ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA SINH HỌC – CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐINH THỊ PHƯƠNG LINH
TẠO DÒNG, BIỂU HIỆN VÀ TINH SẠCH
TIỂU PHẦN BÁM DÍNH (RECEPTOR BINDING DOMAIN)
CỦA PROTEIN FIMH DUNG HỢP VỚI GFP
KHÓA LUẬN CỬ NHÂN KHOA HỌC
NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ SINH HỌC CÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
ThS. Nguyễn Thanh Thảo
CN. Nguyễn Thị Thanh Hòa
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
Lời cảm ơn
Tháng 10/2015 – tháng 7/2016, quãng thời gian tám tháng tuy không quá dài,
nhưng cũng vừa đủ để viết nên câu chuyện của tôi, một câu chuyện đối với tôi là hoàn
mỹ và bây giờ nó đang đi đến hồi kết. Khi một câu chuyện cũ kết thúc là một câu
chuyện mới sắp được viết ra, có thể nó tươi mới hơn và hấp dẫn tôi hơn. Nhưng trong
những cái gọi là sự “kết thúc”, bao giờ cũng có chút gì đó nuối tiếc.
Quãng thời gian được học tập và làm việc trong nhóm nghiên cứu GMIF đối
với tôi là điều tuyệt vời mà cuộc đời đã cho tôi, là điều quý giá mà mọi người dành
tại phòng thí nghiệm.
Cuối cùng, em xin cảm ơn Anh, người tuy không cùng máu mủ, nhưng lại xem
em như là ruột thịt. Cảm ơn Anh đã luôn sẵn sàng giúp đỡ em, động viên em. Cảm
ơn Anh đã không những cho em những bài học về kiến thức, mà còn giúp em trưởng
thành hơn qua những câu chuyện về cuộc sống. Trăm câu nghìn chữ viết ra cũng
không thể nào diễn tả hết lòng biết ơn của em đối với Anh.
Một lần nữa, em xin cảm ơn mọi người.
Xin cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn…
“Những gì đã qua em sẽ để dành suốt đời”
Đinh Thị Phương Linh
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................................ i
DANH MỤC CÁC BẢNG ....................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ....................................................................................... iii
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .....................................................................................4
1.1. VẮC XIN ĐƯỜNG UỐNG .............................................................................5
1.1.1. Hiện trạng các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa .................................5
1.1.2. Vắc xin đường uống ................................................................................6
1.2. ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH THÔNG QUA TẾ BÀO M ...................................10
1.2.1. Khái quát hệ thống miễn dịch ở ruột non ..............................................10
1.2.2. Tế bào M ................................................................................................13
1.3. PROTEIN FIMH ............................................................................................16
1.3.1. Cấu trúc protein FimH ...........................................................................17
1.3.2. Protein FimH gắn định hướng tế bào M thông qua thụ thể
Glycoprotein 2 ...................................................................................................19
1.4. PROTEIN PHÁT HUỲNH QUANG LỤC GFP ...........................................20
1.4.1. Khái quát về protein GFP ......................................................................20
4.1. KẾT LUẬN ....................................................................................................57
4.2. ĐỀ NGHỊ .......................................................................................................57
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................58
6. PHỤ LỤC ............................................................................................................. iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CD40
Cluster of differentiation 40
CD80
Cluster of differentiation 80
CD86
Cluster of differentiation 86
DC
Dendritic Cell
DNA
Deoxyribonucleic acid
dNTPs
Deoxynucleoside Triphosphate
Microfold
MCS
Multiple cloning site
MHC II
Major Histocompatibility Complex
OD
Optical Density
PBST
Phosphate buffered saline – Tween
PCR
Polymerase Chain Reaction
PPs
Peyer’s Patch
RNA
Ribonucleic acid
Bảng 1.2. Một số vắc xin đang được sử dụng hiện nay ..............................................9
Bảng 1.3. Ligand và thụ thể đặc hiệu trên tế bào M .................................................15
