ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––
NÔNG VĂN THÙY
NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ VẢI THIỀU
HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––––
NÔNG VĂN THÙY
NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ VẢI THIỀU HUYỆN
THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
LỜI CAM ĐOAN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐÀO THANH VÂN
MỤC LỤC
TS. NGUYỄN HỮU THỌ
2.2.2. Thực trạng trồng vải thiều huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương;............. 26
2.2.3. Phân tích chuỗi giá trị vải thiều huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương với
các nội dung sau: ............................................................................................. 26
ii
2.2.4. Giải pháp nhằm thúc đẩy chuỗi giá trị vải thiều huyện Thanh Hà tỉnh
Hải Dương ....................................................................................................... 26
2.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 27
2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin ............................................................ 27
2.3.2. Phương pháp phân tích số liệu .............................................................. 29
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu .......................................................................
30
2.4. Hệ thống chỉ tiêu phân tích ...................................................................... 30
2.4.1. Chỉ tiêu điều kiện sản xuất .................................................................... 30
2.4.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất vải thiều .............................. 30
2.4.3. Những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế ............................................ 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN........................ 32
3.1. Khái quát đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện
Thanh Hà tỉnh Hải Dương............................................................................... 32
3.1.1. Đặc điểm về tự nhiên ............................................................................ 32
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ...................................................................... 34
3.2. Thực trạng sản xuất vải thiều huyện Thanh Hà giai đoạn 2014-2016 ..........
38
3.2.1. Quá trình phát triển SX vải thiều .......................................................... 38
3.2.2. Diện tích trồng vải thiều huyện Thanh Hà tại 3 xã điều tra .................. 42
3.2.3. Tình hình tiêu thụ vải thiều huyện Thanh Hà ....................................... 42
3.3. Thực trạng chuỗi giá trị vải thiều huyện Thanh Hà ................................. 45
3.3.1. Các tác nhân tham gia chuỗi giá trị....................................................... 45
Uỷ ban nhân dân
BCĐ
Ban chỉ đạo
PTNT
Phát triển nông thôn
ĐBSCL
Đồng Bằng Sông Cửu Long
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Thanh Hà năm 2016....................... 34
Bảng 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng vải thiều huyện Thanh Hà giai đoạn
2014-2016........................................................................................................ 41
Bảng 3.3: Diện tích trồng vải thiều tại 3 xã điều tra huyện Thanh Hà năm
2016 ................................................................................................................. 42
Bảng 3.4: Tình hình cơ bản của hộ trồng vải thiều huyện Thanh Hà năm
2017 ......................................................................................................... 45
Bảng 3.5. Đặc điểm cơ bản của hộ điều tra .................................................... 46
Bảng 3.6: Chi phí, doanh thu và lợi nhuận sản xuất hộ nông dân trồng vải
thiều năm 2017 (tính cho 1 sào) ...................................................................... 48
Bảng 3.7: Chi phí, giá bán, lợi nhuận của công ty thu mua vải thiều năm
2017 ......................................................................................................... 49
Bảng 3.8: Chi phí, giá bán, lợi nhuận của thương lái, .................................... 50
Hải Dương, vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng Bắc Bộ với lợi thế thuộc
vùng phù sa sông Thái Bình, thích hợp để phát triển cây vải thiều đã nổi
tiếng từ lâu. Tuy nhiên, những năm gần đây, việc tiêu thụ sản phẩm vải thiều
ở Thanh Hà đang phải đối mặt với những thách thức “được mùa nhưng rớt
giá” còn xảy ra khá phổ biến, thị trường xuất khẩu chưa được nhiều, chuỗi
giá trị giữa các khâu trong sản xuất như thu hoạch, vận chuyển, bảo quản,
tiêu thụ, chế biến... chủ yếu là do nông dân và tư thương tự thực hiện, chưa
tổ chức thành hệ thống, giá trị ràng buộc, trách nhiệm và lợi ích giữa nông
dân và doanh nghiệp thiếu chặt chẽ, còn vải quả chưa đảm bảo VSATTP.
