MỞ ĐẦU
Người phụ nữ Việt Nam hiện nay vừa là con người của lao động, con
người của nội trợ, con người của chiến sỹ. Trong đó con người lao động và con
người nội trợ ở trong mỗi người phụ nữ Việt Nam mới chính là hình ảnh thường
hằng về họ. Con người chiến sĩ lúc nổi lên thật rạng rỡ, nhưng nhiều lúc vẫn lẩn
vào trong con người lao động và nội trợ và mang cốt cách của hai con người
này. Phong thái bao trùm cốt cách và tâm hồn cơ bản của người phụ nữ Việt
Nam, đấy là sự bình dị, là lòng nhân ái, là ân tình và yêu thương đằm thắm.
Chính những điều đó đã làm cho con người phụ nữ Việt Nam cần cù, tỉ mỉ, nhẫn
nại dẻo dai, tằn tiện, chịu khó, chịu khổ mà lao động đảm đang. Bản thân người
phụ nữ dường như không còn thấy đặt ra nhu cầu hưởng thụ gì to tát, nhưng
chính là vì chồng con, họ hàng rồi làng xóm, vì đất nước - dân tộc. Vì thương
yêu tất cả mà họ lao động cũng chính với tấm lòng trung hậu, và luôn phát huy
bản chất của người phụ nữ Việt Nam " Trung hậu đảm đang Trong công tác xã
hội người phụ nữ đã phát huy được hết khả năng của mình, đảm nhận nhiều
cương vị cao trong xã hội và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Nền tảng của sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam là dựa ừên nguồn
nhân lực của chính mình, chính vì vậy vấn đề dân số có quan hệ mật thiết, chặt
chẽ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, hệ thống các chính sách
dân số là một bộ phận của chiến lược phát triển xã hội, chiến lược phát triển
kinh tế xã hội phải gắn liền một cách hữu cơ với các chính sách phát triển kinh
tế, văn hoá, dân số, bảo vệ môi trường.
Qua học tập lớp Bồi dưỡng kiến thức Quản lý Nhà nước tổ chức, tôi đã
được trang bị những kiến thức cơ bản về quản lý Nhà nước trên tất cả các mặt
của xã hội nói chưng và Quản lý Nhà nước về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình
nói riêng. Quản lý Nhà nước về công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình nhằm
mục tiêu ổn định Dân số để phát triển kinh tế xã hội, nâng cao chất lượng cuộc
sống của từng người, từng gia đình và toàn thể xã hội đưa đất nước ngày càng
phồn vinh giàu đẹp. Bản thân là một người phụ nữ vì vậy để đảm bảo quyền lợi
nhà chồng. Khi cơ quan phát hiện việc chị K có thai cháu thứ ba thì đã quá
muộn và không thể can thiệp bằng biện pháp y học được vì sức khoẻ của chị K
rất yếu.
Sau khi chị K sinh con, Hội phụ nữ huyện yêu càu chị K phải nghỉ việc
với lý do: Chị K là một cán bộ làm công tác phong trào nhưng bản thân lại vi
phạm cuộc vận động về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình. Do vậy, việc để chị K
tiếp tục ở lại Hội phụ nữ công tác là không thể được và vì chị K đã không
gương mẫu thực hiện, lại không thuyết phục được gia đình trong việc thực hiện
công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình và xoá bỏ tư tưởng lạc hậu trọng nam
khinh nữ.
Nhận được quyết định buộc thôi việc, chị K đã làm đơn kiện gửi lên Hội
phụ nữ tỉnh và Liên đoàn lao động tỉnh yêu cầu các cơ quan chức năng can thiệp
để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Chị K cho rằng mình bị buộc phải thôi
việc là rất vô lý vì Hội phụ nữ huyện, UBND huyện chỉ căn cứ vào vào Nghị
quyết của Hội đồng nhân dân huyện buộc chị K phải thôi việc trong khi luật
pháp không có điều khoản nào quy định nếu đẻ dầy, đẻ nhiều quá quy định thi
sẽ bị luật pháp xử phạt.
Sau khi nhận được đơn khiếu kiện của chị K. UBND tinh A đã cử một tổ
công tác xuống làm việc tại huyện H, nơi chị K công tác để xem xét làm rõ
nguyên nhân vì sao chị K buộc phải thôi việc và quyết định buộc thôi việc ấy
dựa vào căn cứ nào.
