ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN NGUYỄN THỊ THƯƠNG
NHÂN DÒNG, BIỂU HIỆN VÀ TINH SẠCH STREPTOKINASE
TÁI TỔ HỢP TỪ CHỦNG Streptococcus pyogenes
TRONG Escherichia coli LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2011
Vi sinh vật học
Mã số :
60 42 40
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1 Chứng tắc nghẽn mạch máu 2
1.1.1 Quá trình đông máu 2
1.1.2 Cơ chế tan máu đông 6
1.1.3 Bệnh tắc nghẽn mạch máu 7
1.2 Streptokinase 9
1.2.1 Giới thiệu chung 9
1.2.2 Cấu trúc không gian 10
1.2.3 Cơ chế hoạt động 11
1.2.4 SK tái tổ hợp 13
1.2.5 Tình hình nghiên cứu điều trị tan huyết khối của SK 17
1.3 Streptococcus pyogenes 18
1.3.1 Phân loại khoa học 18
1.3.2 Lịch sử nghiên cứu 19
1.3.3 Đặc điểm sinh học 19
1.3.4 Đặc điểm gây bệnh 21
2 CHƢƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP 22
2.1 Nguyên liệu và thiết bị 22
2.1.1 Tế bào và plasmid 22
Deoxyribonucleic acid
DNase
Deoxyribonuclease
dNTP
2-Deoxynucleoside 5-triphosphate
EDTA
Ethylenediamine tetraacetic acid
EtBr
Ethidium bromide
kb
Kilo base
kDa
Kilo Dalton
KP
Kali phosphate
M
Marker
MI
Myocardial infarction
mSK
Streptokinase
mSK-nonhis
Streptokinase không mang đuôi 6x-histidine
OD
Optical density
PCR
Polymerase chain reaction
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
3
Hình 2.2. Đường chuẩn Bradford. 34
Hình 3.1. Điện di đồ sản phẩm nhân gene msk-nonhis. 35
Hình 3.2. Điện di đồ DNA thiết kế vector biểu hiện pEmSK. 36
Hình 3.3. Peak trình tự pEmSK-nonhis. 37
Hình 3.4. Cấu trúc biểu hiện của pEmSK-nonhis. 38
Hình 3.5. Điện di đồ protein tổng số của mẫu biểu hiện. 39
Hình 3.6. Phân tích năng suất protein biểu hiện tính bằng phần mềm Dolphin 1D. 39
Hình 3.7. Điện di đồ protein dịch nổi và cặn. 40
Hình 3.8. Điện di đồ protein tinh sạch. 41
Hình 3.9. Phân tích độ sạch của mSK-nonhis bằng phần mềm Dolphin 1D. 42
Hình 3.10. Phản ứng lai Western. 43
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
4
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Các yếu tố đông máu. 3
Bảng 2.1. Plasmid nhân dòng và biểu hiện. 22
Bảng 2.2. Thành phần các loại đệm và dung dịch. 23
Bảng 2.3. Các thiết bị thí nghiệm. 24
Bảng 2.4. Thành phần PCR. 26
Bảng 2.5. Thành phần gel co và gel tách. 29
Bảng 3.1. Hiệu suất tinh sạch mSK-nonhis tái tổ hợp. 42
Bảng 3.2. Độ sạch của mSK-nonhis qua các lần phá siêu âm 43
Bảng 3.3. Hoạt tính mSK-nonhis sau hoạt hóa. 44
Các bảng phụ lục
Bảng 1. Hàm lượng protein các mẫu tinh sạch. 52
Bảng 2. Hoạt tính mSK-nonhis của các mẫu tinh sạch. 52
Bảng 3. Khả năng hoạt hóa mSK-nonhis xử lý bằng guanidine của các chất hoạt
KC10 (2009-2010) có thể coi là công trình nghiên cứu cấp nhà nước đầu tiên về
lĩnh vực này. Trong đề tài này các nhà nghiên cứu đã nhân dòng, biểu hiện và tinh
sạch thành công streptokinase. Streptokinase được biểu hiện cả ở dạng có tín hiệu
và không có tín hiệu (mSK), trong đó mSK với hoạt tính cao hơn. Streptokinase tái
tổ hợp bước đầu được thử nghiệm trên đối tượng thỏ thí nghiệm cho kết quả tốt.
