Các đặc tính của hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
T

ĐẠ

C

T T À

C

LÊ TRẦN THANH TRÂM

CÁC ĐẶC TÍNH CỦA HỘ Đ NG QUẢN TRỊ VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG T

Ơ

NAM

LUẬ VĂ T ẠC SĨ KINH T

TP. HỒ CHÍ MINH- NĂM 2018

ẠI VIỆT


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
T

ĐẠ

Tôi cam đoan luận văn “ Các đặc tính của Hội đồng Quản trị và hiệu quả hoạt động của
ngân hàng thương mại Việt Nam” là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hồ Viết Tiến.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung
thực và chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khác.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng

năm 2018

Lê Trần Thanh Trâm


MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU...................................................................................... 1
1.1 Lý do thực hiện đề tài ........................................................................................ 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu .......................................................................................... 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................ 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 3
1.6 Kết quả mong đợi .............................................................................................. 4
1.7 Kết cấu đề tài ..................................................................................................... 5
1.8 Ý nghĩa của nghiên cứu ..................................................................................... 5
CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ...... 5
2.1 Lý thuyết về Hội đồng quản trị, các đặc tính của Hội đồng quản trị ................... 6

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
PHỤ LỤC 4
PHỤ LỤC 5
PHỤ LỤC 6


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HĐQT

Hội đồng Quản trị

TGĐ

Tổng Giám đốc

NHTM

Ngân hàng Thương Mại

TMCP

Thương mại Cổ phần

NHNN

Ngân hàng Nhà nước



Biến giả thể hiện sự độc lập trong Hội đồng Quản trị

IndepDirector

Tỷ lệ các thành viên HĐQT độc lập có trong Hội đồng
Quản trị

PoliticalDirector

Tỷ lệ các thành viên HĐQT có kết nối chính trị có trong
Hội đồng Quản trị

BusyDirector

Tỷ lệ thành viên HĐQT nắm giữ ít nhất ba vị trí quản trị
trở lên ở các công ty khác nhau

ForeignDirector

Tỷ lệ thành viên HĐQT là người nước ngoài có trong
Hội đồng Quản trị

OldDirector

Tỷ lệ thành viên HĐQT là người lớn trên 60 tuổi có
trong

Hội đồng Quản trị


Phần trăm cổ phần nắm giữ bởi cổ đông lớn nhất nếu cổ
đông đó là nhà nước hay cơ quan nhà nước

PLGForeign

Phần trăm cổ phần nắm giữ bởi cổ đông lớn nhất nếu cổ
đông đó là nhà đầu tư nước ngoài

PLGPrivate

Phần trăm cổ phần nắm giữ bởi cổ đông lớn nhất nếu cổ
đông đó là nhà đầu tư tư nhân.

GMM

General Method of Moment

OLS

Ordinary Least Square


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Mô tả về các biến của Hội đồng quản trị và dự đoán mối quan hệ với hiệu
quả hoạt động của ngân hàng ........................................................................................... 24
Bảng 4.1: Thống kê mô tả cho các biến nghiên cứu ........................................................ 30
Bảng 4.2: Hệ số tương quan giữa các biến nghiên cứu.................................................... 32
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến trong các mô hình.................... 33
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan .................................................. 34

Vậy đặc tính nào là cần thiết, quan trọng của đội ngũ quản trị ngân hàng có ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng là một trong những chủ đề đang được
quan tâm hiện nay. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các đặc tính
HĐQT và hiệu quả hoạt động của ngân hàng khá đa dạng, tuy nhiên vẫn còn nhiều
kết quả khác nhau, và chưa đi đến kết luận chung nhất.
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Các đặc tính của Hội đồng Quản trị và hiệu
quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là đề tài nghiên
cứu cho luận văn thạc sỹ của mình. Với mong muốn tìm hiểu về mối quan hệ giữa
các đặc tính của Hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Đồng thời,


2

cung cấp thêm những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các cổ đông hiểu thêm
về cơ cấu Hội đồng quản trị của ngân hàng. Ngoài ra, kết quả của bài nghiên cứu sẽ
cung cấp thêm những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa các đặc tính
HĐQT và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng nhằm giúp cho Ban lãnh đạo của
các ngân hàng có cái nhìn tổng quan hơn trong việc ra quyết định, bổ nhiệm các vị
trí lãnh đạo chủ chốt để điều hành hoạt động ngân hàng của mình nhằm đem lại hiệu
quả hoạt động tốt hơn. Thêm vào đó, giúp cho các cơ quan quản lý trong việc hoạch
định chính sách nhằm giám sát hoạt động của ngân hàng hiệu quả hơn, góp phần
vào sự ổn định kinh tế, xã hội của đất nước.
1.2 Mục tiêu của nghiên cứu
Nhận diện các đặc tính Hội đồng quản trị có mối quan hệ với hiệu quả hoạt
động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.
Cung cấp thêm những bằng chứng có ý nghĩa thực nghiệm tại Việt Nam về
mối quan hệ giữa các đặc tính Hội đồng Quản trị và hiệu quả hoạt động của ngân
hàng.
Cung cấp thông tin hữu ích về cơ cấu Hội đồng quản trị Ngân hàng trong bối
cảnh Việt Nam đang trong quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng với trọng tâm là