Tổ công tác đã về huyện H để gặp chị K và gia đình chị để tìm hiểu
nguyên nhân vi sao chị K lại sinh con thứ ba trong khi mình lại là một cán bộ
Hội đi tuyên truyền vận động người khác thực hiện chính sách Dân số - Kế
hoạch hoá gia đình. Qua nghiên cứu các văn bản, các Nghị quyết của Hội đồng
dân nhân huyện H có đề cập đến công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình tại địa
phương, xem xét việc tổ chức triển khai thực hiện của UBND huyện đối với các
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Sau khi đã thu thập đầy đủ các chứng cứ, tổ
gia đình ( sinh con thứ ba) sẽ bị thôi việc.
Khi nhận được văn bản của Hội phụ nữ huyện H đề nghị xử lý kỷ luật đối
với chị K. UBND huyện H đã xem xét và căn cứ vào Nghị quyết số 32/NQ-HĐ
của Hội đồng nhân dân huyện H đã ra quyết định buộc thôi việc đối với chị K.
Quyết định buộc thôi việc đối với chị K làm cho nhiều người không đồng tình.
về mặt lý luận chúng ta thấy: Quyết định hành chính là kết quả của sự thể
hiện ý chí, quyền lực đơn phương của cơ quan hành chính Nhà nước, những
viên chức Nhà nước được trao thẩm quyền và của các tổ chức khác khi Nhà
nước uỷ quyền, được ban hành trên cơ sở luật và nhằm thực hiện luật theo trình
tự và hình thức văn bản hoặc văn nói theo quy định của pháp luật. Mục tiêu của
quyết định hành chính là nhằm định ra chính sách, đặt ra, sửa đổi các quy phạm
pháp luật hành chính hoặc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp
luật hành chính cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của quyền hành
pháp của Nhà nước. Quyết định hành chính phải đảm bảo được những tính chất
cụ thể như sau:
- Có tính ý chí quyền lực Nhà nước là kết quả của sự thể hiện ý chí của
các cơ quan hành chính có thẩm quyền thực hiện nhân danh quyền lực Nhà
nước.
- Có tính pháp lý, thể hiện ở hiệu quả pháp lý của nó. Quyết định hành
chính tác động vào đời sống xã hội bằng việc định ra chính sách, đặt ra, sửa đổi,
bãi bỏ các quy phạm pháp luật hành chính, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt
quan hệ pháp luật hành chính cụ thể.
- Có tính dưới luật, nghĩa là nội dung của quyết định hành chính phải phù
họp với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, được ban
hành theo trinh tự và hình thức do pháp luật quy định.
Như vậy, Quyết định hành chính Nhà nước là tín hiệu điều khiển, là thông
tin quy phạm của các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước tác động vào khách
thể để thực hiện mục đích của mình đề ra theo quỹ đạo và ý chí của mình. Bên
- Các quyết định hành chính phải được ban hành trong phạm vi thẩm
quyền cơ quan hoặc chức vụ. Yêu cầu này đòi hỏi mỗi cơ quan chỉ có quyền hạn
ban hành quyết định giải quyết các vấn đề nhất định do pháp luật giao cho,
không lạm quyền và lẩn tránh trách nhiệm. Việc phân định rõ thẩm quyền của
mỗi cơ quan Nhà nước đảm bảo cho cơ quan thực hiện trách nhiệm một cách
chủ động.
Quyết định hành chính hợp lý, thì mới có khả năng thực thi cao. Nhưng
7
-
-
phải nhấn mạnh rằng chỉ xem xét quyết định hành chính có họp lý hay không
khi nó họp pháp; nghĩa là trước hết nó phải họp pháp. Không thể vì lý do hợp lý,
phù hợp với nhu càu của địa phương, cơ sở mà coi thường tính hợp pháp của
quyết định.
Từ những căn cứ lý luận nêu trên cho thấy Hội đồng nhân dân huyện H ra
Nghị quyết buộc thôi việc nếu vi phạm chính sách Dân số - Kế hoạch hoá gia
đình là sai với luật vi không có điều khoản nào ừong các bộ luật của Nhà nước
ta ban hành quy định như vậy. Và tương tự như vậy thì UBND huyện H ra quyết
định kỷ luật căn cứ vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân là trái luật pháp.