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
2
Để hạn chế thấp nhất tỷ lệ tử vong và các biến chứng của chứng tắc nghẽn mạch
máu thì thời gian xử lý huyết khối trong mạch là một yếu tố vô cùng quan trọng.
Thuốc tan huyết khối dạng tiêm được sử dụng rộng rãi hơn. Tuy nhiên, thuốc dạng
tiêm đòi hỏi phải có độ tinh khiết cao, trong khi các enzyme tái tổ hợp thông thường
thường dung hợp đuôi 6xhistidine (6xhis) để thuận tiện cho quá trình tinh sạch và
việc dung hợp đuôi 6xhis được xem là có thể gây tác dụng phụ cho con người. Trên
cơ sở đó, trong khuôn khổ đề tài KC10 “Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ
sản xuất chế phẩm enzyme tái tổ hợp streptokinase và yếu tố hoạt hóa plasminogen
mô (tPA) sử dụng trong điều trị” chúng tôi thực hiện đề tài luận văn “Nhân dòng,
biểu hiện và tinh sạch streptokinase tái tổ hợp trong E. coli” với dạng
streptokinase tái tổ hợp không dung hợp đuôi 6xhistidine để tiến tới sản xuất dược
phẩm sinh học điều trị chứng tắc nghẽn mạch máu, có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa
thực tiễn cao.
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Chứng tắc nghẽn mạch máu
1.1.1 Quá trình đông máu
Đông máu là quá trình máu chuyển từ thể lỏng sang thể đặc. Bình thường đây là
một cơ chế quan trọng giúp cơ thể sửa chữa những mạch máu bị tổn thương và
chống mất máu do bị tổn thương thành mạch. Quá trình đông máu phụ thuộc vào
các yếu tố đông máu (bảng 1.1) và gồm ba giai đoạn.
Giai đoạn tạo thành prothrombinase
Prothrombinase được hình thành từ cơ chế nội sinh hoặc ngoại sinh hoặc đồng thời
cả hai cơ chế nội sinh và ngoại sinh. Điều này chứng tỏ hoạt tính của
prothrombinase là phụ thuộc vào sự hoạt hóa của các yếu tố tham gia vào quá trình
này.
Bảng 1.1. Các yếu tố đông máu.
Các yếu tố
Tên gọi và vai trò
I
Fibrinogen, là một loại globulin, do gan tổng hợp đưa vào máu.
II
Prothrombin, là một protein huyết tương do gan sinh ra. Sự tổng hợp
prothrombin liên quan chặt chẽ đến sự hấp thụ vitamin K. Nếu rối loạn
hấp thụ vitamin K ở đường tiêu hóa sẽ dẫn đến giảm prothrombin.
III
Thromboplastin, enzyme tạo ra khi tiểu cầu bị vỡ, hoặc mô bị tổn
thương.
IV
Ion Ca
2+
có trong huyết tương, có tác dụng hoạt hóa prothrombin.
V
Proaccelerin, một loại globulin, do gan sinh ra, làm tăng tốc độ đông
máu.
VI
Dạng hoạt hoá của yếu tố V.
VII
Proconvectin, yếu tố xúc tiến tạo Thrombin.
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
4
Ca
2+
Yếu tố IXa
Yếu tố IX
Yếu tố X
Ca
2+
, yếu tố VIII
phospholipid
Ca
2+
,
phospholipid
Con đƣờng nội sinh
Thành mạch tổn thương
Yếu tố XII
Yếu tố XIIa
Hình 1.1. Cơ chế đông máu.
Giai đoạn tạo thành thrombin
Prothrombinase tạo ra theo cơ chế nội sinh và (hoặc) ngoại sinh cùng với Ca
2+
xúc tác cho phản ứng chuyển prothrombin thành thrombin. Sự hình thành thrombin
từ prothrombin là rất nhanh, được tính bằng vài giây.
