LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng tác giả. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn
gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy
định, không trùng lặp với các công trình khác
đã công bố
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
NCS Phạm Thanh Giang
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
luận án
1.2.
Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã
công bố và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ
SỐNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG VĂN HÓA
NGHỆ THUẬT
2.1.
Những vấn đề lý luận về giáo dục giá trị sống cho sinh viên
các trường văn hóa nghệ thuật
2.2
QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT
5.1
Khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các biện pháp
5.2
Thử nghiệm và phân tích kết quả thử nghiệm biện pháp
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
5
13
13
25
32
32
50
68
68
72
74
89
103
112
112
Bảng 5.2
Bảng 5.3.
Bảng 5.5
Bảng 5.6
Bảng 5.7.
Số lượng, chất lượng giảng viên các trường văn hóa
nghệ thuật
Số lượng cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên được
khảo sát, điều tra
Sự phát triển về nhận thức và nhân cách của sinh viên
Ý kiến đánh giá về mức độ quan trọng của mục đích
giáo dục giá trị sống cho sinh viên
Ý kiến đánh giá về mức độ quan trọng của nội dung
giáo dục giá trị sống
Hình thức và phương pháp giáo dục giá trị sống
Quản lý mục tiêu giáo dục giá trị sống
Quản lý nội dung, chương trình giáo dục giá trị sống
Tổ chức thực hiện giáo dục giá trị sống
Quản lý và phối hợp các lực lượng giáo dục giá trị sống
Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện kỹ
thuật, các điều kiện đảm bảo cho giáo dục giá trị sống
Kiểm tra, đánh giá giáo dục giá trị sống
Thực trạng sự ảnh hưởng của toàn cầu hóa, hội nhập
quốc tế, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kinh tế
thị trường đến quản lý giáo dục giá trị sống cho sinh
viên các trường văn hóa nghệ thuật
Thực trạng sự ảnh hưởng từ phẩm chất đạo đức của
văn nghệ sĩ đến quản lý giáo dục giá trị sống cho sinh
viên các trường văn hóa nghệ thuật
106
108
109
138
139
140
146
148
149
Bảng 5.8.
Bảng 5.9.
Bảng 5.10
Bảng 5.13.
Bảng 5.16.
Bảng 5.17
Bảng 5.18.
Biểu đồ 5.12.
Biểu đồ 5.15
Đồ thị 5.4.
Đồ thị 5.11.
Đồ thị 5.14.
Sơ đồ 2.1
Hệ thống giá trị của con người hiện đại
151
152
152
154
157
158
159
153
156
141
153
155
34
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII xác định mục tiêu đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục nhằm: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển
toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia
đình, yêu tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả” [22, tr.115]. Lý luận
giáo dục đã chỉ rõ, giáo dục phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, sinh viên là
hình thành và phát triển nhân cách sinh viên hiện nay, đặc biệt là định hướng
giá trị, giáo dục giá trị sống cho họ để đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân
lực của công cuộc đổi mới là việc làm quan trọng và cần thiết.
Hiện nay, trước những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường
và thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự chống phá thường xuyên, thâm
độc của kẻ thù đối với cách mạng nước ta; cùng với các nguyên nhân khách
quan và chủ quan khác, đã làm suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ
phận văn nghệ sĩ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Sự suy thoái,
biến chất ở một bộ phận những người làm công tác văn hóa nghệ thuật hiện
nay đã gây ra những hậu quả tiêu cực, ảnh hưởng đến bản chất và truyền
thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Những mất mát, lệch lạc về giá trị, lối
sống, nhân cách, những hiện tượng tiêu cực trong đời sống đạo đức xã hội, tội
phạm ngày càng gia tăng, đặc biệt ở lứa tuổi thanh thiếu niên, sinh viên đang
là mối quan tâm của toàn xã hội... Hơn nữa, sinh viên có những đặc điểm tâm,
sinh lý rất nhạy cảm, còn thiếu kinh nghiệm sống, bản lĩnh chưa thật sự vững
vàng, dễ bị cuốn hút bởi cái lạ, cái mới, dễ rơi vào cạm bẫy của cái xấu, cái
phản giá trị đến từ những tác động bên ngoài. Một bộ phận nhỏ trong sinh
viên còn thiếu định hướng, chưa phân biệt giữa cái tốt và cái xấu, giữa giá trị
thật và giá trị ảo; có lối sống thực dụng, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, chạy
theo giá trị vật chất tầm thường. Trong giáo dục, đào tạo còn nặng về chuyên
môn và bồi dưỡng năng khiếu, hoạt động giáo dục đạo đức, giá trị nghề
nghiệp chưa được tổ chức chặt chẽ, thiếu tính kế hoạch. Những hạn chế trên
có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân từ việc giáo dục và
quản lý giáo dục giá trị sống cho sinh viên chưa được quan tâm đúng mức.