Khâu chế biến chưa được quan tâm thoả đáng, chủ yếu vải đem sấy khô, chất
lượng thấp, thị trường chủ yếu bán đi Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch nên
không ổn định. Tuy nhiên, trong quá trình tiêu thụ có hàng loạt câu hỏi đặt
ra như: Thực trạng tiêu thụ vải thiều ở huyện Thanh Hà trong những năm qua
hoạt động như thế nào? đặc biệt là các tác nhân trong việc tiêu thụ? Diện
tích, năng suất, giá bán, thời gian tiêu thụ, thị trường tiêu thụ nào có hiệu quả
nhất? Những tác động ảnh hưởng đến chuỗi vải thiều ở huyện Thanh Hà?
Giải pháp nào để nâng cao giá trị chuỗi vải thiều ở Thanh Hà trong những
năm tới ? Nhằm làm sáng tỏ những câu hỏi trên và góp phần phát triển tiêu
thụ vải thiều ở huyện Thanh Hà những năm tới, được sự đồng ý của khoa
KT và PTNT, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu chuỗi giá trị vải
thiều huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị;
- Phân tích thực trạng chuỗi giá trị vải thiều huyện Thanh Hà tỉnh
Hải Dương;
- Chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong của các tác nhân trong
chuỗi giá trị vải thiều huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương ;
- Đề xuất giải pháp để nâng cao giá trị vải thiều huyện Thanh Hà tỉnh
tả hoạt động có liên quan đến quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng (có
thể là sản phẩm hoặc là dịch vụ) (Trần Tiến Khai, 2000)
b. Khái niệm chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị theo nghĩa “hẹp” là một chuỗi gồm một loạt những hoạt
động trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định. Các hoạt động
này có thể bao gồm: Giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua
đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi v.v.
Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với
người tiêu dùng. Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung “giá trị” cho thành
phẩm cuối cùng. Chẳng hạn như khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ hậu mãi và
sửa chữa cho một công ty điện thoại di động làm tăng giá trị chung của sản
phẩm. Nói cách khác, khách hàng có thể sẵn sàng trả cao hơn cho một điện
thoại di động có dịch vụ hậu mãi tốt. Cũng tương tự như vậy đối với một thiết
kế có tính sáng tạo hoặc một quy trình sản xuất được kiểm tra chặt chẽ. Đối
với các doanh nghiệp nông nghiệp, một hệ thống kho phù hợp cho các nguyên
liệu tươi sống (như trái cây) có ảnh hưởng tốt đến chất lượng của thành phẩm
và vì vậy, làm tăng giá trị sản phẩm. (Trần Tiến Khai, 2000)
Chuỗi giá trị theo nghĩa “rộng” là một phức hợp các hoạt động do nhiều
người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất, người chế biến, thương
nhân, người cung cấp dịch vụ v.v.) để biến một nguyên liệu thô thành một sản
phẩm bán lẻ. Chuỗi giá trị “rộng” bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu
thô và chuyển dịch theo các mối giá trị với các doanh nghiệp khác trong kinh
doanh, lắp ráp, chế biến,… (Lambert và Cooper,1997)
Khái niệm chuỗi giá trị bao hàm các vấn đề về tổ chức và điều phối,
các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau
trong chuỗi. Khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi một phương pháp
tiếp cận thấu đáo về những gì đang diễn ra giữa những người tham gia trong
chuỗi, những gì giá trị họ với nhau, những thông tin nào được chia sẻ, quan hệ
phân phối nông sản thực phẩm bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin diễn
ra đồng thời. Chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm khác với chuỗi cung ứng
của các ngành khác ở các điểm như sau:
- Bản chất của sản xuất nông nghiệp thường dựa vào quá trình sinh học,
do vậy làm tăng biến động và rủi ro.
- Bản chất của sản phẩm, có những đặc trưng tiêu biểu như dễ dập thối
và khối lượng lớn, nên yêu cầu chuỗi khác nhau cho các sản phẩm khác nhau.
- Thái độ của xã hội và người tiêu dùng quan tâm nhiều về thực phẩm
an toàn và vấn đề môi trường.
c. Ngành hàng
Vào những năm 1960, phương pháp phân tích ngành hàng (Filière)
được sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất
nông nghiệp. Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các
hệ thống sản xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến,
thương mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản. Bước sang những năm 1980,
phân tích ngành hàng được sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề
chính sách của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển
và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng. (Philip
Kortler, 2013)
Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong
nghiên cứu ngành hàng. “Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởi các
tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản
phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bên ngoài”.