Giai đoạn tạo thành fibrin và cục máu đông
Fibrinogen là một protein do gan sản xuất, nồng độ trong máu bình thường là
100-700 mg/100 ml máu. Bình thường fibrinogen rất khó vào dịch kẽ. Khi thành
mạch tăng tính thấm (mô bị viêm) thì fibrinogen vào dịch kẽ và bị đông lại do các
yếu tố gây đông máu cùng vào dịch kẽ. Dưới tác dụng của thrombin, fibrinogen
dạng hòa tan chuyển thành fibrin đơn phân dạng không hòa tan. Các fibrin đơn phân
tự trùng hợp thành fibrin ở dạng sợi nhờ yếu tố XIII. Giai đoạn này cũng có sự tham
gia của ion Ca
2+
. Các tế bào máu được giữ lại trên lưới fibrin và tạo nên cục máu
Yếu tố XIII
Yếu tố XIIIa
Cục máu đông
Sợi fibrin
Ca
2+
Yếu tố Va, VIIIa
Yếu tố VII
Thrombin
Prothrombin (yếu tố II )
Ca
Plasmin
Fibrin
PDF (các sản phẩm bị phân hủy)
Các chất hoạt hóa
Plasminogen
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
7
1.1.3 Bệnh tắc nghẽn mạch máu
Đông máu là một trong những cơ chế phòng vệ tự nhiên của cơ thể khi chấn
thương xảy ra. Tuy nhiên, khi thành mạch bị xơ vữa, bị tổn thương làm xuất hiện
huyết khối làm tắc nghẽn động mạch, tĩnh mạch gây nên bệnh tắc nghẽn mạch máu.
Nguyên nhân gây tắc nghẽn mạch máu
Tắc nghẽn mạch do yếu tố V: Yếu tố V Leiden là một biến thể của yếu tố V
trong quá trình đông máu. Yếu tố này bị bất hoạt chậm nên tồn tại lâu hơn trong
máu gây ra tình trạng đông máu. Tỷ lệ đột biến gene của yếu tố V Leiden chiếm 20-
40% các bệnh tắc nghẽn mạch máu và tần suất bệnh là 5% trong quần thể dân cư
[59].
Tắc nghẽn mạch do thiếu antithrombin: Antithrombin ức chế hoạt động của một
số yếu tố đông máu như thrombin, IXa, Xa. Do đó thiếu antithrombin là một
nguyên nhân gây tắc nghẽn mạch máu. Đây là bệnh mang di truyền thể trội trên
nhiễm sắc thể thường. Bệnh thường gặp là tắc nghẽn mạch phổi và tĩnh mạch, ít
thấy tắc nghẽn động mạch. Chứng tắc nghẽn mạch máu này có thể xảy ra một cách
tự phát hoặc do chấn thương, thai nghén và phẫu thuật [59].
Tắc nghẽn động mạch: Thường gặp ở người lớn tuổi. Mỡ và calci lắng đọng gây
biến dạng bề mặt thành mạch làm kích hoạt con đường đông máu nội sinh
(hình 1.3). Đây là nguyên nhân của tắc nghẽn mạch máu do tăng mỡ máu và tiến
triển thành xơ vữa động mạch. Nghẽn động mạch có thể gây ra nhồi máu cơ tim
hoặc đột quỵ.
thành một phức hợp hoạt hóa. Phức hợp này biến đổi plasminogen còn dư thành
plasmin là enzym thủy phân protein, có tác dụng tiêu fibrin và có thể làm tan các
cục máu đông trong lòng mạch. SK được sử dụng để điều trị thuyên tắc mạch phổi
và tĩnh mạch sâu [37].
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
9
tPA: là yếu tố hoạt hóa mô, có thể sản xuất bằng con đường tái tổ hợp nhưng
giá thành cao. Do là yếu tố hoạt hóa của tổ chức nên tPA không có vấn đề về miễn
dịch. Đầu tiên tPA gắn với fibrin, phức này sau đó gắn vào plasminogen tạo thành
phức hợp hoạt hóa plasminogen để thủy phân fibrin [29].
Urokinase: thường được dùng để tiêu hủy huyết khối tại chỗ, ngoài ra còn sử
dụng để điều trị tắc nghẽn phổi, huyết khối tĩnh mạch sâu (http://www.lrc-
hueuni.edu.vn/dongy2009). Urokinase được phân lập từ nuôi cấy tế bào thận người
do đó an toàn hơn streptokinase nhưng giá thành cao.
Alteplase: một chất hoạt hóa plasminogen mô của người (t-PA) sản xuất bằng
công nghệ DNA tái tổ hợp. Alteplase làm tan huyết khối bằng cách gắn vào fibrin
và khởi đầu sự chuyển plasminogen thành plasmin. Tác dụng phụ của alteplase là
gây phân hủy toàn thân [52].