Với đặc thù sẽ trở thành người cán bộ ngành văn hóa, văn nghệ sĩ, có ảnh
hưởng tích cực đến công chúng, sinh viên ở các trường văn hóa nghệ thuật
7
càng phải rèn luyện cả về phẩm chất và tài năng, đặc biệt là lối sống, giá trị
3. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý giáo dục phẩm chất nhân cách cho sinh viên ở các trường văn hóa
nghệ thuật hiện nay.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý giáo dục giá trị sống cho sinh viên ở các trường văn hóa nghệ thuật
hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn giá trị sống, giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị
sống cho sinh viên ở các trường văn hóa nghệ thuật với đối tượng học sinh,
sinh viên đào tạo cao đẳng và đại học. Chủ thể quản lý chủ yếu tập trung vào
vai trò của Hiệu trưởng, Giám đốc các trường và học viện. Đối tượng trung
cấp và đào tạo năng khiếu (lấy từ học sinh cấp 2) không thuộc phạm vi nghiên
cứu của luận án.
* Phạm vi khảo sát: Luận án tập trung khảo sát 120 cán bộ, giảng viên
và 300 sinh viên của 03 trường: trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà
Nội, trường Cao đẳng Múa Việt Nam, trường Đại học Sư phạm nghệ thuật
Trung ương; thời gian khảo sát từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 8 năm 2016.
* Phạm vi thời gian: Các số liệu được sử dụng trong luận án từ 2012 đến nay.
3.4. Giả thuyết khoa học
Chất lượng, hiệu quả giáo dục giá trị sống cho sinh viên các trường văn
hóa nghệ thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố quản lý. Nếu
trong quản lý giáo dục giá trị sống cho sinh viên các trường văn hóa nghệ
thuật, các chủ thể quản lý tiếp cận theo quan điểm phức hợp và thực hiện tốt
các chức năng quản lý, từ việc chú trọng xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo
dục giá trị sống trong kế hoạch đào tạo tổng thể của nhà trường; đổi mới cơ
chế và cách thức quản lý giáo dục giá trị sống; chỉ đạo tích hợp giáo dục giá
trị sống vào hoạt động giảng dạy và hoạt động rèn luyện nghề nghiệp cho sinh
khái quát hóa lý luận để xây dựng hệ thống khái niệm.
10
* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát
Tác giả luận án tổ chức quan sát cách thức tổ chức giáo dục giá trị sống
và quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho sinh viên nghệ thuật, ở một số
trường như: Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, Đại học Sân khấu và Điện
ảnh Hà Nội, Cao đẳng Múa Việt Nam, Đại học Sư phạm nghệ thuật Trung
ương, Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Hà Nội để nắm bắt tình hình và kết quả
đạt được của việc giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị sống cho
sinh viên. Trên cơ sở đó có thêm tư liệu phục vụ việc phân tích, tổng hợp,
nhận định đối với vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp phỏng vấn
Tọa đàm, phỏng vấn với giảng viên, cán bộ quản lý, sinh viên ở một số
trường nghệ thuật trên địa bàn thành phố Hà Nội trên những nội dung có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp điều tra
Tiến hành trưng cầu ý kiến bằng phiếu điều tra của 120 giảng viên, cán bộ
quản lý giáo dục và 300 sinh viên ở trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Hà
Nội, trường Cao đẳng Múa Việt Nam, trường Đại học Sư phạm nghệ thuật
Trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội, để tìm hiểu và khẳng định tính khách
quan của một số nhận định cần thiết trong luận án.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu báo cáo tổng kết năm học của một số trường về đánh giá
chất lượng giáo dục, quản lý giáo dục nói chung, quản lý giáo dục giá trị sống
cho sinh viên nghệ thuật nói riêng; nghiên cứu sổ theo dõi tình hình rèn luyện
của sinh viên ở một số lớp, một số khóa của các trường văn hóa nghệ thuật;
kế hoạch quản lý giáo dục sinh viên của cán bộ nhà trường, cán bộ phụ trách
Phân tích, đánh giá thực trạng; chỉ rõ các nguyên nhân của thực trạng
giáo dục giá trị sống, quản lý giáo dục giá trị sống và các yếu tố tác động đến
quản lý giáo dục giá trị sống cho sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật.