(Philip Kortler, 2013)
Như vậy, nói đến ngành hàng là ta hình dung đó là một chuỗi, một quá
trình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố động, có
quan hệ móc xích với nhau. Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thể
ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác. Trong quá trình vận
về các chủ thể của chuỗi. Lập bản đồ chuỗi có thể nhưng không nhất thiết
phải bao gồm cấp độ vĩ mô của chuỗi giá trị.
Khung phân tích của Porter
Trường phái nghiên cứu thứ hai liên quan đến công trình của Micheal
Porter (1985) về các lợi thế cạnh tranh. Porter đã dùng khung phân tích chuỗi
giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị
trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ
cạnh tranh khác. Ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể
được tóm tắt như sau: Một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một mặt
hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình
nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí) như thế nào? Cách khác
là làm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà khách
hàng sẵn sàng mua với giá cao hơn (chiến lược tạo sự khác biệt)?
Trong bối cảnh này, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như một
khung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế
cạnh tranh (thực tế và tiềm tàng) của mình. Đặc biệt, Porter lập luận rằng các
nguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổng
thể. Một công ty cần được phân tách thành một loạt các hoạt động và có thể
tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) những hoạt động đó.
Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm giá
trị cho sản xuất hàng hoá (hoặc dịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnh
hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm. (Porter, 1985)
Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng
với ý tưởng về chuyển đổi vật chất. Porter giới thiệu ý tưởng theo đó tính
cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất. Tính
cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phân tích bằng cách xem xét chuỗi giá trị
bao gồm thiết kế sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần, hậu cần bên ngoài,
tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ như lập kế hoạch
Hình 1.2. Hệ thống giá trị của Porter (1985)
1.1.2. Các công cụ phân tích chuỗi giá trị
Trong quá trình phân tích chuỗi giá trị ngành hàng, tuỳ yêu cầu của
ngành hàng, có thể sử dụng các công cụ sau đây để phân tích:
1.1.2.1. Lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích
- Mục tiêu của công cụ này là: Trước khi tiến hành phân tích chuỗi giá
trị phải quyết định xem ưu tiên chọn tiểu ngành nào, sản phẩm hay hàng hóa
nào để phân tích. Vì các nguồn lực để tiến hành phân tích lúc nào cũng hạn
chế nên phải lập ra phương pháp để lựa chon một số nhất định các chuỗi giá
trị để phân tích trong số nhiều lựa chọn có thể được.
- Các bước tiến hành thực hiện công cụ này như sau:
Quá trình lập thứ tự ưu tiên tuân theo 4 bước như trong quy trình tiến
hành lựa chọn trong một tình huống có nguồn lực khan hiếm. Bốn bước này
bao gồm việc xác định một hệ thống các tiêu chí sẽ được áp dụng để lập thứ
tự ưu tiên các chuỗi giá trị, đánh giá tương đối mức độ quan trọng của các tiêu
chí đó, xác định các tiểu ngành, sản phẩm, hàng hóa tiềm năng có thể xem xét
và sau đó lập một ma trận để xếp thứ tự các sản phẩm theo các tiêu chí trên.
Lựa chọn ưu tiên cuối cùng có thể xác định dựa vào kết quả xếp loại đạt được.
1.1.2.2. Lập sơ đồ chuỗi giá trị
Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, chúng ta có thể
dùng các mô hình, bảng, số liệu, biểu đồ và các hình thức tương tự để nắm
được và hình dung được bản chất. Lập sơ đồ chuỗi giá trị là một cách để làm
cho những gì chúng ta nhìn thấy dễ hiểu hơn.
- Mục tiêu của việc thực hiện công cụ lập sơ đồ chuỗi bao gồm 3
mục tiêu sau:
+ Giúp hình dung được các mạng lưới để hiểu hơn về các kết nối giữa
các tác nhân và các quy trình trong một chuỗi giá trị.
công việc.
+ Bước 5: Lập sơ đồ dòng luân chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ về mặt
địa lý.
+ Bước 6: Xác định trên sơ đồ giá trị ở các cấp độ khác nhau của
chuỗi giá trị.
+ Bước 7: Lập sơ đồ các mối quan hệ và giá trị giữa những người tham
gia trong chuỗi giá trị.
+ Bước 8: Lập sơ đồ các dịch vụ kinh doanh cung cấp cho chuỗi giá trị.
