sai và cần phê phán.
Trước tình huống đã diễn ra như trên, nhà trường đã chọn phương án giải
quyết đã nêu là có tình, có lý giải quyết khá trọn vẹn vấn đề. Những người trong
cuộc đều hài lòng. Giáo viên và phụ huynh học sinh đều nhận ra sai sót và cùng
mong hai phía thông cảm cho nhau, uy tín giáo viên, kỷ luật kỷ cương nhà trường
được giữ vững, phụ huynh nhận thức được thiếu sót và có hướng khắc phục tốt.
Về phía nhà trường cũng cần tuyên truyền trong nhân dân, trong Ban đại
diện cha mẹ học sinh để họ thấy được vai trò, nhiệm vụ của họ trong việc tham gia
giáo dục học sinh.
Với tiểu luận này, người viết mong muốn góp một ý kiến nhỏ trong việc
giáo dục học sinh để chia sẻ với các bạn đồng nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Đảng Cộng Sản Việt Nam - Nghị quyết 2, Ban Chấp hành Trung Ương Đảng
Khoá VIII.NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
2.
Đảng Cộng Sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX.
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.
3.
9.
Học viện Hành chính Quốc gia - Quản lý nhà nước trong các lĩnh vục xã
hội. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997.
10.
Học viện Hành chính Quốc gia - Quản lý nhà nước nguồn nhân lục. NXB
Giáo dục, Hà Nội, 1997.
11.
Hồ Chí Minh - Về vấn đề giáo dục. NXB Giáo dục, Hà Nội,1990.
12.
Luật giáo dục. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.
13.
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 được Quốc hội Nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày
15/6/2004
14.
GS-TS Nguyễn Duy Quý – Phát triển con người, tạo nguồn nhân lực, tạo
nguôn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước. Tạp
chí Công sản số 19, tháng 10/1998.
Tài liệu học tập lớp bồi dưỡng kiến thức Chuyên viên chính
21.
Thông tư số 08/TT ngày 21/3/1988 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT hướng dẫn
về việc khen thưởng và thi hành kỷ luật học sinh của các trường phổ thông
22.
/>option=com_content&view=article&id=125:nam-quy-tac-giao-duc-hocsinh-chua-ngoan&catid=56:tin-giao-duc&Itemid=142
23.
/>