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Cấu trúc các lớp trong ruột non.................................................................11
Hình 1.2. Cấu trúc biểu mô ruột non.........................................................................11
Hình 1.3. Cấu trúc Peyer’s Patch ..............................................................................12
Hình 1.4. Đáp ứng miễn dịch màng nhầy sản sinh kháng thể IgA ...........................13
Hình 1.5. Tế bào M ...................................................................................................14
Hình 1.6. Cấu trúc gồm nhiều tiểu phần của lông roi loại 1 .....................................17
Hình 1.7. Cấu trúc protein FimH và cấu trúc tiểu phần bám dính của protein FimH
...................................................................................................................................18
Hình 2.1. Plasmid pET22b-gfp .................................................................................31
Hình 2.2. Plasmid pET22b ........................................................................................31
Hình 2.3. Thang phân tử lượng .................................................................................31
Hình 2.4. Sơ đồ tóm tắt quy trình tạo dòng E. coli mang vector pET22b-fimHrb-gfp
...................................................................................................................................32
Hình 3.1. Thu nhận, xử lý gen fimHrb và plasmid pET22b-gfp với enzyme cắt giới
hạn NdeI/BamHI........................................................................................................46
Hình 3.2. Biến nạp sản phẩm nối giữa gen fimHrb và pET22b-gfp vào vi khuẩn
E. coli DH5 .............................................................................................................47
Hình 3.3. Sàng lọc thể biến nạp E. coli DH5 mang pET22b-fimHrb-gfp bằng mồi
đặc hiệu trên gen fimHrb ...........................................................................................48
Hình 3.4. Sàng lọc thể biến nạp E. coli DH5 mang pET22b-fimHrb-gfp bằng mồi
trên plasmid ...............................................................................................................48
Hình 3.5. Biến nạp plasmid pET22b-fimHrb-gfp vào vi khuẩn E. coli BL21(DE3) 50
Hình 3.6. Sàng lọc thể biến nạp E. coli BL21(DE3) mang pET22b-fimHrb-gfp bằng
hướng tới chính là vắc xin đường uống.
Vắc xin đường uống thể hiện ưu điểm của nó ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Đầu tiên, nếu vắc xin đường uống được phát triển thành công, nó có thể ngăn chặn
tác nhân gây bệnh ngay từ bước đầu xâm nhập. Đồng thời, vắc xin đường uống có
khả năng kích hoạt được không chỉ riêng hệ thống miễn dịch tại vị trí xâm nhiễm mà
còn cả hệ thống miễn dịch trong toàn cơ thể. Do đó vắc xin đường uống ngoài phòng
ngừa việc xâm nhiễm của vi sinh vật theo con đường tiêu hóa, nó còn có thể ngăn
chặn sự phát tán của vi sinh vật theo con đường máu. Tiếp theo, việc phát triển thành
công vắc xin đường uống có thể sẽ là một hướng giải quyết triệt để đối với tình trạng
kháng kháng sinh trong chăn nuôi hiện nay. Với tình hình thị trường tiêu dùng ngày
càng tẩy chay các thực phẩm chăn nuôi có sử dụng kháng sinh, và dự thảo cấm sử
dụng kháng sinh trong chăn nuôi đang sắp được thực hiện, vắc xin đường uống ra đời
có thể sẽ là một hướng giải quyết tốt vì ưu điểm của nó là có thể dễ dàng sử dụng và
áp dụng trên quy mô lớn.
Mặc dù vắc xin đường uống mang nhiều ưu điểm vượt trội, việc phát triển của
loại vắc xin này vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Việc thành phần vắc xin phân tán trực
tiếp trên niêm mạc ruột, cụ thể là khu vực màng nhầy, cản trở kháng nguyên đến đúng
vị trí mà nó cần kích hoạt quá trình đáp ứng miễn dịch, là rào cản đầu tiên đối với vắc
xin đường uống. Mặc dù hệ thống miễn dịch màng nhầy có cơ chế hiệu quả ngăn
Đinh Thị Phương Linh
1
Khóa luận tốt nghiệp
Đặt vấn đề
ngừa sự xâm nhiễm của vi sinh vật thông qua việc tiết kháng thể IgA vào trong lòng
ruột, bắt lấy kháng nguyên và đào thải chúng ra ngoài theo nhu động ruột, khu vực
Đinh Thị Phương Linh
2
Khóa luận tốt nghiệp
Đặt vấn đề
Chính vì thế, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Tạo dòng, biểu hiện và
tinh sạch tiểu phần bám dính (receptor binding domain) của protein FimH dung
hợp với GFP” trên hệ thống E. coli nhằm cung cấp những thông tin ban đầu cho dự
án phát triển vắc xin đường uống.
