TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
BÙI THỊ GIANG
PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG SO SÁNH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG
HÌNH DẠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
CAM
ĐOAN
KHOALỜI
GIÁO
DỤC
MẦM NON
======
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các kết quả nghiên
cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
BÙI THỊ GIANG
non Tích Sơn – Vĩnh Yên – Vĩnh phúc đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận
lợi nhất cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận. Trong
quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Kính mong
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Bùi Thị Giang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 2
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .................................................................. 2
5. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 2
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 3
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận .......................................................... 3
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn ...................................................... 3
7. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 3
8. Cấu trúc khóa luận............................................................................................. 4
NỘI DUNG ........................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG SO
SÁNH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU
TƯỢNG HÌNH DẠNG ......................................................................................... 5
1.1. Một số khái niệm cơ bản ................................................................................ 5
1.1.1. So sánh ........................................................................................................ 5
1.1.2. Kĩ năng so sánh ........................................................................................... 5
thức, độc lập, sáng tạo ......................................................................................... 28
2.2. Đề xuất một số biện pháp phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong
hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng........................................................ 29
2.2.1. Biện pháp 1: Tạo tình huống có vấn đề nhằm kích thích hứng thú so sánh
cho trẻ và giúp trẻ nắm được ý nghĩa của việc so sánh hình dạng giữa các vật,
các nhóm đối tượng. ............................................................................................ 29
2.2.2. Biện pháp 2: Sử dụng vấn đáp tìm tòi để kích thích trẻ tìm kiếm phương
thức so sánh hình dạng ........................................................................................ 32
2.2.3. Biện pháp 3: Sử dụng hệ thống các trò chơi học tập nhằm cho trẻ luyện
tập so sánh hình dạng .......................................................................................... 33
2.2.4. Biện pháp 4: Sử dụng hệ thống các bài tập so sánh hình dạng theo hướng
đa dạng và phức hợp dần nhằm phát triển và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện
nhiệm vụ so sánh của trẻ ..................................................................................... 35
2.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi
trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng .............................................. 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................... 37
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ....................................................... 38
3.1. Mục đích thực nghiệm.................................................................................. 38
3.2. Nội dung thực nghiệm .................................................................................. 38
3.3. Quy mô và địa bàn thực nghiệm .................................................................. 38
3.4. Phương pháp và kĩ thuật tiến hành ............................................................... 39
3.5. Phân tích kết quả thực nghiệm ..................................................................... 40
3.5.1. Kết quả khảo sát trước thực nghiệm ......................................................... 40
3.5.2. Kết quả khảo sát sau thực nghiệm............................................................. 41
3.5.3. So sánh biểu hiện của trẻ các nhóm TN với trẻ các nhóm ĐC sau khi thực
nghiệm ................................................................................................................. 42
3.5.4. Sự phát triển một số kĩ năng khi cho trẻ thực hiện kĩ năng so sánh ......... 43
3.5.5. Tác dụng của việc sử dụng các biện pháp so sánh trong việc phát triển kĩ
: Số lượng
TL
: Tỉ lệ
GV
: Giáo viên
BT
: Biểu tượng
BP
: Biện pháp
BTHD: Biểu tượng hình dạng
TN
: Thực nghiệm
ĐC
: Đối chứng
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
do đó các biện pháp được giáo viên sử dụng vào quá trình dạy học nhằm phát
triển kĩ năng so sánh cho trẻ còn chưa tốt và mang tính rập khuôn, máy móc. Do
vậy, tính linh hoạt trong sự vận dụng kĩ năng này của trẻ vào nhiều tình huống
cụ thể, đa dạng còn thấp, kết quả so sánh vẫn hạn chế.
Với tất cả các lí do nêu trên tôi quyết định chọn đề tài “Phát triển kĩ năng
so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng” làm
nội dung nghiên cứu của để tài.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6
tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng nhằm phát triển tư duy
cho trẻ.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lí luận của việc phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi
trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
- Nghiên cứu thực trạng phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong
hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6
tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5
– 6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6
tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ
5 – 6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
5. Phạm vi nghiên cứu
Một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng so sánh của trẻ 5 – 6 tuổi trong
hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng trên hoạt động học tập có chủ đích.