Tenecteplase (TNKase): được sử dụng trong trường hợp bị nhồi máu cơ tim cấp.
Phần lớn tác dụng của TNKase phụ thuộc vào sự có mặt của fibrin, chúng chỉ
chuyển hóa một lượng rất ít plasminogen thành plasmin khi không có fibrin, do đó
làm tăng tính đặc hiệu với fibrin.
Nattokinase: là một loại enzyme tự nhiên được chiết xuất từ môi trường lên men
của vi khuẩn Nattobacillus. Nattokinase làm tan fibrin mạnh gấp 4 lần plasmin nội
sinh trong cơ thể (http://nattokinase.asia/2011). Nattokinase được sử dụng như một
chế độ bổ sung dinh dưỡng giúp duy trì và tăng cường khả năng phân hủy fibrin
bình thường của cơ thể nhằm hỗ trợ điều trị và phòng ngừa bệnh huyết khối như
viêm động mạch tĩnh mạch, tim thiếu máu, đau thắt ngực, suy giảm trí nhớ ở người
già, đột quỵ [24, 54].
tạo thành giữa các gốc 251 và 262 [65].
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
11
Hình 1.4. Cấu trúc không gian 3 chiều của streptokinase.
(DrugBank.com, mã số DB00086)
Vòng thứ 2 (vòng 170) được tạo thành giữa amino acid 144 và 218, không đồng
nhất về trình tự. Các chuỗi bên của các amino acid không bảo thủ nằm trong vòng
170 được định vị trên bề mặt, nằm cách xa nửa tiếp xúc với plasmin của SK, không
ảnh hưởng đến việc hoạt hóa plasminogen. Như vậy tính đa hình của SK không liên
quan đến hoạt hóa plasminogen mà có thể quyết định đặc điểm sinh học liên quan
đến khả năng gây bệnh của chủng vi sinh vật [65]. Quá trình phát sinh đột biến tại
vùng đa hình này không làm thay đổi khả năng hoạt hóa plasminogen của protein
này mà có thể coi như biến đổi chức năng đối với bệnh do Streptococcus gây nên
[50].
Streptokinase có khả năng liên kết và hoạt hóa plasminogen của người. Đồng
thời nó cũng là một enzyme quan trọng của Streptococcus do enzyme này tạo ra
hoạt tính phân giải protein trên bề mặt tế bào vi khuẩn và giúp cho việc xâm nhập
các tổ chức của vật chủ dễ dàng hơn [39].
1.2.3 Cơ chế hoạt động
Năm 1933, Tillett và Garner đã tình cờ khám phá ra khả năng phân hủy huyết
khối của SK [57]. Năm 1941, Milestone đã phát hiện một chất thông thường tồn tại
trong huyết tương, cần thiết để ly giải cục máu đông, gọi là “yếu tố lytic” [51].
Christensen độc lập xác định rằng yếu tố lytic là một enzyme thủy phân protein bình
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
12
thường có mặt trong huyết tương như là một tiền chất không hoạt động. Các cơ chất
Hoạt hóa
Chất ức chế
Phân hủy
Không phân
hủy
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
13
và 561) để tạo ra plasmin. Plasmin được tạo thành có khả năng phân hủy fibrin
thành các sản phẩm bị phân hủy dạng hòa tan [8, 45].
1.2.4 SK tái tổ hợp
Trên thế giới
SK được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong điều trị chứng tắc nghẽn mạch máu.
Tuy nhiên các chủng tổng hợp SK tự nhiên là những chủng gây độc cho con người
và hiệu suất tổng hợp thấp. Do đó việc nghiên cứu SK trên thế giới chủ yếu đi theo
hướng nghiên cứu sản xuất SK tái tổ hợp
Năm 1984, Malke et al. đã nhân dòng và biểu hiện thành công gene mã hóa SK
từ chủng S. equisimilis H46A trong E. coli và S. sanguis sử dụng vector pACYC184
và pBR322 thu được SK có hoạt tính đạt từ 8 đến 100 U/ml dịch nuôi cấy [40]. Một
năm sau, Dao và Ferretti sử dụng vector pSA3 (kháng erythromycin,
chlorpheniramine, tetracyline) để biểu hiện SK trong S. sanguis thu được protein có
khối lượng phân tử 42 kDa nhưng có hoạt tính sinh học như SK tự nhiên. Kích
thước protein thấp hơn có thể là do kết quả của quá trình sau dịch mã [15]. Đến
năm 1986, Klessen et al. biểu hiện sk trong Bacillus subtilis, hoạt tính SK bị giảm ở
cuối pha sinh trưởng do các protease của chính B. subtilis tiết ra làm bất hoạt [33].