Luận án đề xuất được các biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống cho
sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật hiện nay, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục, đào tạo ở các trường văn hóa nghệ thuật.
12
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần hệ thống hóa, làm sáng tỏ, bổ sung và phát triển
những vấn đề lý luận về giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị sống
cho sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật và vận dụng quản lý giáo dục giá
trị sống cho sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp những luận cứ thực
tiễn cho việc đề xuất biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống cho sinh viên các
trường văn hóa nghệ thuật và làm cơ sở đổi mới, nâng cao chất lượng giáo
dục, đào tạo hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở cho các chủ thể quản lý ở các
trường văn hóa nghệ thuật tham khảo để áp dụng vào quản lý giáo dục giá trị
sống cho sinh viên nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các trường văn
hóa nghệ thuật.
7. Kết cấu của luận án
Luận án có kết cấu gồm: Mở đầu, 5 chương (13 tiết), kết luận và kiến
nghị, danh mục các công trình nghiên cứu đã được công bố của tác giả có liên
quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục.
sống từ “giá trị truyền thống” sang “giá trị thể tục”… [106].
15
Xem xét vai trò của sự lựa chọn tự do đặc biệt là những giá trị và niềm
tin căn bản, nghĩa là nghiên cứu con người và nghiên cứu về giá trị có mối
quan hệ khăng khít với nhau. Giá trị là những cái có thực do con người tạo ra,
bảo đảm cho cuộc sống thực (living life) của con người thực mà muốn có
cuộc sống trước hết phải tồn tại. Trong tác phẩm “Tồn tại và thời gian”
(Being and Time) của M.Heidegger (1985), lần đầu tiên thuật ngữ “Tồn tại”
(Being) đã được bàn luận tới và ông đã xây dựng học thuyết trải nghiệm.
Theo đó, điều quan trọng với giá trị sống là sự trải nghiệm phải gắn với sự
quan tâm và sống thật với chính mình [103].
Tittut Dale N (1994), với tác phẩm “Values Education in American in
secondary schools” (Giáo dục giá trị ở các trường trung học của Hoa Kỳ), cho
rằng, giáo dục giá trị có thể thực hiện thông qua các môn học trong chương trình
chính thức đặc biệt là văn học, khoa học xã hội, lịch sử. Đưa ra những kỳ vọng để
sinh viên làm việc chăm chỉ, có tính trách nhiệm và tôn trọng người khác cũng là
cách dạy giá trị. Ngoài ra một số hình thức hoạt động như diễn kịch, câu lạc bộ,
hoạt động thể thao, hội sinh viên, hoạt động cộng đồng sẽ tạo ra các cơ hội để sinh
viên được lựa chọn giá trị [98, tr.8]. Tác giả đã khái lược lịch sử giáo dục giá trị ở
các trường công. Giáo dục giá trị ở các nhà trường tập trung vào các giá trị cơ bản
như: yêu thương, can đảm, lịch sự, công bằng, lương thiện, tử tế, trung thực, kiên
trì, lòng kính trọng, trách nhiệm.Tác giả cho rằng, trong các nhà trường ở Hoa Kỳ
hiện nay tập trung vào những điểm như: (1) Giáo dục con người toàn diện tập trung
vào tri thức, hành vi và tình cảm. (2) Giới thiệu các tấm gương để sinh viên suy
nghĩ các giá trị của họ. (3) Sử dụng các tài liệu thích hợp (4) Giảng viên tiếp xúc với
sinh viên một cách trong sáng, chân thành, tin tưởng tất cả các em sinh viên sẽ tiến
bộ. (5) Tôn trọng các em chú ý ngôn ngữ nói với các em. (6) Xây dựng không khí
hòa thuận, giải quyết ổn thỏa các xích mích nội bộ. (7) Kịp thời khuyến khích, khen
hình thành giá trị ở sinh viên. Nghiên cứu đã chỉ ra sinh viên thường hâm mộ
những giảng viên có phẩm chất: bao dung, hiền lành, công bằng, chính trực,
cư xử hợp lý, sẵn sàng giải thích bất cứ điều gì cho sinh viên, không phán xét
và kì thị sinh viên.