2
3
năng so sánh của trẻ từ đó phát triển tư duy cho trẻ nói chung và trẻ mẫu giáo
lớn ( 5 – 6 tuổi ) nói riêng sẽ được nâng cao.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo thì khóa luận được cấu
trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6
tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng
Chương 2: Đề xuất biện pháp phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi
trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG SO
SÁNH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH
BIỂU TƯỢNG HÌNH DẠNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. So sánh
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về so sánh như:
Cuốn Từ điển tâm lý học do tác giải Vũ Dũng làm chủ biên định
nghĩa “So sánh – Một trong những thao tác tư duy làm chức năng đối chiếu các
đối tượng để phát hiện ra những nét khác nhau giữa chúng” [4, tr 240]
Theo E.Durkheim thì “So sánh là phương pháp thực nghiệm gián tiếp”
[Dẫn theo Lê Đức Phúc, 29]. Một số tác giả khác thì xem so sánh là “Nhìn cái
này mà xem xét cái kia để thấy sự giống và khác nhau hoặc sự hơn kém” [10, tr
kết quả thực hiện nhiệm vụ so sánh xem có đúng hay không, chủ thể so sánh có
tìm ra chính xác các thuộc tính giống – khác nhau giữa các đối tượng cần so
sánh hay không.
- Tính đa dạng trong việc thực hiện nhiệm vụ so sánh: Tính đa dạng này
được thể hiện qua số lượng các dấu hiệu, chủng loại đối tượng so sánh và nó thể
hiện sự vận dụng kĩ năng so sánh của chủ thể vào nhiều đối tượng khác nhau. Số
lượng các dấu hiệu mà trẻ cần định hướng khi so sánh càng đa dạng, phức tạp thì
mức độ so sánh càng cao. Trong đó so sánh giữa hai đối tượng đơn lẻ là mức độ
đơn giản nhất.
- Phương tiện được sử dụng để so sánh: Các phương tiện được sử dụng để
so sánh càng mang tính khái quát hóa, trừu tượng hóa thì mức độ khó của nhiệm
vụ so sánh càng cao.
- Tốc độ thực hiện nhiệm vụ so sánh nhanh hay chậm.
- Tính độc lập của chủ thể khi thực hiện nhiệm vụ so sánh.
6
1.1.3. Phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ mầm non
Trong phép biện chứng duy vật “phát triển dùng để chỉ quá trình vận động
theo chiều hướng đi lên của sự vật: từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn”. Các kĩ
năng của trẻ nói chung và kĩ năng so sánh cho trẻ mầm non nói riêng cũng cần
phải được phát triển.
Phát triển các kĩ năng so sánh cho trẻ mầm non là vô cùng quan trọng với
việc học của trẻ. Giúp cho trẻ mở rộng được tầm hiểu biết của tư duy về các vật
thể có trong môi trường xung quanh.
Kĩ năng so sánh rất quan trọng trong quá trình tư duy của trẻ cho phép trẻ
nhận biết và giải quyết các vấn đề. Việc phát triển kĩ năng so sánh được mở rộng
thông qua việc học toán và khám phá khoa học, xã hội.
Bên cạnh đó các kĩ năng so sánh của trẻ không ngừng phát triển, phụ
1.2. Mối quan hệ giữa kĩ năng so sánh với các hoạt động tư duy khác
Để giải quyết một vấn đề cần kết hợp rất nhiều các thao tác của tư duy.
Việc kết hợp giúp cho thời gian giải quyết vấn đề được rút ngắn và tạo ra kết
quả chính xác nhất, hợp lý nhất. Như vậy, so sánh cũng không bao giờ được
thực hiện một cách tách biệt mà nó có mối quan hệ nhất định với các giai đoạn,
thao tác tư duy khác. Quá trình tư duy bao gồm 5 thao tác cơ bản là: phân tích,
tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa.
