luận án giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------------------

TRẦN THỊ CẨM TÚ

GI¸O DôC GI¸ TRÞ SèNG CHO SINH VI£N
S¦ PH¹M

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------------------

TRẦN THỊ CẨM TÚ

GI¸O DôC GI¸ TRÞ SèNG CHO SINH VI£N S¦
PH¹M
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử giáo dục
Mã số: 62.14.01.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THANH BÌNH



hợp tác và giúp đỡ tôi nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia
đình, bạn bè đã động viên, trở thành điểm tựa tinh thần, tạo mọi điều
kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận án.
Do còn có những hạn chế về kinh nghiêm, thời gian và điều kiện
nghiên cứu, luận án không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi kính mong
nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy giáo, cô giáo; các nhà khoa
học; anh, chị, em, bạn bè, đồng nghiệp để công trình nghiên cứu hoàn
thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án

Trần Thị Cẩm Tú


MỤC LỤC
Trang


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT

TỪ ĐẦY ĐỦ

ĐC

Đối chứng

ĐLC


SV

Sinh viên

SVSP

Sinh viên sư phạm

TN

Thực nghiệm


DANH MỤC CÁC BẢNG




1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1. Thế kỷ XXI với những đặc điểm phát triển của thời đại như cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật; sự phát triển của nền kinh tế tri thức và đặc biệt là xu thế
toàn cầu hóa và hội nhập đã làm thay đổi về mọi mặt trong đời sống của các quốc
gia trên thế giới. Vấn đề nguồn nhân lực là một trong những vấn đề nổi bật nhất khi
loài người bước vào thời đại phát triển mới. Đại hội IX của Đảng đã khẳng định:
“đáp ứng nhu cầu con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển
đất nước thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa…” [18]. Giáo dục đóng vai trò rất
lớn trong việc khơi dậy các tiềm năng của con người và tạo nên nguồn nhân lực

biết cách giữ được bình tĩnh, thể hiện sự thấu cảm, hòa hợp, trung thực; mối quan
hệ giữa giáo viên và học sinh có sự cải thiện dựa trên sự tin cậy, tôn trọng và lắng
nghe; lòng tin giữa các nhân viên trong nhà trường và sự tín nhiệm của phụ huynh
học sinh với giáo viên được cải thiện [93]. Ở Việt Nam, bản báo cáo về đánh giá
tác động của chương trình Giáo dục giá trị sống (LVEP) đến giáo viên và học sinh
chỉ ra 90% giáo viên đã thay đổi bản thân theo hướng tích cực, họ có thể quản lý
được cảm xúc, cảm thấy bình an hơn, hạnh phúc hơn. 100% học sinh cảm thấy tự
tin hơn, tôn trọng đối với giáo viên và người lớn tuổi, trung thực, hứng thú hơn đối
với việc học tập, và cảm thấy an toàn hơn...[108].
1.2. Để đáp ứng được đòi hỏi và yêu cầu của xã hội, việc đổi mới giáo dục
được xem là yêu cầu cấp thiết. Một trong những lực lượng góp phần không nhỏ cho
sự thành công của đổi mới giáo dục đào tạo Việt Nam chính là đội ngũ giáo viên.
“Cùng với đổi mới cơ chế quản lý, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục là khâu then chốt của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo [20].
Sinh viên sư phạm là những giáo viên tương lai vì vậy trường sư phạm cần
đào tạo đội ngũ giáo viên là những người có phẩm chất, năng lực trong việc giảng
dạy để đảm nhiệm vai trò giáo dục nhân cách cho người học, giúp họ phát huy được
tiềm năng, khả năng sáng tạo. Mục tiêu của nhà trường sư phạm là đào tạo ra những
người làm nghề dạy học, những sinh viên sư phạm sẽ trở thành người giáo viên
trong tương lai vì vậy việc trang bị những tri thức về giá trị sống có gắn liền với đặc
thù nghề dạy học và chuẩn nghề nghiệp giáo viên là một nhiệm vụ cấp thiết để họ
bắt kịp với những yêu cầu về đổi mới giáo dục.
Bộ Giáo dục và Đào tạo của nước ta đã ban hành Chuẩn nghề nghiệp giáo
viên tiểu học (năm 2007) và chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học (năm 2009).
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên là hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm chất và năng
lực nghề nghiệp mà người giáo viên cần đạt được đáp ứng với mục tiêu giáo dục đặt
ra. Giáo viên trung học phải đáp ứng được 6 tiêu chuẩn và 25 tiêu chí. Trong đó,
tiêu chuẩn 1 là tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống như yêu nghề,
có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm; thương yêu, tôn trọng đối xử
công bằng với học sinh; đoàn kết, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp [8]. Ngoài ra,

diễn ra trong nhà trường như: bạo lực học đường; giáo viên đối xử thô bạo, xúc
phạm học sinh, thiếu trách nhiệm đối với nghề nghiệp [112]. Thực trạng trên bắt
nguồn từ việc thiếu hụt những giá trị sống, kỹ năng sống cần thiết cho người học và
cách ứng xử không dựa trên nền tảng các giá trị sống tích cực của giáo viên.
1.4. Vì vậy, giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm có rất nhiều ý nghĩa.
Thứ nhất, đối với bản thân sinh viên, giáo dục giá trị sống giúp sinh viên có nhận
thức đúng đắn về các giá trị sống như yêu thương, tôn trọng, hợp tác, trách nhiệm,
… từ đó có ý thức vận dụng các giá trị vào cuộc sống nhằm xây dựng một cuộc
sống tốt đẹp hơn, tích cực hơn cho bản thân, cho người khác và cho cả cộng đồng.