17
Gabriele Haracker (2012) với tác phẩm Teaching Values in school: a
way to reach a better understanding in our worl (Giáo dục giá trị trong trường
học, con đường giúp người học hiểu rõ hơn về thế giới) đã tập trung làm rõ
cách tiếp cận giá trị, vai trò, nhiệm vụ của giáo dục giá trị trong nhà trường đến
sự phát triển của người học như: nhân cách, kết quả học tập, mối quan hệ trong
trường học, nghiên, cứu nội dung, các phương pháp dạy và học về giáo dục giá
trị, mối quan hệ giữa giáo dục giá trị (value education) với giáo dục đạo đức
(Moral education) và giáo dục tôn giáo (Religious education), giáo dục tính
cách (Character education), giáo dục công dân (Citizenship education), giáo
dục cá nhân và xã hội (personal and social education [84].
* Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước
Công trình sớm nhất được ghi nhận có tìm hiểu về giá trị văn hóa Việt
thông qua tính cách phải kể đến là tác phẩm: “Tìm hiểu tính cách dân tộc” của
tác giả Nguyễn Hồng Phong. Tác giả đã đi vào năm đặc trưng tính cách biểu
hiện thông qua văn học nghệ thuật và đời sống. Đây cũng có thể xem là năm giá
trị của người Việt như: tập thể; trọng đạo đức; cần, kiệm, giản dị, thực tiễn; tinh
thần yêu nước bất khuất và lòng yêu chuộng hòa bình, nhân đạo; lạc quan [54].
Nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu (1980) với cuốn “Giá trị tinh thần
của dân tộc Việt Nam”. Dưới góc độ Triết học, Sử học, Đạo đức học tác giả
đã phân tích các giá trị của dân tộc qua các giai đoạn lịch sử, ảnh hưởng của
lịch sử đối với các giá trị truyền thống. Tác giả đã phân tích những đức tính
tốt đẹp của dân tộc Việt Nam như: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc
quan, thương người, vì nghĩa trong đó yêu nước được xem là giá trị quan
trị và giáo dục giá trị, tiêu biểu có các công trình: Bài báo “Giáo dục giá trị”
đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục, số 37 năm 2008 (29); cuốn sách “Định
hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập” xuất bản năm
2008 (31); cuốn sách “Giá trị học- cơ sở lý luận góp phần đúc kết, xây dựng hệ
giá trị chung của người Việt Nam thời nay” xuất bản năm 2010 (30) và cuốn
sách “Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đối mới và hội nhập”
(2011) đã mô tả thực trạng lối sống và văn hóa hiện nay và chỉ ra những xu
hướng biến đổi về nhận thức, lối sống, chuẩn giá trị và định hướng giá trị, xu
19
hướng mâu thuẫn nổi trội giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần, lợi ích xã hội
và lợi ích cá nhân, giữa lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt, tâm lý bao cấp và tâm
lý bươn chải, tâm lý cào bằng và tâm lý phân hóa. Đặc biệt, cuốn sách “Hệ giá
trị - Mục tiêu phát triển nhân cách người học” (2016), tác giả đã đề cập đến vấn
đề hạn chế trong giáo dục nhân cách. Tác giả cho rằng: “ Văn hóa xuống cấp,
đạo đức xã hội suy đồi bộc lộ ở mọi mặt đời sống, nổi bật là những biểu hiện
bất chấp, coi thường các quy phạm đạo đức, pháp luật và thái độ thờ ơ, vô
cảm với những người chứng kiến. Thậm chí nhiều trường hợp giết nhau chỉ vì
lợi ích rất nhỏ hoặc do mâu thuẫn trong ứng xử… Đây là tín hiệu báo động về
sự tha hóa nhân tính, khủng hoảng giá trị, bế tắc xã hội” [32, tr.122]. Theo tác
giả, các nhà trường với chức năng giáo dục, định hướng và phát triển nhân
cách, cần coi “Hệ giá trị cá nhân với tư cách mục tiêu phát triển nhân cách
người học của hệ thống giáo dục quốc dân cần bảo đảm hài hòa giữa các đặc
tính cá nhân và xã hội, dân tộc và nhân loại, truyền thống và hiện đại, trong
đó các giá trị nền tảng và giá trị cốt lõi với hàm ý các giá trị này tạo thành
chân đế và bộ khung của nhân cách” [32, tr.145]..