Qua sự việc trên cho thấy Hội đồng nhân dân Tỉnh A và các cơ quan Nhà
nước cấp tỉnh chưa chủ động và chưa tiến hành một cách thường xuyên trong
công tác thanh tra, kiểm tra.
Phải coi công tác thanh tra, kiểm tra không chỉ là việc của riêng người
quản lý chuyên nghiệp mà là sự nghiệp của quần chứng. Quần chứng là tai mắt
của lãnh đạo. Việc dựa vào quần chúng, dựa vào nhân dân lắng nghe và phân
tích dư luận xã hội có ý nghĩa thiết thực trong việc tổ chức, kiểm tra thực hiện
quyết định quản lý Nhà nước và phát hiện những sai sót trong công tác quản lý.
-
10
-
CHƯƠNG III XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
3.1.
Mục tiêu xử lý tình huống
Thông qua phân tích diễn biến tình huống và những quy định hiện hành
của Nhà nước có liên quan, mục tiêu xử lý tình huống được đưa ra đó là: Xử lý
dứt điểm, hợp tình họp lý vụ việc, không để kéo dài thời gian khiếu nại của chị
Nguyễn Thị K.
3.2.
Xây dựng và lưa chọn phương án xử lý
Để xử lý tình huống trên có lý, có tình phải lựa chọn các phương án giải
quyết sau:
- Một là: Chấp nhận quyết định của UBND huyện H buộc thôi việc đối
với chị K.
- Hai là: Đình chỉ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, để chị K trở
lại tiếp tục công tác và xắp xếp cho chị K công việc phù hợp.
Nếu chấp nhận phương án thứ nhất thì coi như chúng ta đã chấp nhận việc
ra nghị quyết, quyết định sai trái của Hội đồng nhân dân, UBND huyện H và
nếu như vậy thì sẽ bảo vệ được cơ quan cấp dưới. Nhưng sẽ không có lợi vì Hội
đồng nhân dân và UBND huyện H không thấy được sự non kém của mình về
năng của huyện rút kinh nghiệm trong việc chuẩn bị ban hành văn bản và lãnh
đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hoá gia đình có hiệu quả
góp phần thực hiện chiến lược Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, càn lưu ý trong
quá trình thực hiện phải áp dụng đồng bộ hệ thống các chính sách và biện pháp
như: Những chính sách và biện pháp tổ chức giáo dục, kinh tế, tài chính, y tế và
biện pháp hành chính, pháp luật. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện các chính
sách và biện pháp tổ chức giáo dục, kinh tế, tài chính, y tế và biện pháp hành
chính, pháp luật. Trong quá tình chỉ đạo thực hiện các chính sách và biện pháp
Dân số- Kế hoạch hoá gia đình cần chú trọng quán triệt nguyên tắc tự nguyện,
không thô bạo, ép buộc, có nghĩa là phải quan tâm hàng đầu đến những chính
sách và biện pháp giáo dục, tổ chức.
3.4. Kiến nghị
Xuất phát từ sự việc xảy ra tinh huống như đã trình bày ở phàn trẽn. Với
góc độ quản lý hành chính Nhà nước, để việc ra các văn bản quy phạm của các
cấp có thẩm quyền không trái với Hiến pháp và luật, việc tổ chức thực hiện của
các cấp có tính khả thi cao:
- Đề nghị UBND Tỉnh cho tiến hành rà soát các văn bản đã được ban
hành nếu văn bản nào không đúng quy định thì phải kiên quyết và kịp thời sửa
đổi, bổ xung, hoặc bãi bỏ, đình chỉ thi hành. Văn bản nào đúng thì tiếp tục thực
12
-
-
hiện.
- Tăng cường công tác tuyên truyền vận động quần chúng làm cho quàn
chúng hiểu và nhận thức đầy đủ, sâu sắc chiến lược Dân số - Kế hoạch hoá gia
đình của Đảng và Nhà nước ta, qua đó thấy được lợi ích của việc thực hiện Kế
có hạn nên bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự
quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp./.
Tôi xin trân trọng cảm ơn./.
-
14
-
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 được Quốc hội nước cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008.
-
15
-