Năm 1989, Walter et al. đã nhân dòng thành công gene mã hóa SK từ chủng
S. pyogenes type 1 [64]. Sau đó đến năm 1992, Esrtrada et al. đã biểu hiện gene này
trong E. coli W3110 cho SK có hoạt tính như chủng tự nhiên với năng suất biểu
hiện đạt 25% protein tổng số [16]. Cũng trong năm 1989, Hagenson et al. sử dụng
promoter của alcohol oxidase từ P. pastoris để biểu hiện sk trong nấm men cho
nên tinh sạch dễ dàng hơn [44].
Pratap et al. năm 2000 đã nhân dòng sk từ S. equisimilis và biểu hiện trong
P. pastoris. SK thu được có khối lượng phân tử là 55 kDa, cao hơn SK gốc nhưng
có hoạt tính tương đương. Các tác giả chỉ ra rằng SK có khối lượng cao hơn là do
hiện tượng glycosyl hóa. Hoạt tính SK đạt 3200 U/ml dịch nuôi cấy [43].
Năm 2004, Kumar và Singh biểu hiện SK trong nấm men S. pombe đã bị đột
biến mất protease ngoại bào. Kết quả thu được SK biểu hiện ở dạng ngoại bào với
năng suất 50-100%, đạt 2450 U/ml dịch nuôi cấy. Hiệu suất biểu hiện đạt 24,5 mg/l
và hoạt tính riêng đạt 1581 U/mg protein [36]. Sau đó, năm 2006, Sriraman et al.
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
15
biểu hiện SK trong Lactococcus. lactic với promoter P170. SK thu được bị thủy
phân do tác động của môi trường nuôi cấy. Ở môi trường nuôi cấy có pH thấp, có
glucose, acid lactic sẽ tích tụ gây đáp ứng kháng acid cho tế bào làm giảm khả năng
sản xuất streptokinase. Khi cải thiện môi trường nuôi cấy, tăng pH và nồng độ
phosphate ban đầu làm tăng khả năng tổng hợp SK lên 2,5 lần [53].
Năm 2007, Reza et al. đã sử dụng vector pGEX biểu hiện SK trong
E. coli BL21 (DE3), E. coli BL21 (DE3) plysS, E. coli BL21 CodonPlus với năng
suất biểu hiện đạt 50% protein tổng số. Các dòng tế bào này thiếu hụt các sản phẩm
gene protease trong bào tương như Lon, OmpT, DegP và HtpR với mục đích tạo
năng suất biểu hiện cao cho protein hội nhập. Kết quả cho thấy tế bào
E. coli BL21 (DE3) plysS cho năng suất cao nhất đạt 15000 U/ml dịch nuôi cấy
[46].
Năm 2008, Babu et al. tinh sạch SK đạt độ sạch là 99%. Các tác giả cũng nghiên
cứu hoạt hóa SK sau khi xử lý bằng guanidine. Theo đó một số chất hoạt động bề
mặt không gây ion hóa như Triton X-100, Tween 20, Tween 80 có tác dụng hoạt
hóa SK. Việc bổ sung 10% glycerol làm tăng độ bền của enzyme [7].