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn [77], tác giả Thái Duy Tuyên [73]; Hồ Sĩ
Quí [57] đã chỉ ra trong các nghiên cứu những tác động tích cực và tiêu cực
của sự biến đổi xã hội từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường và xu thế
activities for young adults” (Hoạt động giá trị sống cho vị thành niên) cho rằng
thảo luận là cách thức thúc đẩy sự phát triển của những mâu thuẫn trong tiềm
thức của sinh viên để họ đi đúng hướng và giúp phát triển giá trị ở các khía
cạnh khác nhau [111]. Tác giả Terry Lovat, Ron Tommey, Kerry Daily,
Neville Clement (2009), trong tác phẩm “Project to test and measure the
impact of Value Education on students effects and school amblence” (Đề án
kiểm tra và đánh giá thực tế giáo dục giá trị trên hiệu ứng sinh viên và trường
học) cho rằng cần ưu tiên cho các hoạt động xã hội, hoạt động ngoại khóa và
giảng trực tiếp cho người học trong giáo dục giá trị. Hoạt động ngoại khóa giúp
sinh viên thỏa mãn đam mê, khám phá bản thân, rèn luyện một số kỹ năng
quan trọng như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lãnh đạo.... Đồng thời, hoạt
động tạo cơ hội để sinh viên được trải nghiệm, giúp các hành vi được lặp đi lặp
21
lại hình thành thói quen. Từ đó, thúc đẩy sự hiểu biết của sinh viên về sự hợp
tác, công bằng, tôn trọng,...Bên cạnh đó, bài nghiên cứu của Mark Halsted và
Monica J.Taylor còn nêu ra một số phương pháp khác trong giáo dục giá trị
như: vòng tròn chia sẻ (circle time), tự thuật cá nhân, đóng kịch, trò chơi có
tính giáo dục, tình huống (simulation excercises), hoạt động thực hành, học hợp
tác, dự án, chủ đề theo ngày (theme days), giải quyết vấn đề...[109].
* Những công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước
Giáo dục giá trị nói chung và giáo dục giá trị sống nói riêng là vấn đề
được quan tâm trong những năm trở lại đây. Trong hệ thống giáo dục nhà
trường phổ thông, đến năm 2005, chương trình giáo dục giá trị sống - kỹ năng
sống mới được đưa vào thông qua các hoạt động ngoại khóa hoặc lồng ghép
vào các giờ sinh hoạt. Đến năm 2008, các cơ sở giáo dục chính quy và không
chính quy đã quyết định đưa nội dung giáo dục này vào trong chương trình
giáo dục của cơ sở mình.
Một số tác giả đã nghiên cứu về giá trị sống và vai trò, nhiệm vụ, nội dung
Tác giả Nguyễn Công Khanh (2012) với cuốn “Phương pháp giáo dục
giá trị sống, kỹ năng sống” đã nghiên cứu về đổi mới, đa dạng hóa phương
pháp giáo dục giá trị sống và phát triển kỹ năng sống đáp ứng nhu cầu, hứng
thú, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của sinh viên, sưu tầm các câu chuyện ẩn
chứa trong đó các triết lí, các bài học giáo dục giá trị sống…[42].
