Tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi việt nam theo phương pháp dạy học montessori - Pdf 50

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

NGUYỄN THỊ THU TRANG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG
SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI VIỆT NAM
THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MONTESSORI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI - 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

NGUYỄN THỊ THU TRANG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG
SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI VIỆT NAM
THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MONTESSORI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non


không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của
mình.
Xuân Hòa ngày 22 tháng 4 năm 2018
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Trang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 2
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu .............................................. 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 3
5. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 3
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 3
7. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 4
8. Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp ........................................................................... 4
NỘI DUNG ........................................................................................................... 5
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÌNH
THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI VIỆT NAM THEO
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MONTESSORI ..................................................... 5
1.1. Phương pháp giáo dục Montessori ................................................................. 5
1.1.1. Khái niệm .................................................................................................... 5
1.1.2. Bản chất của phương pháp Montessori ....................................................... 6
1.1.3. Đặc trưng của phương pháp Montessori ..................................................... 8
1.1.4. Vai trò của phương pháp dạy học Montessori đối với việc hình thành biểu
tượng toán học cho trẻ ........................................................................................... 9
1.1.5. Bộ giáo cụ Montessori .............................................................................. 10
1.2. Sự phát triển biểu tượng số lượng của trẻ em lứa tuổi mầm non nói chung và

2.1. Các nguyên tắc xây dựng qui trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng
số lượng cho trẻ 5-6 tuổỉ Việt Nam theo phương pháp dạy học Montessori ...... 34
2.1.1. Tuân theo quy luật nhận thức của lứa tuổi trẻ........................................... 34
2.1.2. Phù hợp với nội dung và góp phần thực hiện nội dung chương trình hình
thành biểu tượng số lượng cho trẻ Việt Nam ...................................................... 35


2.1.3. Phát triển khả năng độc lập, tích cực của trẻ trong quá trình học, đảm bảo
được nguyên tắc cá biệt hóa trong dạy trẻ .......................................................... 36
2.2. Đề xuất Qui trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ
5-6 tuổi Việt Nam theo phương pháp dạy học Montessori ................................. 37
2.2.1. Giai đoạn 1: Xây dựng môi trường tổ chức hoạt động hình thành biểu
tượng số lượng theo phương pháp dạy học Montessori ...................................... 37
2.2.2. Giai đoạn 2: Giáo viên tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng
cho trẻ theo phương pháp giáo dục Montessori .................................................. 40
Kết luận chương 2 ............................................................................................... 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................. 50
1. Kết luận chung ................................................................................................ 50
2. Kiến nghị ......................................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 53
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thực trạng hiểu biết về số và số lượng của trẻ 5-6 tuổi ..................... 26
Bảng 1.2: Mục đích tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổi Việt Nam theo phưong pháp dạy học Montessori .................................... 27
Bảng 1.3: Mức độ sử dụng giáo cụ Montessori trong hoạt động hình thành biểu
tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi ........................................................................... 28
Bảng 1.4: Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học trong quy trình tổ chức
hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi ................................ 29

viên chưa biết cách lựa chọn và sử dụng các phương pháp, biện pháp tiên tiến
của Việt Nam và trên thế giới để dạy trẻ 5-6 tuổi sao cho phù hợp. Hơn nữa,

1


giáo viên cũng chưa tổ chức được môi trường giáo dục cho trẻ phù hợp với điều
kiện thực tiễn. Vì vậy hiệu quả của quá trình dạy học chưa cao, trẻ tiếp thu một
cách thụ động, máy móc, chưa phát huy được hết khả năng của trẻ.
Bên cạnh đó, phương pháp Montessori là phương pháp giáo dục sớm cho
trẻ, phương pháp này lấy khả năng tự học của trẻ làm nền tảng cơ sở, khai thác
tiềm năng sẵn có của trẻ, không áp đặt bất cứ hành động gì, chỉ quan sát, gợi ý,
khuyến khích, động viên để trẻ tự phát triển và chủ động hòa nhập với môi
trường xung quanh. Phương pháp giáo dục sớm Montessori mang đến cho trẻ rất
nhiều lợi ích ví dụ như: trẻ ham mê khám phá và giải quyết vấn đề bằng các
dụng cụ học tập một cách độc lập; trẻ biết cách tự hợp tác và thỏa hiệp; trẻ được
phát triển toàn diện và phát triển các giác quan một cách tinh tế nhất; trẻ biết tất
cả các khía cạnh của môi trường học tập và văn hóa của mình trên góc độ riêng
của bản thân; trẻ tự có mục tiêu để hướng tới và hoàn toàn có thể phát triển các
kỹ năng tự đánh giá sự tiến bộ và khả năng của mình.
Dựa và những lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn vấn đề “Tổ chức hoạt
động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Việt Nam
theo phương pháp dạy học Montessori” làm nội dung nghiên cứu của đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu qui trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho
trẻ 5-6 tuổi Việt Nam theo phương pháp dạy học Montessori nhằm nâng cao
mức độ hình thành biểu tượng số lượng và con số của trẻ, qua đó góp phần giáo
dục nhận thức, giáo dục toàn diện nhân cách trẻ.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu

hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi.
6.2.3. Phương pháp thống kê
Xử lý số liệu để bước đầu đánh giá định tính và định lượng về kết quả thu
được.
6.2.4. Phương pháp khảo sát
Khảo sát về mức độ hình thành biểu tượng số lượng của nhóm trẻ 5-6 tuổi
ở trường mầm non.

3


7. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng qui trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng
cho trẻ 5-6 tuổi Việt Nam theo phương pháp dạy học Montessori theo hướng
xây dựng môi trường tổ chức hoạt động học tập với các giáo cụ Montessori và
giáo cụ sáng tạo kết hợp với việc tổ chức các hoạt động hình thành biểu tượng
số lượng cho trẻ nhằm kích thích khả năng nhận biết số lượng và tính tích cực
nhận biết của từng cá nhân giúp phát triển mức độ nhận biết biểu tượng số lượng
cho trẻ.
8. Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo khóa luận dự kiến gồm
2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động hình thành biểu
tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi Việt Nam theo phương pháp dạy học
Montessori.
Chương 2: Đề xuất qui trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số
lượng cho trẻ 5-6 tuổi Việt Nam theo phương pháp dạy học Montessori.

4


5


hướng thích gần gũi thiên nhiên, thích khám phá, thao tác với môi trường xung
quanh, thích hành động lặp lại, thích giao tiếp, trí tuệ toán học, tính chính xác,
tính trừu tượng, tính định hướng của hoạt động và tính trật tự. Trên cơ sở đó bà
cho rằng nếu trẻ được tự do lựa chọn và hoạt động trong môi trường được chuẩn
bị kỹ càng, phù hợp với khả năng và giai đoạn phát triển thì sẽ phát huy được tối
đa tiềm năng của trẻ. Do đó môn chỉ hoạt động trong lớp học Montessori là các
hoạt động của trẻ mang tính xây dựng, tự do không bị áp đặt và được tổ chức
dựa trên nguyên tắc chính là: trẻ được tự do hoạt động bằng các giác quan,
không bị ngắt quãng quá trình “làm việc” giữa lớp học trộn lẫn các độ tuổi với
nhau và trẻ học khái niệm thông qua trải nghiệm thực tiễn với các học cụ chuyên
biệt do bà cùng các cộng sự nghiên cứu xây dựng.
1.1.2. Bản chất của phương pháp Montessori
Triết lý giáo dục của Montessori
- Triết lý giáo dục của Montessori coi trọng hai năng lực nội sinh cho sự
phát triển của một đứa trẻ là: quá trình nhận biết và khả năng nhận thức. Trẻ em
có năng lực trí tuệ và khả năng nhận thức riêng để học hỏi và tiếp thu kiến thức
từ chính môi trường của trẻ không giống như năng lực nhận thức của người lớn.
Trong môi trường đó trẻ em có thể sáng tạo và hoạt động theo ý tưởng của mình.
Trẻ em cũng có đời sống tinh thần riêng, vừa có năng lực học tập vừa có tinh
thần sẵn sàng học hỏi. Trẻ em có khả năng tiếp thu trực giác, tự nhận thức thông
qua các hoạt động độc lập, những gì trẻ tự thực hiện sẽ tác động đến việc hình
thành tính cách của trẻ, trẻ tự nhận thức được giá trị của bản thân, chúng cảm
thấy việc lao động không còn là gánh nặng đối với chúng.
- Phương pháp Montessori nhằm hướng tới sự phát triển tổng thể tính
cách của trẻ dựa trên ba lĩnh vực: sự vận động của cơ thể, kích thích giác quan
và cách phát huy hoạt động trí tuệ. Sự phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh
thần giúp cho trẻ trở thành một con người toàn diện có tri thức và sức khỏe.

say mê khám phá ngay từ khi còn rất nhỏ nên chúng cần người lớn hướng dẫn
những hoạt động có chủ đích. Với những trẻ khuyết tật trí tuệ thì khả năng tập
chung của trẻ không cao nên nếu như người lớn biết cách tổ chức và hướng trẻ
vào hoạt động thì các em sẽ rất hứng thú.