1.1.2.3. Chi phí và lợi nhuận
Sau khi đã lập sơ đồ chuỗi giá trị, bước tiếp theo là nghiên cứu sâu một
số khía cạnh của chuỗi giá trị. Có rất nhiều khía cạnh có thể lựa chọn để
nghiên cứu tiếp. Một trong những số đó là chi phí và lợi nhuận, hay nói một
cách đơn giản hơn, là số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị bỏ ra
và số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị nhận được.
- Để xác định được chi phí và lợi nhuận, cần dựa vào một số câu hỏi
chính sau:
+ Chi phí, gồm cả chi phí cố định và thay đổi, của mỗi người tham gia
là gì và cần đầu tư bao nhiêu để tham gia một chuỗi giá trị?
+ Thu nhập của mỗi người tham gia trong chuỗi giá trị là bao
nhiêu? Nói cách khác, khối lượng bán và giá bán của mỗi người tham gia
là bao nhiêu?
+ Lợi nhuận thuần, lợi nhuận biên và mức hoà vốn của mỗi người tham
gia là bao nhiêu?
+ Vốn đầu tư, chi phí, thu nhập, lợi nhuận và lợi nhuận biên thay đổi
theo thời gian như thế nào?
+ Vốn đầu tư, chi phí, thu nhập, lợi nhuận và lợi nhuận biên được phân
chia giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị như thế nào?
+ Chi phí và lợi nhuận của chuỗi giá trị này thấp hơn hay cao hơn so
tác động của sự phân bổ thu nhập tới người nghèo và những nhóm người yếu
thế và tiềm năng đối với sự giảm nghèo từ các chuỗi giá trị khác nhau.
1.1.2.6. Phân tích việc làm trong chuỗi giá trị
Mục đích của việc phân tích này là: Để phân tích tác động của chuỗi
giá trị tới việc phân bổ việc làm giữa và trong các cấp khác nhau của chuỗi
giá trị ở cấp người tham gia cá nhân; Miêu tả sự phân bổ việc làm theo chuỗi
giá trị và trong số những tầng lớp giàu khác nhau và làm thế nào để người
nghèo và nhóm yếu thế có thể tham gia vào chuỗi; Miêu tả sự năng động của
việc làm trong và dọc theo chuỗi giá trị và sự bao gồm, tách rời người nghèo
và các nhóm yếu thế; Phân tích tác động của hệ thống quản trị khác nhau của
chuỗi giá trị đến sự phân bổ việc làm; Phân tích sự tác động của các chiến
lược nâng cao khác nhau của chuỗi giá trị lên sự phân bổ việc làm.
1.1.2.7. Quản trị và các dịch vụ
Việc phân tích quản trị và các dịch vụ nhằm điều tra các quy tắc hoạt
động trong chuỗi giá trị và đánh giá sự phân phối quyền lực giữa những người
tham gia khác nhau. Quản trị là một khái niệm rộng bao gồm hệ thống điều
phối, tổ chức và kiểm soát mà bảo vệ và nâng cao việc tạo ra giá trị dọc theo
chuỗi. Quản trị bao hàm sự tác động qua lại giữa những người tham gia trong
chuỗi là không ngẫu nhiên, nhưng được tổ chức trong một hệ thống cho
phép đáp ứng những đòi hỏi cụ thể về sản phẩm, phương pháp và hậu cần.
Ví dụ, việc tham gia thị trường quốc tế thường phụ thuộc vào sự tuân thủ
những quy định và chuẩn mực quốc tế; một hệ thống quản trị hiệu quả đảm
bảo rằng những chuẩn mực yêu cầu có thể được đáp ứng bởi tất cả các khâu
trong chuỗi. Phân tích quản trị và các dịch vụ có thể giúp xác định đòn bẩy
can thiệp nhằm tăng tính hiệu quả chung của chuỗi giá trị. Các quy tắc có thể
không được lập ra một cách đầy đủ và duy trì yếu, làm giảm các khả năng tạo
ra giá trị. Việc phân tích các dịch vụ và quản trị cũng có thể giúp đánh giá lợi
thế và bất lợi của các quy tắc đối với các nhóm khác nhau, do vậy khám
có thể được hưởng lợi nhờ được tổ chức và hỗ trợ nhiều hơn. Điều này đặc
biệt quan trọng trong bối cảnh của các nước đang phát triển (nhất là
nông nghiệp), với những lo ngại rằng người nghèo nói riêng dễ bị tổn thương
trước quá trình toàn cầu hóa (Kaplinsky và Morris 2001). Có thể bổ sung
phân tích này bằng cách xác định bản chất việc tham gia trong chuỗi để hiểu
được các đặc điểm của những người tham gia.