Đinh Thị Phương Linh
3
1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
Khóa luận tốt nghiệp
Tổng quan tài liệu
1.1. VẮC XIN ĐƯỜNG UỐNG
1.1.1. Hiện trạng các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa
5
Khóa luận tốt nghiệp
Tổng quan tài liệu
tỉ lệ kháng lần lượt là 71,4% và 92,1% đối với penicillin và erythromycin. Một nghiên
cứu giám sát đã cho thấy thực phẩm bao gồm thịt và cá phát hiện nhiễm Salmonella
đa kháng kháng sinh. Campylobacter phân lập từ thịt gà cũng có mức kháng cao:
90% kháng với nalidixic acid, 89% với tetracycline và 82% đối với ciprofloxacin. Vi
khuẩn phân lập từ trẻ bị tiêu chảy cũng có tỉ lệ kháng kháng sinh cao. Các vi khuẩn
gram âm đa số là kháng kháng sinh: 42% các chủng vi khuẩn gram âm kháng với
ceftazidime, 63% kháng với gentamicin và 74% kháng với acid nalidixic [4]. Bên
cạnh đó, châu Âu đang dự định đưa ra lệnh cấm sử dụng và nhập sản phẩm có sử
dụng kháng sinh trong chăn nuôi. Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn Việt Nam
cũng đã đưa ra dự kiến cho ngừng sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi từ năm
2018 [5].
Với tình hình bệnh gây ra bởi vi sinh vật lan truyền qua con đường thực phẩm
nghiêm trọng như hiện nay, việc tìm ra một giải pháp mới và hiệu quả để ngăn ngừa
các bệnh gây ra bởi vi sinh vật thông qua con đườnng ăn uống là cần thiết. Đồng thời,
cùng với tình trạng kháng kháng sinh gia tăng, cần phải tìm ra một giải pháp mới
ngăn ngừa các bệnh gây ra từ vi sinh vật trong chăn nuôi vừa hiệu quả, vừa tốn ít chi
phí, đáp ứng điều kiện sản xuất hàng hóa trong và ngoài nước. Vắc xin đường uống
là một giải pháp tiềm năng, với nhiều ưu điểm sẵn có, sẽ đáp ứng được rất lớn nhu
cầu phòng bệnh cho người tiêu dùng thực phẩm và vật nuôi.
1.1.2. Vắc xin đường uống
Hơn một thế kỉ trước, các căn bệnh như sởi, bạch hầu, đậu mùa đã hoành hành
trên khắp thế giới, đứng vào nhóm các căn bệnh nguy hiểm hàng đầu và đã cướp đi
Ho khan
Bại liệt
Rubella
Uốn ván
Số ca mắc bệnh
nhiều nhất
Số ca mắc bệnh
vào năm 2004
206.939 (1921)
891.131 (1941)
152.209 (1968)
265.269 (1934)
21.269 (1952)
57.688 (1969)
1.560 (1923)
0
37
236
18.957
0
12
26
Phần trăm
giảm
-99,99
Tổng quan tài liệu
của loại vắc xin này [9]. Vắc xin đường uống có thể kích thích đáp ứng miễn dịch
màng nhầy thông qua việc kích thích tiết IgA giúp ngăn chặn sự bám của vi sinh vật
lên biểu mô ruột, ngăn ngừa khả năng vi sinh vật xâm nhập sâu hơn vào các cơ quan
bên trong. Bên cạnh đó, vắc xin đường uống còn có thể kích thích đáp ứng miễn dịch
của toàn bộ cơ thể tạo ra IgG để ngăn ngừa thành phần của vi sinh vật trong máu. Ví
dụ, Rotarix và RotaTeq là hai loại vắc xin uống từ rotavirus giảm độc lực, có khả
năng phòng bệnh đến 90%, kích hoạt tiết được kháng thể IgA ở màng nhầy, tiết IgG
ở hệ thống và kích thích được đáp ứng của tế bào lympho T độc [10]. Chính khả năng
gây đáp ứng miễn dịch ngay từ bước đầu xâm nhiễm của vi sinh vật mà vắc xin đường
uống sẽ là một rào cản ngăn chặn vô cùng hiệu quả đối với tác động xấu của vi sinh
vật lên cơ thể.