phần Việt Nam giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016, chủ yếu tập trung vào giai
đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, do thời gian này Bộ Tài chính ban hành Thông tư
52/2012/TT- BTC ngày 05/04/2012 Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị
trường chứng khoán yêu cầu các công ty phải thực hiện báo cáo và công bố thông
tin định kỳ theo quy định nên nguồn số liệu của thời kỳ này đầy đủ, đồng bộ và có
độ tin cậy cao.
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, phân tích số liệu công bố định kỳ
của 26 ngân hàng thương mại cổ phần giai đoạn từ năm 2006 đến 2016. Dữ liệu đối
với các biến phụ thuộc (ROA, ROE, tỷ lệ lợi nhuận trước dự phòng rủi ro, tỷ lệ nợ
xấu, tổng số nợ xấu) và các biến kiểm soát khác như (quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, tỷ


4

lệ vốn chủ sở hữu) được thu thập từ hệ thống Bankscope và báo cáo tài chính đã
kiểm toán được công bố của từng ngân hàng. Đối với các dữ liệu về đặc tính của
Hội đồng quản trị (quy mô, số lượng các cuộc họp HĐQT, việc Chủ tịch HĐQT
kiêm nhiệm chức danh TGĐ, thành viên HĐQT độc lập, các thành viên HĐQT có
kết nối chính trị, thành viên HĐQT bận rộn, thành viên HĐQT là người nước ngoài,
thành viên HĐQT lớn tuổi, thành viên HĐQT là nữ) tác giả thu thập và xử lý dữ
liệu bằng tay chủ yếu là từ các báo cáo thường niên, báo cáo quản trị định kỳ của
từng ngân hàng. Trường hợp ngân hàng không công bố thông tin đầy đủ, tác giả thu
thập từ các nguồn khác như báo cáo của Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động
năm, Bản cáo bạch của ngân hàng và các thông tin công bố trên các website như
, ...
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu
là phương pháp ước lượng hồi quy dữ liệu bảng bằng phương pháp GMM phát triển
từ nghiên cứu của Arellano and Bover (1995). Phương pháp GMM hữu dụng trong
việc xử lý vấn đề nội sinh, tự tương quan và phương sai thay đổi trong mô hình

nào là quan trọng và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng. Từ đó, ra quyết
định, bổ nhiệm các vị trí lãnh đạo chủ chốt để điều hành hoạt động ngân hàng, đề ra
những giải pháp, chính sách phù hợp nhằm đem lại hiệu quả hoạt động tốt hơn.
Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng giúp cho các cơ quan quản lý trong việc đề ra
những giải pháp, chính sách phù hợp nhằm giám sát hoạt động của ngân hàng hiệu
quả hơn, góp phần vào sự ổn định kinh tế, xã hội của đất nước.


6

CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Chương 1 đã trình bày tổng quan lý do chọn đề tài, mục tiêu và ý nghĩa của
nghiên cứu. Tuy nhiên, để có thể đạt được mục tiêu nghiên cứu cần phải dựa trên
một nền tảng lý thuyết khoa học vững chắc đã được kiểm chứng bởi các nhà nghiên
cứu ở cả trong và ngoài nước. Vì vậy, Chương 2 sẽ tập trung đề cập đến lý thuyết về
Hội đồng quản trị và các đặc tính của Hội đồng quản trị mà có thể tác động đến hiệu
quả hoạt động của ngân hàng. Từ đó phát triển giả thuyết nghiên cứu của tác giả.
2.1 Lý thuyết về Hội đồng quản trị, các đặc tính của Hội đồng quản trị
2.1.1 Khái niệm về Hội đồng quản trị
Khái niệm về Hội đồng quản trị trong Ngân hàng được quy định cụ thể tại
Điều 16 Nghị định 59/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương
mại và điều 43, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12. Cụ thể như sau:
Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị ngân hàng, có toàn quyền nhân danh
ngân hàng để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của ngân hàng, trừ những
vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông (đối với ngân hàng thương mại
cổ phần) hoặc chủ sở hữu (đối với ngân hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng
thương mại 100% vốn nước ngoài được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên) hoặc thành viên góp vốn (đối với ngân hàng thương mại
liên doanh, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được tổ chức dưới hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên).