Thứ ba, phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việc
nâng cấp trong chuỗi giá trị. Nâng cấp gồm cải thiện chất lượng và thiết kế
sản phẩm giúp nhà sản xuất thu được giá trị cao hơn hoặc đa dạng hóa dòng
sản phẩm. Phân tích quá trình nâng cấp gồm đánh giá khả năng sinh lời của
các bên tham gia trong chuỗi cũng như thông tin về các cản trở đang tồn tại.
Các vấn đề quản trị có vai trò then chốt trong việc xác định những hoạt động
nâng cấp đó diễn ra như thế nào. Ngoài ra, cơ cấu của các quy định, rào cản
gia nhập, hạn chế thương mại, và các tiêu chuẩn có thể tiếp tục tạo nên và ảnh
hưởng đến môi trường mà các hoạt động nâng cấp diễn ra.
Thứ tư, phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản
trị trong chuỗi giá trị. Quản trị trong chuỗi giá trị nói đến cơ cấu các mối
quan hệ và cơ chế điều phối tồn tại giữa các bên tham gia trong chuỗi giá trị.
Quản trị quan trọng từ góc độ chính sách thông qua xác định các sắp xếp về
thể chế có thể cần nhắm tới để nâng cao năng lực trong chuỗi giá trị, điều
chỉnh các sai lệch về phân phối và tăng giá trị gia tăng trong ngành.
Như vậy, phân tích chuỗi giá trị có thể làm cơ sở cho việc hình thành
các chương trình, dự án hỗ trợ cho một chuỗi giá trị hoặc một số chuỗi giá trị
nhằm đạt được một số chuỗi kết quả phát triển mong muốn hay nó là động
thái bắt đầu một quá trình thay đổi chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh
theo hướng ổn định, bền vững. Trên quan điểm toàn diện, phân tích chuỗi giá
trị sẽ cho phép chỉ ra những tồn tại, bất cập trong quá trình hoạt động của
chuỗi, hạn chế trong quá trình giao dịch, phân phối lợi nhuận, mối giá trị và
tiêu thụ ở thị trường này.
Ngoài ra, Bắc Giang tiếp tục tập trung nâng cao sản lượng xuất khẩu
vào các thị trường: Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Malaysia; mở
rộng thị trường xuất khẩu sang Trung Đông, Thái Lan, Canada… Hiện nay,
đã có nhiều doanh nghiệp đăng ký thu mua vải thiều để đưa vào thị trường
Mỹ, Australia, EU… Năm 2017, dự kiến tổng sản lượng vải thiều tiêu thụ
trong nước khoảng 50.000 tấn, chiếm 50%; xuất khẩu khoảng 50.000 tấn.
Các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn phải tự mày mò, thậm chí từ khâu
trồng trọt, chăm sóc, thu hái đến sơ chế, đóng gói bảo quản để xuất khẩu.
Doanh nghiệp xuất khẩu chỉ mong muốn có một nhà sản xuất cung ứng được
thành phẩm trái vải thiều tươi, mang thương hiệu “Vải thiều Lục Ngạn” đủ
tiêu chuẩn xuất khẩu đi bất kỳ thị trường nào trên thế giới.
Trước thực trạng này, huyện Lục Ngạn đã mở rộng và tiến tới toàn bộ
diện tích trồng vải thiều được thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP,
GlobalGAP). Vận động bà con trồng vải tạo thành thói quen hạn chế dần và
tiến tới tuyệt đối không dùng phân bón hóa học mà chỉ dùng phân chuồng,
phân hữu cơ vi sinh để chăm sóc; sử dụng chế phẩm sinh học để bảo vệ cây
vải. Có như vậy, mới cung cấp không chỉ cho xuất khẩu mà còn cho cả người
dân Việt Nam những trái vải thiều có chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm,
dễ dàng truy xuất nguồn gốc.
1.2.2. Liên kết chuỗi giá trị cam sành huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
Được thành lập từ tháng 12/2015 với 16 thành viên tham gia, hiện nay,
HTX Cam sành Lục Yên có tổng diện tích 60 ha. Từ khi thành lập HTX, với