1.1.2.1. Nhược điểm của vắc xin đường uống
Mặc dù sở hữu nhiều ưu điểm so với vắc xin đường tiêm, số lượng vắc xin
đường uống vẫn còn bị giới hạn lại ở con số rất hạn chế (Bảng 1.2), do việc nghiên
cứu phát triển vắc xin đường uống gặp phải khá nhiều khó khăn.
Môi trường khắc nghiệt bên trong ruột chính là một cản trở lớn. Ruột có pH
giao động từ 6,5 – 7,5, bên trong có hệ thống enzyme protease và peptidase có chức
năng phân hủy protein đi vào ruột, cùng với một hệ thống các enzyme protease tiết
ra từ tuyến tụy như trypsinogen, chymotrypsinogen, carboxypeptidase, … Các
enzyme này phân hủy gần như toàn bộ tất cả các epitope kháng nguyên đưa vào cơ
thể ở dạng hòa tan [11].
Bên cạnh đó, diện tích rộng lớn của bề mặt biểu mô ruột cũng gây ra khó khăn
cho hoạt động của kháng nguyên. Diện tích tổng cộng của bề mặt niêm mạc ruột khi
trải ra được tăng lên gấp 600 lần so với diện tích của ống ruột lúc bình thường. Đó là
nhờ sự gấp nếp của các cấu trúc hình thành niêm mạc ruột: các nếp gấp ngang của
niêm mạc ruột giúp tăng diện tích lên gấp ba lần; các cấu trúc nhung mao xếp liên
tiếp nhau làm tăng diện tích bề mặt ruột lên khoảng 10 lần; trên mỗi nhung mao lại
Human
Papillomavirus
(HPV)
…
Tuberculosis
Meningococcal
Cholera
Smallpox
Rabies
Japanese
encephalitis
Vắc xin uống
Rota Teq; Rotarix
Orimune; OPV
Vivotif; Ty21 A
Orocol
FluMist
NASOVAC
Dukoral; Shancol
Thêm vào đó, vì ruột là nơi tiếp nhận rất nhiều tác nhân lạ từ môi trường bên
ngoài, trong đó có các chất dinh dưỡng, nên cơ thể có xu hướng dung nạp miễn dịch
cao hơn đáp ứng miễn dịch. Dung nạp miễn dịch là trạng thái ức chế đáp ứng của hệ
thống miễn dịch đối với kháng nguyên nhằm mục đích tránh các đáp ứng không mong
muốn cho cơ thể. Do đó, việc gây được đáp ứng miễn dịch ở ruột một cách chính xác
và hiệu quả gặp nhiều khó khăn [9].
1.1.2.2. Các phương pháp hỗ trợ phát triển vắc xin đường uống
Trước những nhược điểm của vắc xin đường uống, người ta đã nghiên cứu tìm
Ngoài ra, giải quyết xu hướng dung nạp miễn dịch ở ruột, tá dược hỗ trợ kháng
nguyên đã được sử dụng để tăng khả năng gây đáp ứng miễn dịch. Tá dược làm tăng
cường phản ứng miễn dịch chủ yếu bằng cách làm tăng các phản ứng miễn dịch bẩm
sinh thông qua điều hòa tăng cường các phân tử đồng kích thích, chemokine,
cytokine. Một số tá dược đã sử dụng cho vắc xin đường niêm mạc mũi như CD80,
CD86, CD40, interferon‑α (IFNα), nhân tố kích hoạt tế bào B (BAFF), và các ligand
của các Toll-like receptor [9].
Hiện nay, một giải pháp giải quyết trở ngại của vắc xin đường uống đang được
rất nhiều người quan tâm, vừa giải quyết được vấn đề kháng nguyên dễ bị phân tán
do diện tích lớn của bề mặt ruột, vừa khắc phục được tình trạng ưu tiên xu hướng
dung nạp miễn dịch hơn đáp ứng miễn dịch của ruột. Đó là định hướng kháng nguyên
đến đúng mục tiêu là tế bào Microfold (M), một loại tế bào tuy chiếm tỉ lệ rất nhỏ
trong lớp tế bào biểu mô ruột, nhưng đóng vai trò quan trọng kích hoạt quá trình đáp
ứng miễn dịch.