7


Như vậy, thông qua các nội dung trong triết lý giáo dục của Montessori
nêu trên có thể thấy rằng phương pháp Montessori có nhiều ưu thế trong việc
giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ.
1.1.3. Đặc trưng của phương pháp Montessori
- Phương pháp Montessori ra đời dựa trên những quan sát về bản chất tự
nhiên của trẻ.
- Ứng dụng của phương pháp Montessori là phổ quát. Kết quả đạt được
thành công với trẻ em thuộc bất cứ quốc gia nào, thuộc tất cả các chủng tộc, tín
ngưỡng, văn hoá hay điều kiện xã hội nào.
- Trẻ được học về sự tử tế, sự thanh thản và cách sống hòa bình.
- Phương pháp Montessori cho thấy đứa trẻ như một người yêu công việc,
làm việc với cả trí tuệ và sự tinh thông của cơ thể (đặc biệt là đôi bàn tay). Công
việc này được trẻ tự do lựa chọn và thực hiện với niềm vui sâu sắc.
- Thông qua công việc của mình, đứa trẻ cho thấy sự kỷ luật tự phát. Kỷ
luật này bắt nguồn từ trẻ và không bị áp đặt từ bên ngoài. Kỷ luật này là có thật,
trái với kỷ luật nhân tạo của phần thưởng và hình phạt.
- Cung cấp những công việc cho trẻ dựa trên sự thúc giục bên trong của
mỗi trẻ ở mỗi giai đoạn phát triển. Mỗi giai đoạn cần được hoàn thành trước khi
qua giai đoạn kế tiếp.
- Cung cấp cho trẻ một sự tự giác tối đa trong việc lựa chọn hoạt động thể
chất và tinh thần. Tuy nhiên, đứa trẻ vẫn đạt được trình độ học vấn tương đương
hoặc cao hơn như trong các hệ thống giáo dục truyền thống.

biểu tượng toán học cho trẻ
- Trẻ ham mê khám phá và giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng các dụng
cụ học tập thiết thực nhằm phát triển sự kết hợp, tập trung, yêu cầu và cách tiếp
cận học tập một cách độc lập.
- Trẻ có thể hiểu các biểu tượng toán, khái niệm về lượng trong toán
thông qua các hoạt động với giáo cụ trong góc toán của lớp học. Qua đó trẻ hiểu
được nguyên lí của toán và thực hiện được những phép tính một cách dễ dàng.

9


Ngoài ra khi làm việc với giáo cụ trong góc toán, trẻ phát triển khả năng tư duy,
suy luận, trẻ hiểu rõ một quá trình thông qua việc lặp đi lặp lại công việc.
- Trẻ biết cách tự hợp tác và thỏa hiệp với các bạn trong quá trình học tập
và khám phá.
- Trẻ phát triển toàn diện về: Thính giác, thị giác, vận động từ các dụng cụ
học tập thiết kế riêng biệt theo phương pháp giáo dục Montessori. Trẻ có cảm
nhận về giác quan một cách tinh tế nhất.
- Trẻ hiểu biết tất cả các khía cạnh của môi trường học tập và văn hóa của
mình trên góc độ riêng của bản thân. Phương pháp dạy học Montessori giúp trẻ
yêu thích toán học với một thái độ tích cực, giúp trẻ hiểu biết toán học dưới
dạng hệ thống các biểu tượng toán học sơ đẳng, nhờ vậy giúp trẻ hiểu biết tốt
hơn về thế giới xung quanh của mình, giúp trẻ nắm được kiến thức ban đầu một
cách hứng thú và tích cực.
- Trẻ tự có mục tiêu để hướng tới và hoàn toàn có thể phát triển các kỹ
năng tự đánh giá sự tiến bộ và khả năng của mình. Phương pháp này có cơ sở để
đánh giá tiến độ phát triển của từng giai đoạn của trẻ.
- Phương pháp dạy học này hướng tới kích thích trẻ say mê tìm tòi, khám
phá và trải nghiệm với sự tham gia tích cực của các giác quan, hướng tới lấy
hoạt động của trẻ làm trung tâm, nghĩa là: trẻ tự hoạt động, tự tìm tòi, nghiên

chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng
1.2.1. Khái niệm “biểu tượng”
Theo từ điển Tiếng Việt [16 tr.30], “Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng,
là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ
lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào các giác quan đã chấm dứt”.
Theo từ điển tâm lý học “Biểu tượng là hình ảnh của các vật thể, cảnh
tượng và sự xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng. Khác với tri giác, biểu
tượng có thể mang tính khái quát. Nếu chi giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì
biểu tượng liên quan cả đến quá khứ và tương lai”. [15 tr.22]
Trong triết học thì biểu tượng là một hình ảnh của khách thể đã được tri
giác còn lưu lại trong bộ óc con người và do một tác động nào đó được tái hiện,