*Về mối quan hệ giữa so sánh và phân tích, tổng hợp:
Phân tích là quá trình con người dung trí óc phân chia đối tượng nhận thức
thành nhiều bộ phận, thành phần, tách ra trong đối tượng nhận thức các yếu tố,
các thuộc tính, các mối quan hệ nhất định. Trong đó có thuộc tính cơ bản nhất,
quan trọng nhất nổi lên hàng đầu cần phải quan tâm đối với tư duy.
Tổng hợp là quá trình con người dung trí óc để hợp nhất các bộ phận, yếu
tố, thành phần đã được tách ra ở giai đoạn phân tích nhằm tạo thành một tổng
thể tư duy.
Phân tích – tổng hợp là bước đầu cho sự phát triển tư duy logic ở trẻ 5 tuổi,
mà trước đó là tư duy tiền logic ở trẻ dưới 5 tuổi. Trước đây ở lứa tuổi nhỏ hơn,
với tư duy trực quan thì trẻ chỉ có những hình ảnh trong tâm trí khi thấy được
8
những hình ảnh cụ thể trước mắt, chưa có được sự liên tưởng giữa các hình ảnh
mà trẻ đã nhìn thấy trước đó để tạo nên một chuỗi các hoạt động xảy ra theo
trình tự thời gian. Cái nhìn của trẻ là một cái nhìn tổng thể, chưa có khả năng
phân tích.
Nhờ so sánh mà ta biết được những dấu hiệu giống nhau và khác nhau, cái
chung và cái riêng. Đồng thời, bằng so sánh chủ thể có thể tiếp thu được tất cả
tính đa dạng, độc đáo của dấu hiệu và thuộc tính của đối tượng.
Ngược lại, thao tác so sánh có liên quan chặt chẽ với thao tác phân tích –
triển tư duy gắn liền với sự phát triển ngôn ngữ. Với vị trí là một thao tác tư duy
cơ bản, so sánh góp phần thúc đẩy cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ được thuận
lợi và đạt kết quả. Ngược lại, vì so sánh cần phải được tiến hành khi trẻ có ngôn
ngữ nên ngôn ngữ là điều kiện, phương tiện và là kết quả của quá trình so sánh.
Nói tóm lại, các thao tác tư duy có mối quan hệ tương tác, phụ thuộc lẫn
nhau. So sánh là điều kiện của các quá trình tư duy khác và ngược lại, kết quả
của các quá trình tư duy khác là cơ sở của quá trình so sánh. Các quá trình đó
diễn ra thống nhất, đan xen vào nhau và ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của
nhau.
1.3. Vai trò của việc phát triển kĩ năng so sánh với sự phát triển các quá
trình nhận thức của trẻ mẫu giáo
Trên khía cạnh so sánh vừa là phương tiện, vừa là thao tác và sản phẩm
của hoạt động tư duy thì so sánh có vai trò quan trọng trong sự phát triển trí tuệ
của mỗi cá nhân, là điều kiện quan trọng để có thể nhận thức đầy đủ và sâu sắc
thế giới xung quanh cũng như chính mình. Nhà tâm lí học Vưgốtxki đã khẳng
định chính các thao tác trí tuệ là một công cụ tâm lý phân biệt giữa hành vi của
người và động vật; là công cụ, phương tiện hành động trong hoạt động tâm lý
[5,tr 51].
A.A Liublinxkaia lại nhận định: “Chính thao tác so sánh dẫn trẻ đến giải
quyết nhiệm vụ nhận thức, đến các tri thức mới” [12, tr 19].
10
Phát triển kĩ năng so sánh trong các hoạt động cho trẻ là tạo điều kiện để
trẻ thực hiện nhiệm vụ so sánh nhằm vận dụng các kiến thức, kĩ năng khảo sát
mà trẻ đã nắm được vào việc phân biệt sự giống và khác nhau cũng như mối liên
hệ giữa các vật thể.