1.2. ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH THÔNG QUA TẾ BÀO M
1.2.1. Khái quát hệ thống miễn dịch ở ruột non
1.2.1.1. Vị trí hệ thống miễn dịch ở ruột non
Cấu trúc ruột non bao gồm bốn lớp: lớp màng thanh dịch, lớp cơ, lớp dưới
niêm mạc và trên cùng là lớp niêm mạc (Hình 1.1). Màng thanh dịch là lớp màng trơn
bao gồm một lớp mỏng mô liên kết và một lớp mỏng tế bào là nơi tiết ra dịch huyết
thanh. Lớp cơ là khu vực tiếp giáp với lớp dưới niêm mạc, thường cấu trúc bởi hai
Đinh Thị Phương Linh
10
Khóa luận tốt nghiệp
Tổng quan tài liệu
đến phức tạp, thì cơ chế đáp ứng miễn dịch hiệu quả và quan trọng nhất được thực
hiện ở nang lympho ruột.
1.2.1.2. Nang lympho Peyer’s Patch ở khu vực ruột non
Tập hợp nang lympho ruột lần đầu tiên được mô tả bởi Marco Aurelio
Severino vào năm 1645, sau đó cấu trúc này được nghiên cứu kĩ hơn và được công
bố với tên gọi là Peyer’s Patch (PPs) bởi Conrad Peyer vào năm 1677 [17]. PPs là mô
đặc trưng nhất cho mô lympho màng nhầy ở ruột, nằm ở vị trí phía trên màng treo
ruột của ruột non [18] (Hình 1.3). PPs là một tập hợp các nang lympho, được phân
chia thành ba vùng. Vùng dưới cùng chứa một số lượng lớn các nang (follicle) chứa
tế bào lympho B và các tế bào lympho T. Tập hợp này được bao quanh bởi một cấu
trúc hình vòm gọi là SED (subepithelial dome) chứa hỗn hợp các tế bào B, tế bào T,
đại thực bào và tế bào DC. PPs kết nối với cơ thể nhờ mạch lympho và tĩnh mạch nhỏ
nội mô. Phía dưới là cấu trúc hạch lympho màng treo ruột (mesenteric lymph
nodes - MLN) có vai trò là nơi cung cấp các tế bào lympho trinh nguyên đến lớp PPs.
Phía trên cùng PPs là lớp nang tế bào biểu mô (follicle-associated epithelium – FAE)
hình thành mặt ngăn cách giữa cấu trúc mô lympho bên trong và môi trường trong
lòng ruột [15]. Thành phần lớp FAE bao gồm các tế bào biểu mô ruột và một tế bào
đặc biệt gọi là tế bào Microfold – tế bào M. Tế bào M có khả năng vận chuyển kháng
nguyên và vi sinh vật qua lớp biểu mô ruột đến các tế bào miễn dịch, thông qua đó
kích hoạt hoặc ức chế quá trình đáp ứng miễn dịch, dẫn đến một trong hai khả năng
của cơ thể là đáp ứng miễn dịch hay dung nạp miễn dịch [17].
Hình 1.3. Cấu trúc Peyer’s Patch [10].
Đinh Thị Phương Linh
12
Khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp
Tổng quan tài liệu
Hình 1.5. Tế bào M [20].
Phía trong tế bào M có một hốc lõm vào tạo thành cấu trúc túi chứa tế bào B,
tế bào T, đại thực bào và các tế bào DC. Cấu trúc túi này là vùng tiếp cận của tế bào
lympho và các tế bào trình diện kháng nguyên (Hình 1.5). Nhờ cấu trúc này mà
khoảng cách từ đáy tới đỉnh tế bào M được thu hẹp lại, giúp rút ngắn quãng đường
vận chuyển của kháng nguyên từ vị trí tiếp nhận đến tế bào lympho [19].
Trong quá trình vận chuyển kháng nguyên từ tế bào M đến tế bào trình diện
kháng nguyên, người ta cho rằng kháng nguyên được vận chuyển nguyên vẹn đến
khoang tế bào M mà không trải qua bất kì một sự biến đổi cấu trúc nào. Sự giữ nguyên
cấu trúc này là do lượng lysosome chứa trong tế bào M rất ít, ít hơn 16 lần so với các
tế bào ruột bình thường, đồng thời hoạt động của lysozyme cũng giảm. Thực tế, có
một vài bằng chứng cho thấy ở tế bào M vẫn có hoạt động của enzyme. Người ta đã
tìm thấy các prelysosome giàu acid phosphatase, MHC nhóm II và proteinase
Cathepsin E ở tế bào M của chuột, đặt ra nghi ngờ rằng ở tế bào M có hoạt động biến
đổi kháng nguyên khi nó được tiếp nhận. Tuy nhiên, vẫn chưa có bằng chứng nào rõ
ràng về sự biến đổi của kháng nguyên tại tế bào M [19].