Năm 2009, Goyal et al. đã nghiên cứu nuôi lắc có bổ sung dưỡng chất kết hợp
với tối ưu các điều kiện nuôi cấy biểu hiện SK tái tổ hợp trong E. coli cho năng suất
Đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất chế
phẩm enzyme tái tổ hợp streptokinase và yếu tố hoạt hóa plasminogen mô (tPA) sử
dụng trong điều trị” do PGS TS Quyền Đình Thi làm chủ nhiệm, thực hiện tại
phòng Công nghệ sinh học Enzyme, Viện Công nghệ sinh học. Trong đó, Vũ Hồng
Diệp đã sử dụng vector pET22b(+) để biểu hiện gene mã hóa SK có tín hiệu trong
E. coli BL21 không thấy xuất hiện băng 47 kDa nhưng lại xuất hiện các băng 40,
22, 19 kDa. Đây có thể là do SK bị phân giải bởi các protease có mặt trong môi
trường. Cũng gene sk đó biểu hiện trong E. coli BL21(DE3) plysE và
E. coli BL21(DE3) plysS cho kết quả sinh tổng hợp SK không cao (80-90 U/ml dịch
nuôi cấy). SK tinh sạch có hoạt tính cao nhất đạt 1169 U/mg protein với hiệu suất
thu hồi thấp 6,7% [4]. Vũ Hồng Diệp et al. cũng đã nhân dòng gene sk từ
S. pyogenes DT17, sử dụng vector pPICZA để biểu hiện ở P. pastoris. Kết quả
cho thấy các dòng nấm men tái tổ hợp khác nhau về số bản sk hội nhập thì hoạt tính
cũng khác nhau, dòng nào càng nhiều bản tích hợp của gene sk thì hoạt tính càng
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
17
cao. Dòng có hoạt tính cao nhất đạt 48 U/ml dịch nuôi cấy. SK được tinh sạch bằng
cột Ni
2+
xuất hiện hai băng <55 và >60 kDa. SK có khối lượng khoảng 55 kDa có
thể là do quá trình glycosyl hóa [4]. Nguyễn Sỹ Lê Thanh đã sử dụng vector
pET21a(+) để biểu hiện gene mã hóa SK không có tín hiệu (mSK) trong
E. coli BL21. SK biểu hiện chiếm khoảng 50% protein tổng số với hoạt tính đạt
5846 U/ml, tương đương 980.000 U/g tế bào tươi. mSK tinh sạch có độ sạch 2,26
lần (khoảng 95%) với hiệu suất thu hồi 52% và hoạt tính đạt 11558 U/mg. Nguyễn
Thị Thảo và cộng sự đã sử dụng vector pAC7 để biểu hiện gene mã hóa SK từ
S. pyogenes DT17 trong Bacillus subtilis WB800. SK tinh sạch có độ sạch 6,2 lần
với hoạt tính 3580 U/mg và hiệu suất thu hồi 40,2% [2]
1.2.5 Tình hình nghiên cứu điều trị tan huyết khối của SK
triệu chứng AMI. Điều trị bằng SK trong khoảng từ 1,5 đến 3 giờ khi bắt đầu có
triệu chứng AMI thì tỷ lệ tái lưu thông máu là 90% [10].
Năm 1986, đánh dấu một bước tiến quan trọng bằng nghiên cứu GISSI (Gruppo
Italiano per la Sperimentazione della Streptochinasi nell’Infarto Miocardico). Thử
nghiệm GISSI tiến hành trên 11806 bệnh nhân tim mạch ở 176 đơn vị chăm sóc y tế
trong khoảng thời gian 17 tháng (từ tháng 2/1984 đến tháng 6/1985). Thử nghiệm
này đã chứng minh hiệu quả của SK. Nó chỉ ra rằng một bệnh nhân AMI càng sớm
được điều trị bằng SK qua tĩnh mạch thì các cơ hội phục hồi càng tốt [61]. Kể từ đó,
nhiều thử nghiệm lâm sàng đã củng cố chứng cứ để sử dụng SK.
Theo thống kê năm 2003 tại Anh, streptokinase chiếm 55% thuốc tan huyết trên
toàn quốc, so với alteplase là 33% và reteplase là 11% [63].
Năm 2005, SK được WHO xếp vào danh mục thuốc thiết yếu [25].
1.3 Streptococcus pyogenes
1.3.1 Phân loại khoa học
Về phân loại khoa học Streptococcus pyogenes được xếp vào:
Giới: Eubactaria
Ngành: Firmicutes
Lớp: Cocci
Bộ: Lactobacillales
Họ: Streptococcaceae
Chi: Streptococcus
Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Thương
19
Loài: Streptococcus pyogenes
Tên khoa học: Streptococcus pyogenes Rosenbach 1884
1.3.2 Lịch sử nghiên cứu
Streptococcus pyogenes lần đầu tiên được phân lập bởi Billroth năm 1987 ở
những bệnh nhân bị nhiễm trùng vết thương. Năm 1983, Fehleisen đã cô lập sinh
vật dạng chuỗi trong môi trường tổn thương quanh quầng viêm. Năm 1984,