điểm của mỗi tác giả. Trong bài nghiên cứu của mình, các đặc tính Hội đồng quản
trị được tác giả chọn nghiên cứu là quy mô Hội đồng quản trị, thành phần và chức
năng của Hội đồng quản trị mà có thể ảnh hưởng đến vai trò giám sát và tư vấn của
Hội đồng quản trị đối với Ban giám đốc để đem lại lợi ích lớn nhất cho ngân hàng
và các cổ đông của ngân hàng.
Quy mô Hội đồng quản trị là số lượng thành viên có trong Hội đồng quản trị.
Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương


8

mại, Hội đồng quản trị phải có tối thiểu 03 thành viên và không quá 11 thành viên,
số lượng cụ thể do Điều lệ ngân hàng quy định. Tối thiểu 1/2 (một phần hai) tổng số
thành viên Hội đồng quản trị phải là người không điều hành và thành viên độc lập,
trong đó có tối thiểu 02 thành viên độc lập. Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể là
thành viên độc lập. Ngoài ra, theo điều 130, Thông tư 121/2012/TT- BTC, công ty
đại chúng quy mô lớn và công ty niêm yết phải có ít nhất là 5 thành viên HĐQT và
tối đa 11 thành viên HĐQT.
Thành phần của Hội đồng quản trị bao gồm các đặc tính là thành viên Hội
đồng quản trị độc lập, thành viên HĐQT có kết nối chính trị, thành viên HĐQT là
người nước ngoài, thành viên HĐQT lớn tuổi, thành viên HĐQT là nữ. Thành viên
Hội đồng quản trị độc lập theo nghiên cứu của Qi Liang, Pisun Xu, Pornsit Jaraporn
(2013) được định nghĩa là “những thành viên không có bất kỳ vị trí khác trong các
ngân hàng thương mại, cũng như bất kỳ mối liên hệ với ngân hàng thương mại hay
cổ đông lớn của ngân hàng mà có thể ảnh hưởng xấu đến việc ra những phán quyết
độc lập và vô tư của thành viên ấy đối với hoạt động ngân hàng”. Còn tại Việt Nam,
theo điều 50.2, Luật các Tổ chức tín dụng 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010, để là
một thành viên HĐQT độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau “không phải là
người đang làm việc cho chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín
dụng đó; không phải là người hưởng lương, thù lao thường xuyên của tổ chức tín

(2008) sử dụng một mẫu nghiên cứu gồm 69 Hội đồng Quản trị của các ngân hàng
thương mại lớn từ Canada, Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha và Mỹ trong giai đoạn từ
năm 1995 đến năm 2005. Họ nhận thấy rằng, hiệu quả hoạt động của ngân hàng có
mối liên hệ cùng chiều (+) với số lượng các cuộc họp của HĐQT và có tương quan
hình chữ U đảo ngược với quy mô HĐQT và tỷ lệ các thành viên HĐQT là người
bên ngoài. Pathan (2009) sử dụng một mẫu nghiên cứu gồm 212 các công ty lớn ở
Mỹ, có sở hữu ngân hàng trong giai đoạn từ 1997 đến 2004 và nhận thấy các HĐQT
có quy mô nhỏ có mối liên hệ cùng chiều (+) với việc chấp nhận rủi ro của ngân
hàng. Cornett và cộng sự (2009) khảo sát cách thức mà một cơ cấu HĐQT nhất định
có ảnh hưởng đến việc quản trị lợi nhuận ở các công ty mẹ sở hữu ngân hàng của
Mỹ từ năm 1992 đến năm 2002. Họ nhận thấy rằng sự độc lập của HĐQT sẽ hạn
chế hành vi quản trị lợi nhuận. Adams và Mehran (2012) sử dụng một mẫu 35 công