1.2.2.2. Phương thức tiếp nhận và vận chuyển kháng nguyên của tế bào M
Tế bào M có nhiều cách tiếp nhận và vận chuyển các vật chất khác nhau vào
trong tế bào. Cơ chế của các phương thức vận chuyển này phụ thuộc vào kích thước
và bản chất của vật chất mà nó vận chuyển. Đối với vi khuẩn và các hạt có kích thước
lớn, tế bào M thường sử dụng phương thức thực bào bằng cách biến đổi màng tế bào
và sắp xếp lại khung actin, tạo thành các bóng thực bào bao gói vật chất và vận chuyển
Đinh Thị Phương Linh
14
LPS
Lipoteichoid acid
Đơn phân Phosphorylcholine của LPS
Hsp60 của Brucella abortus
Lipid A domain của LPS (vi khuẩn Gram âm)
Peptidoglycan vi khuẩn
Thụ thể trên tế bào M
1,2 Fucose
-L-Fucose
N-Glycans/repeated
C5aR
oligosaccharide
1,2 Fucose gồm carbohydrate
Sialyl Lewis A
Glycoprotein 2
2,3 Sialic acid
1 Integrin
Glycoprotein 2/uromodulin
C5aR
TLR-4
TLR-2
PAFR
Cellular prion protein
AnxA5
PGLYRP-1
Phương thức tiếp nhận và vận chuyển kháng nguyên bằng liên kết giữa ligand
và thụ thể là phương thức vận chuyển đặc hiệu nhất. Đặc điểm cấu trúc bề mặt tế bào
M khá bằng phẳng là một lợi thế lớn, bởi vì các thụ thể không bị che lấp bởi các cấu
một loại ligand mang nhiều ưu điểm sẽ hỗ trợ rất lớn trong việc giải quyết các trở
ngại của phát triển vắc xin đường uống. Protein FimH nằm trên tiểu phần lông roi
loại 1 của vi khuẩn E. coli có khả năng bám vào thụ thể đặc hiệu trên tế bào M là ứng
cử viên tiềm năng.
1.3. PROTEIN FIMH
Sự xâm nhập của nhiều vi khuẩn vào cơ thể vật chủ có liên quan đến sự hiện
diện của các cấu trúc có khả năng bám dính như lông hoặc tua trên bề mặt tế bào vi
khuẩn [26]. Vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hóa E. coli là một trong số các vi khuẩn
có biểu hiện cấu trúc bám dính này. Một vài cơ quan thực hiện chức năng bám dính
ở E. coli như lông roi P, lông roi loại 1, lông roi S và lông roi F1C. Trong số đó, lông
roi loại 1 được biểu hiện với tỉ lệ lớn hơn 80% trên tổng số các vi khuẩn E. coli gây
bệnh. Người ta suy đoán rằng, lông roi loại 1 chính là yếu tố quyết định khả năng
bám dính của E. coli [27].
Đinh Thị Phương Linh
16
Khóa luận tốt nghiệp
Tổng quan tài liệu
Cấu trúc của lông roi loại 1 bao gồm nhiều tiểu phần: FimA, FimF, FimG,
FimH (Hình 1.6). Protein FimH là tiểu phần nằm ở vị trí đầu lông roi. Đã có rất nhiều
thí nghiệm được tiến hành nhằm chứng minh vai trò của protein này đối với khả năng
bám dính của lông roi loại 1. Từ những thí nghiệm đột biến gen, kháng thể ức chế
FimH, và đột biến mất hoàn toàn FimH đều cho thấy khả năng bám đường mannose
và sự tồn tại trong cơ thể vật chủ của vi khuẩn đều giảm hẳn. Gần đây, những kết quả
tinh thể hóa của protein FimH chung với đường α-mannose đã khẳng định vai trò của
protein này trong việc bám dính với thành phần mannose trên bề mặt tế bào trong cơ