Tóm lại, trong những năm qua, giáo dục giá trị sống trong nhà trường
đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu. Các công trình trên rất đa dạng,
phong phú, đã phân tích vấn đề giáo dục giá trị sống dưới nhiều góc độ khác
nhau và có chiều sâu. Đã làm rõ được nhiều vấn đề về cơ sở lý luận và thực
tiễn của giáo dục kỹ năng sống.
1.1.3. Những công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục giá trị sống
Hội thảo khoa học quốc tế “Giáo dục giá trị trong bối cảnh hội nhập”
được tổ chức tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền năm 2015, đã có 70 tham
luận của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà báo đến từ các trường đại
học, viện nghiên cứu quốc tế đã được bàn luận tại đây. Tham luận của các nhà
khoa học đã tập trung làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản và quan trọng về giá
23
trị và hệ giá trị, những nhân tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn giá trị trong bối
cảnh hội nhập, những xu hướng biến động của giá trị, những yêu cầu, phương
pháp, nội dung giáo dục giá trị trong giai đoạn hiện nay.
Giá trị tinh thần có cái có ý nghĩa, cái có lợi, thỏa mãn nhu cầu tồn tại
và phát triển của con người. Giá trị cũng là cái quy định mục đích của hoạt
động và động cơ thúc đẩy hoạt động đạt được mục đích đó.
Giá trị gắn bó cuộc sống cá nhân con người và cộng đồng người. Chủ thể
mang giá trị là đời sống cá nhân mỗi con người và cộng đồng người khác nhau.
Tương ứng với chủ thể mang giá trị có các hình thức và các cấp độ biểu hiện giá
trị khác nhau. Đối với các giá trị thuộc về cá nhân, là đạo đức, thẩm mỹ, việc
làm, quyền con người, thu nhập, nhân văn…; đối với các giá trị thuộc về cộng
văn chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo. Các chủ đề
giáo dục kỹ năng sống được thiết kế phù hợp với điều kiện thực tế của nhà
trường và phù hợp với đối tượng học sinh. Tác giả còn cho rằng, nhà trường
cũng tổ chức tập huấn cho cán bộ và giảng viên trong trường về vai trò, tầm
quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống, cung cấp tài liệu về các kỹ
năng sống cần thiết đối với học sinh cho giáo viên chủ nhiệm, giảng viên bộ
môn, cán bộ Đoàn; định hướng phương pháp rèn kỹ năng sống cho sinh viên.
Tác giả chỉ rõ, hiệu trưởng phân công các chủ thể tham gia vào hoạt động
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là giáo viên chủ nhiệm, giảng viên các
môn học, cán bộ đoàn chuyên trách trong nhà trường. Mỗi lực lượng tham gia
chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cụ thể, chi tiết, khoa học,
thiết thực và phù hợp. Chỉ đạo các bộ phận có liên quan sử dụng linh hoạt các
loại hình hoạt động, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
đa dạng, sinh động, hấp dẫn để thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống đã
được tích hợp. Đặc biệt nhà trường đã chỉ đạo thành lập các câu lạc bộ văn
hóa, văn nghệ, thể dục thể thao. Xây dựng được quy ước ứng xử văn hóa, xây
dựng nội quy, quy định phù hợp với quy định của pháp luật và đặc thù riêng
của sinh viên nhà trường. Những nội quy và quy ước ứng xử được niêm yết
trong các phòng học để sinh viên thực hiện. Nhà trường tích cực chỉ đạo đẩy
mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, sinh viên tích cực”
với những hoạt động cụ thể thiết thực như: Chăm sóc bồn hoa cây cảnh, làm
25
vệ sinh môi trường, triển khai chương trình phát thanh học đường cũng là giải
pháp góp phần trang bị thêm nhiều kiến thức kỹ năng sống cho sinh viên.
Tác giả Phạm Thị Nga (2016) với luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục về đề
tài: “Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh các
trường trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục” đã làm rõ cơ sở lý luận
và thực tiễn của quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học