11


nhớ lại. Biểu tượng cũng như cảm giác , tri giác “là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan”. Nhưng khác với cảm giác và tri giác, biểu tượng phản ánh
khách thể một cách gián tiếp, là “hình ảnh của hình ảnh”. Ngoài ra, bằng tưởng
tượng từ những biểu tượng cũ, con người có thể sáng tạo ra những biểu tượng
mới. [16]
Trong tâm lý học thì biểu tượng là sản phẩm của quá trình trí nhớ và
tưởng tượng. Biểu tượng làm hiện ra trong óc cá nhân một cách nguyên vẹn
hoặc có sáng tạo những hình ảnh của sự vật hay hình ảnh mà ta tri giác trước kia
mặc dù không có những thuộc tính cụ thể của các sự vật, hiện tượng đó tác động
trực tiếp vào cơ quan cảm giác. Biểu tượng là kết quả của sự chế biến và tổng
quát những hình ảnh tri giác đã tạo ra. Biểu tượng giống sự lưu ảnh của tri giác
là chúng đều phản ánh thế giới khách quan dưới hình thức hình ảnh cụ thể.
Như vậy,biểu tượng là những hình ảnh của sự vật,hiện tượng của thế giới
xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước
đó được lưu giữ lại trong ý thức hay là hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở

nhận biết riêng từng vật, sớm phân biệt một vật với nhiều vật và có phản ứng
trước sự khác nhau về số lượng các nhóm vật.
Trẻ hai tuổi đã tích lũy được nhiều biểu tượng về số lượng các nhóm vật
các âm thanh, các chuyển động, trẻ thích thú tạo ra số nhiều các nhóm vật giống
nhau, dịch chuyển chúng từ chỗ này đến chỗ khác...Trong quá trình thao tác,
hoạt động với đồ vật ở trẻ hình thành hứng thú phân biệt các nhóm vật có số
lượng là một và nhiều, trẻ lĩnh hội được từ “một” và “nhiều”.
Trẻ ba tuổi đã phân biệt được các khái niệm: Một, nhiều, ít và dễ dàng
thực hiện các nhiệm vụ được giao như: mang cho cô một gấu bông, mang cho cô
nhiều búp bê...; trẻ đã có phản ứng với những câu hỏi “có bao nhiêu” “có mấy”.
Một số trẻ còn sử dụng được các từ số như “ba”, “năm”, nhưng không có nghĩa
là trẻ hiểu các con số và phép đếm bởi các con số này không ứng với các nhóm
đối tượng tương ứng.
Điều này chứng tỏ, trẻ đã có những suy nghĩ liên quan đến câu hỏi về số
lượng của nhóm đối tượng nhưng còn phản ánh thiếu chính xác số lượng của

13


chúng. Như vậy, sự hình thành biểu tượng số lượng ở trẻ mầm non diễn ra trên
cơ sở trè thực hành thao tác với các nhóm vật. Tuy nhiên, mới đầu biểu tượng về
số lượng của trẻ còn rất phân tán, không cụ thê và thiếu chính xác, trẻ chưa nhận
biết rõ ràng số lượng cũng như giới hạn cùa các nhóm vật. Vì vậy trẻ nhỏ
thường không nhận thấy sự biến mất của một số vật trong nhóm. Ví dụ: trẻ có
rất nhiều viên bi nhưng nếu ta lấy bớt bi đi thi trẻ vẫn không nhận ra sự biến mất
đó.
Mức độ phát triển biểu tượng số lượng ở trẻ tương ứng với việc trẻ sử
dụng lời nói để diễn đạt chúng. Có thể thấy sự tri giác số nhiều không xác định
đặc trưng cho trẻ 2 tuổi, nên cần thiết phải dạy trẻ tri giác tập hợp như một thể
trọn vẹn bởi sự sắp đặt các nhóm vật có ảnh hưởng lớn tới sự tri giác tập hợp. Sự