10

ty mẹ sở hữu ngân hàng (BHCs) có cổ phiếu niêm yết ở Mỹ trong khoảng thời gian
từ năm 1986 đến năm 1999 và khảo sát mối liên hệ giữa quản trị công ty của ngân
hàng và hiệu quả hoạt động. Họ nhận thấy rằng quy mô HĐQT có mối liên hệ cùng
chiều (+) với hiệu quả hoạt động.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của García-Herrero và cộng sự (2009) sử dụng
dữ liệu bảng của 87 ngân hàng Trung Quốc từ năm 1997 đến năm 2004 cho rằng
các ngân hàng có cơ cấu sở hữu ít tập trung vào nhóm cổ đông có xu hướng đạt
được lợi nhuận cao hơn. Fu và Heffernan (2009) điều tra mối quan hệ giữa cấu trúc
thị trường và hiệu quả hoạt động trong hệ thống ngân hàng ở Trung Quốc từ năm
1985 đến năm 2002 và nhận thấy rằng so với hệ thống ngân hàng quốc doanh thì
các ngân hàng cổ phần có hiệu quả và khả năng sinh lời cao hơn. Jia (2009) cung
cấp bằng chứng cho thấy việc cho vay của các ngân hàng thương mại quốc doanh
có rủi ro cao hơn, nhưng qua thời gian thì lại thận trọng hơn, dựa trên một mẫu 14
ngân hàng Trung Quốc từ năm 1985 đến năm 2004. Lin và Zhang (2009) xác nhận

nhân lớn ở Việt Nam với mẫu là 500 DN tư nhân lớn trong năm 2013 cho thấy,
quản trị công ty tốt sẽ mang lại hiệu quả hoạt động tốt hơn cho doanh nghiệp; sự
độc lập của HĐQT không ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động.
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước và đề xuất lý thuyết nghiên cứu của tác
giả
Trọng tâm chính của bài nghiên cứu khảo sát một cách toàn diện các đặc tính
của HĐQT (quy mô, thành phần và chức năng của HĐQT) mà có thể ảnh hưởng
đến việc thúc đẩy các thành viên Hội đồng quản trị để tư vấn và giám sát Ban Giám
đốc một cách hiệu quả.
Trong phần này, nghiên cứu sẽ trình bày các nghiên cứu trước có liên quan
đến đặc tính HĐQT bao gồm: quy mô HĐQT, thành viên HĐQT độc lập, thành viên
HĐQT có kết nối chính trị, thành viên HĐQT lớn tuổi, việc chủ tịch HĐQT kiêm
nhiệm chức danh TGĐ của doanh nghiệp khác, các cuộc họp HĐQT, thành viên
HĐQT bận rộn. Chi tiết được trình bày cụ thể dưới đây:
2.3.1 Quy mô Hội đồng Quản trị


12

Jensen (1993) cho rằng HĐQT của công ty lớn thường ít hiệu quả hơn do các
vấn đề về hợp tác, kiểm soát và sự linh hoạt trong việc ra quyết định, hoặc gây ra sự
kiểm soát quá mức đối với các Tổng Giám đốc (CEOs). Yermack (1996) và
Eisenberg và cộng sự (1998) bổ sung thêm lập luận trên cho rằng các công ty có
quy mô Hội đồng quản trị nhỏ có kết quả kinh doanh vượt trội hơn. Tuy nhiên,
những nhà nghiên cứu khác lại lập luận rằng các Hội đồng quản trị lớn hơn có thể
cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty bằng việc tạo điều kiện giám sát quản lý và
đem lại nguồn nhân lực dồi dào hơn để hỗ trợ và tư vấn cho Ban Giám đốc. Dalton
và cộng sự (1999), Coles và cộng sự (2008) cho rằng quy mô Hội đồng quản trị lớn
tác động cùng chiều (+) lên hiệu quả hoạt động của công ty, đặc biệt đối với các
công ty cần tư vấn nhiều hơn, chẳng hạn các công ty phức tạp hoạt động trong nhiều

H2: Thành viên HĐQT độc lập có mối quan hệ ngược chiều (-) với hiệu quả
hoạt động của ngân hàng.
Ngày càng nhiều nghiên cứu xem xét vai trò của sự kết nối chính trị trong một
nền kinh tế quá độ và tìm ra kết quả về tác động đáng kể của nó lên giá trị công ty.
Firth và cộng sự (2009) mở rộng nghiên cứu đối với ngành ngân hàng ở Trung
Quốc và tìm thấy rằng sự kết nối chính trị ảnh hưởng đến quyết định cho vay của
các ngân hàng đối với khu vực tư nhân. Nhưng lại có rất ít nghiên cứu điều tra về sự
kết nối chính trị của các thành viên HĐQT, trừ một ngoại lệ đáng chú ý là công
trình của Boubakri và cộng sự (2008). Bằng việc sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 245
công ty phi ngân hàng trên 41 quốc gia, nghiên cứu cho thấy rằng các công ty mới
cổ phần hóa gần đây mà vẫn duy trì sự kết nối chính trị thông qua Hội đồng quản trị
hoạt động kém hơn các đối tác không kết nối chính trị của họ. Một loạt các cải cách
đã được giới thiệu với mục tiêu chuyển đổi ngành ngân hàng Trung Quốc từ một hệ
thống được chính phủ kiểm soát hoàn toàn thành một hệ thống thương mại theo
định hướng thị trường. Tuy nhiên, các thành viên HĐQT có kết nối chính trị có thể
giảm hiệu quả của việc cải cách. Các thành viên HĐQT có kết nối chính trị cho
phép chính phủ can thiệp nhiều hơn vào việc ra quyết định của ngân hàng và có các
cơ chế khuyến khích ngân hàng này thực hiện các mục tiêu của chính phủ. Các ngân
hàng với thành viên HĐQT có kết nối chính trị có nhiều khả năng sẽ theo đuổi mục