Như vậy, với trẻ nhỏ thì kĩ năng so sánh là một kĩ năng quan trọng để
nhận thức về thế giới xung quanh. Nó giúp trẻ thiết lập mối quan hệ giữa các
phụ thuộc vào vật thật, thao tác trực tiếp với các vật đó sẽ gây cản trở cho quá
trình trừu tượng hóa cũng như cản trở việc hình thành các khái niệm mang tính
bản chất của đối tượng ở trẻ. Trẻ khó phân tách được dấu hiệu bản chất ra khỏi
một tập hợp bao gồm hàng loạt các đặc điểm, thuộc tính khác nhau của cùng
một vật. Do vậy, quá trình so sánh có thể bị phân tán, dấu hiệu, chi tiết so sánh
trở nên vụn vặt làm cho việc so sánh của trẻ trở nên khó khăn hơn.
+ Mức độ 2: So sánh sử dụng phương tiện mô phỏng: Mô hình, đồ chơi,
các sản phẩm ghép, nặn… Vì các phương tiện mô phỏng thường mang tính đặc
trưng nên trẻ có thể dễ dàng phát hiện ra những cặp thuộc tính – đặc điểm mang
tính tương đồng hoặc khác biệt giữa 2 hay nhiều đối tượng. Chính vì thế các
phương tiện mô phỏng đóng vai trò là các vật định hướng cho quá trình so sánh
của trẻ. Tuy nhiên, so sánh dựa trên phương tiện mô phỏng vẫn là lối so sánh
theo cấp độ tư duy trực quan hình tượng, chưa góp phần thúc đẩy sự phát triển
tư duy của trẻ lên hình thức tư duy cao hơn là tư duy logic.
+ Mức độ 3: So sánh sử dụng tranh, ảnh: Các phương tiện này có tác
dụng giúp gợi lại trí nhớ, khiến trẻ liên tưởng đến các thuộc tính có thật của đối
tượng được miêu tả trong tranh, ảnh. Việc sử dụng tranh, ảnh để so sánh sẽ giúp
quá trình tư duy của trẻ thoát ly khỏi sự phụ thuộc vào đồ vật, đồ chơi; đồng thời
kích thích trí nhớ của trẻ từ đó tư duy tái tạo của trẻ được phát triển.
+ Mức độ 4: So sánh sử dụng biểu tượng: Việc so sánh bằng biểu tượng –
tức sử dụng các kí hiệu tượng trưng hoặc lời nói là mức độ so sánh cao nhất.
Mức độ phát triển khả năng so sánh của trẻ còn căn cứ vào phạm vi số
lượng đối tượng trẻ cần so sánh. Khi đó, mức độ so sánh sẽ phức tạp dần theo
12
hướng tăng dần số lượng đối tượng cần so sánh và tiến đến việc so sánh giữa các
nhóm đối tượng với nhau.
Trẻ mầm non lĩnh hội biểu tượng hình dạng thông qua rất nhiều các hoạt
suy luận và phán đoán của trẻ tốt hơn nên trẻ có thể phân biệt các hình học và
hình dạng vật thể chính xác, tốc độ nhanh hơn. Nhiều trẻ đã có khả năng tạo ra
sự thay đổi của hình dạng, khả năng tạo ra hình mới từ các hình đã biết, ví dụ:
cắt hình vuông thành hai hình tam giác, ghép hai hình vuông thành một hình chữ
nhật…
Đồng thời, do biểu tượng hình dạng của trẻ đã phong phú, tư duy của trẻ
đã khá phát triển nên trẻ đã thực hiện được các nhiệm vụ lựa chọn vật hoặc hình
học theo yêu cầu của giáo viên.
Về thao tác khảo sát hình của trẻ của giai đoạn này cao hơn các giai đoạn
trước trẻ tích cực sờ nắm vật một cách trình tự, có hệ thống bằng các đầu ngón
tay của hai bàn tay. Sự phối hợp nhịp nhàng chuyển động giữa tay và mắt theo
đường bao của vật, theo các cạnh và trên bề mặt vật dường như mô hình hóa
dạng vật. Từ đó, sự nhận biết của trẻ về hình dạng của vật đạt mức chính xác cao
hơn.