sẽ nhanh chóng khắc phục nếu người lớn dạy trẻ. Trẻ độ tuổi này chưa có khả
năng đếm số lượng lớn các vật, vì thế, chúng ta chỉ nên dạy trẻ đếm trong phạm
vi 5.
Trẻ 4-5 tuổi, những biểu tượng về tập hợp được phát triển và mở rộng
dần, trẻ có khả năng nhận biết tập hợp ngay cả khi tập hợp có những phần tử
không giống nhau. Ví dụ: Tập hợp các loại quả gồm các quả dài, quà tròn
màu sắc khác nhau, như vậy chứng tỏ trẻ có khả năng nhận biết dấu hiệu chung
của tập hợp. Trẻ có khả năng phân tích từng phần tử của tập hợp biết đánh
giá độ lớn của chúng theo số lượng các phần tử của tập hợp. Trẻ lứa tuổi này
đã nắm và sử dụng tốt biện pháp thiết lập tương ứng 1:1 giữa các phần tử của
tập hợp. Trẻ nắm được phép đếm, phân biệt được quá trình đếm và kết quả phép
đếm, hiểu được ý nghĩa khái quát của con số - là chỉ số cho số lượng các phần tử
của tập hợp. Trẻ hiểu rằng các tập hợp có số phần tử bằng nhau sẽ được biểu thị
bằng cùng một số, còn các tập hợp có số phần tử khác nhau sẽ được biểu thị
bằng các số khác nhau. Trẻ ở độ tuổi này có khả năng đếm đến 10, nhận biết các
chữ số trong phạm vi 5.
Trẻ 5-6 tuổi có khả năng phân tích chính xác các phần tử của tập hợp, các
tập con trong tập lớn. Trẻ khái quát được một tập lớn gồm nhiều tập con và
ngược lại nhiều tập hợp riêng biệt có thể gộp lại với nhau theo một đặc điểm

15


chung nào đó để tạo thành một tập hợp lớn. Khi đánh giá độ lớn của tập hợp trẻ
mẫu giáo lớn ít bị ảnh hưởng các yếu tố như: màu sắc, kích thước, vị trí sắp đặt
của các phần tử trong tập hợp.
Hoạt động đếm xác đinh số lượng đã phát triển lên một bước mới, trẻ có
hứng thú đếm và phần lớn nắm được trình tự của các con sổ từ 1 đến 10 và còn
nhiều số hơn; trẻ biết thiết lập tương ứng 1:1 trong quá trình đếm, mỗi từ số ứng
với một phần tử của tập hợp mà trẻ đếm. Trẻ không chi hiểu rằng, khi đếm thi số

biến đổi đối tượng theo mục đích đặt ra của chủ thể. Quá trình này có thể tạo ra
sản phẩm vật chất hoặc tinh thần cho thế giới. Song song với quá trình chủ thể
hóa là quá trình đối tượng hóa. Đối tượng mới tác động ngược trở lại chủ thể,
làm thay đổi nhận thức của chủ thể, tạo nên cách nhìn mới, quan niệm mới.
Thực chất của quá trình hình thành ở trẻ những biểu tượng sơ đẳng về tập
hợp, con số, phép đếm là quá trình tổ chức các hoạt động nhận biết số lượng,
mối quan hệ số lượng, nhận biết con số và phép đếm cho trẻ mẫu dưới sự tổ
chức, hướng dẫn, điều khiển, đánh giá của giáo viên trong quá trình dạy học ở
trường mầm non. Hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ ở trường
mầm non đóng vai trò quan trọng đối vói sự phát triển nhận thức, phát triển trí
tuệ của trẻ nói riêng và nhân cách trẻ nói chung, hơn nữa nó còn góp phần hình
thành ở trẻ những tiền đề mới của hoạt động học tập. Quá trình hình thành biểu
tượng số lượng sơ đẳng cho trẻ mầm non thực hiện nội dung chương trình hình
thành biểu tượng số lượng cho tré 5-6 tuổi, bao gồm:
- Đếm trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng.
- Nhận biết các chữ số, số lượng và số thứ tự trong phạm vi 10.
- Gộp các nhóm đối tượng và đếm.
- Tách một nhóm thành hai nhóm nhỏ bằng các cách khác nhau.
- Nhận biết ý nghĩa các con số được sử dụng trong cuộc sống hằng ngày.
Nội dung hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 - 6 tuổi không chỉ bao
gồm những kiến thức, kỹ năng (đếm, tính toán) mà còn bao gồm cả những biện
pháp hoạt động thực tiễn, hoạt động trí tuệ, tất cả những điều đó là cơ sở để góp
phần giáo dục toàn diện nhân cách trẻ và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status