14

tiêu chính trị và xã hội bằng chi phí ngân hàng, điều này sẽ gây bất lợi cho hiệu quả
hoạt động của ngân hàng. Do vậy, tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu là:
H3: Thành viên HĐQT có kết nối chính trị có mối quan hệ ngược chiều (-) với
hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Thành viên HĐQT là người nước ngoài có thể mang lại công nghệ mới và kỹ
thuật quản lý hiện đại, tăng cường quản trị công ty, phát huy tốt hơn việc giám sát
và sau đó nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty. Bằng việc sử dụng mẫu nghiên

công ty là khác nhau. Sự đa dạng giới tính cải thiện hiệu quả hoạt động ở các công
ty mà hệ thống quản trị yếu kém, được đo bằng khả năng để chống lại việc mua bán,
sáp nhập nhưng giảm giá trị của các cổ đông ở các công ty có hệ thống quản trị
mạnh. Sự tác động của các thành viên HĐQT là nữ vào hiệu quả hoạt động của
ngân hàng trở thành một câu hỏi mở. Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả đưa ra
giả thuyết nghiên cứu là:
H6: Thành viên HĐQT là nữ có mối quan hệ cùng chiều (+) với hiệu quả hoạt
động của ngân hàng.
2.3.3 Chức năng của Hội đồng Quản trị:
Jensen (1993) lập luận rằng việc Chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm Tổng giám đốc
hay bổ nhiệm kép của Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc, tập trung quá nhiều
quyền lực vào một cá nhân có thể là nguyên nhân của việc ra quyết định không đem
lại lợi ích tốt nhất đối với các cổ đông thiểu số. Yermack (1996) bổ sung thêm cho
rằng việc Chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm Tổng giám đốc giảm đi sự độc lập của Hội
đồng quản trị. Trong ngành ngân hàng, Pi và Timme (1993) cho rằng hiệu quả chi
phí và lợi nhuận trên tổng tài sản thấp hơn khi Tổng giám đốc đóng vai trò như Chủ
tịch HĐQT trong ngành ngân hàng Mỹ. Một quan điểm mâu thuẫn cho rằng việc
phân chia vai trò của Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc có thể tạo ra những vấn đề
trong việc ra quyết định nếu hai vị trí quyền lực này không đồng thuận về chiến
lược. Brickley và cộng sự (1997) tìm thấy ít bằng chứng cho rằng việc kết hợp hay
phân chia chức danh ảnh hưởng đến việc quản trị doanh nghiệp. Ngược lại, Goyal
và Park (2002) cho rằng ảnh hưởng của việc Tổng giám đốc từ nhiệm lên hiệu quả


16

hoạt động sẽ thấp hơn khi các chức danh nói trên được kết hợp. Tương tự như vậy,
Adams và cộng sự (2005) tìm thấy bằng chứng cho rằng các Tổng giám đốc cũng
nắm giữ chức vụ Chủ tịch HĐQT dường như có ảnh hưởng lớn hơn đến việc ra
quyết định của công ty. Do vậy, tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu là:

ảnh hưởng đến khả năng của thành viên HĐQT đó để thực hiện nhiệm vụ giám sát
một cách hiệu quả. Hoạt động kinh doanh phức tạp và không rõ ràng của các ngân
hàng có thể đòi hỏi nhiều thời gian và sự quan tâm hơn từ các thành viên HĐQT để
đảm bảo vai trò kiểm soát và tư vấn một cách đầy đủ, hiệu quả hơn. Vì vậy, tác giả
kỳ vọng các thành viên HĐQT bận rộn sẽ có tác động tiêu cực (-) vào hiệu quả hoạt
động của ngân hàng. Do vậy, tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu là:
H9: Thành viên HĐQT bận rộn có mối quan hệ ngược chiều (-) với hiệu quả
hoạt động của ngân hàng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status