Trẻ 5 – 6 tuổi cũng đã nắm được những dấu hiệu đặc trưng của các hình
học, trẻ không chỉ nhận biết, phân biệt được các hình học mà còn biết tạo nhóm
các hình theo dấu hiệu chung nhất định. Trẻ sử dụng đúng các hình hình học như
những hình chuẩn để xác định hình dạng của các vật xung quanh.
Phát triển kĩ năng so sánh trong các hoạt động hình thành BTHD cho trẻ
là tạo điều kiện để trẻ thực hiện nhiệm so sánh và tìm ra mối liên hệ giữa các đối
tượng xung quanh trẻ.
Trong rất nhiều các dạng hoạt động khác nhau ở trường mầm non thì hoạt
động hình thành BTHD là một trong những hoạt động có ưu thế lớn trong việc
phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ mẫu giáo. Khi tham gia hoạt động này bản
thân đứa trẻ được tiếp xúc với hình dạng của các vật phong phú, muôn màu
muôn vẻ. Từ đó, luôn nảy sinh nhu cầu không ngừng về việc tìm hiểu các đặc
điểm cấu tạo, hình dáng của các sự vật ấy, bao gồm cả nhu cầu so sánh hình
14
Đây là chương trình đã được thực hiện ở mọi lứa tuổi mẫu giáo.Số lượng
các trường thực hiện chương trình này hiện nay còn rất ít, chủ yếu ở các khu vực
nông thôn, hải đảo xa xôi.
Về nội dung hình thành BTHD cho trẻ 5 – 6 tuổi, chương trình này đã
đảm bảo được việc cung cấp kiến thức cho trẻ một cách tương đối hợp lí, phù
hợp như: tiếp tục dạy trẻ nhận biết các hình học như hình vuông, hình tròn, hình
tam giác, hình chữ nhật và các khối: khối vuông, khối cầu, khối trụ, khối chữ
nhật theo hình mẫu và nhận biết các khối theo tên gọi; dạy trẻ nhận biết các dấu
hiệu đặc trưng của mỗi khối, phân biệt sự giống và khác nhau giữa các hình khối
dựa trên đặc điểm hình dạng và số lượng các mặt bao quanh khối.
Về hình thức các hoạt động này chủ yếu được thực hiện thông qua hình
thức “tiết học”, giáo viên chưa chú trọng đến vấn đề dạy trẻ gắn với cuộc sống
thực, dạy trẻ mọi lúc mọi nơi.
Như vậy, về mặt ưu điểm, chương trình này đã bám sát mục tiêu, kế
hoạch đào tạo bậc học mầm non. Chương trình này đã chú trọng đến việc hình
thành kĩ năng so sánh cho trẻ trong hoạt động hình thành BTHD thông qua việc
giúp trẻ so sánh các hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật theo dấu
hiệu đặc trưng của các hình.
Tuy nhiên, các nội dung hình thành BTHD đưa đến trẻ còn đơn lẻ, rời rạc,
phạm vi so sánh còn giới hạn ở việc so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa 2
hình hình học theo dấu hiệu đặc trưng: chiều dài các cạnh, số lượng các cạnh,
góc,… mà chưa hướng đến việc so sánh các nhóm hình với nhau. Mặt khác, quá
trình dạy trẻ so sánh chủ yếu về mặt kiến thức chứ chưa thực hướng đến việc
hình thành khả năng vận dụng kĩ năng so sánh hình dạng vào tinhd huống thực
tiễn.
*Chương trình đổi mới
Chương trình đổi mới được xây dựng một cách tích hợp, lấy trẻ làm trung
tâm và dạy trẻ thông qua hoạt động. Trong chương trình đổi mới, các kiến thức
thức tổ chức cho trẻ hoạt động, trải nghiệm, khám phá một cách đa dạng.
17