4

Thứ hai, đối với hoạt động học tập và rèn luyện nghề nghiệp, giá trị sống giúp sinh
viên được trải nghiệm những giá trị sống gắn liền với đặc thù của nghề nghiệp như
lòng yêu thương, sự nhiệt huyết với nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, hợp tác
trong công việc, từ đó giúp sinh viên ý thức rõ ràng hơn về sứ mệnh của người thầy
trong xã hội, tu dưỡng, hoàn thiện nhân cách và biết cách vận dụng những giá trị
sống vào việc thực hành nghề nghiệp và phát triển nghề nghiệp với tư cách là người
giáo viên trong tương lai bởi đặc trưng của nghề dạy học là dùng nhân cách để tác
thành nhân cách. Thứ ba, đối với nhà trường, giáo dục giá trị sống sẽ góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo của các trường đại học sư phạm trên cơ sở xây dựng bầu
không khí nhà trường dựa trên nền tảng các giá trị tích cực, cải thiện mối quan hệ
giữa giảng viên và học sinh, nâng cao ý thức học tập của sinh viên. Hơn nữa, việc
giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm sẽ góp phần tạo nên “hiệu quả kép” bởi
trong xu thế đổi mới giáo dục hiện nay, mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông là
“giúp học sinh phát triển khả năng vốn có của bản thân, hình thành tính cách và
thói quen; phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực
tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời, có những phẩm chất tốt
đẹp và có những năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm,

nghề dạy học. Hiện nay, giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm còn nhiều hạn
chế do nhiều nguyên nhân khác nhau. Để nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị sống
cho sinh viên sư phạm cần có những biện pháp giáo dục tác động đồng bộ trong đó
chú trọng đến biện pháp thiết kế các chủ đề giáo dục giá trị sống và thực hiện thông
qua hoạt động Đoàn thanh niên, Hội sinh viên dưới hình thức câu lạc bộ theo cơ chế
trải nghiệm sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư
phạm và chất lượng đào tạo giáo viên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm
5.2. Khảo sát thực trạng giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm
5.3. Đề xuất các biện pháp giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm
5.4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm xác định tính hiệu quả và tính khả thi của
các biện pháp giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm
6. Giới hạn và phạm vi khảo sát
6.1. Về nội dung nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu giáo dục bốn giá trị sống phổ quát gắn với
nghề sư phạm: yêu thương, tôn trọng, trách nhiệm, hợp tác. Đây là những giá trị
sống có gắn với đặc trưng nghề dạy học, phù hợp với những yêu cầu về phẩm chất,
năng lực sư phạm của người giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên và Chuẩn
đầu ra trình độ đại học khối ngành sư phạm.
- Luận án tập trung nghiên cứu các biện pháp giáo dục giá trị sống cho
sinh viên sư phạm trong đó tập trung vào biện pháp xây dựng chủ đề giáo dục
giá trị sống cho sinh viên sư phạm và tổ chức giáo dục giá trị sống thông qua
hoạt động Đoàn thanh niên, Hội sinh viên dưới hình thức câu lạc bộ. Thực
nghiệm được tiến hành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội.


6

6.2. Về phạm vi nghiên cứu

7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Bao gồm các phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ
thống hóa lý thuyết. Nhóm phương pháp này được sử dụng để xác định bản chất của


7

các khái niệm cơ bản trong đề tài, mối quan hệ giữa các vấn đề lý luận. Trên cơ sở đó,
luận án xây dựng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu.
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phương pháp này được thực hiện nhằm
thu thập thông tin về thực trạng giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm. Đối tượng
điều tra gồm giảng viên, sinh viên, cán bộ quản lí tại các trường đại học sư phạm.
+ Phương pháp quan sát: Sử dụng biên bản quan sát đã được thiết kế sẵn để
quan sát những biểu hiện cụ thể của nhận thức, thái độ, hành vi gắn với việc giáo
dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm.
+ Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng mẫu phiếu phỏng vấn sâu để phỏng vấn
giảng viên và sinh viên sư phạm về vấn đề giáo dục giá trị sống. Phương pháp được
sử dụng nhằm thu thập thông tin định tính nhằm đánh giá khách quan nhận thức của
sinh viên sư phạm về giá trị sống, làm sáng rõ thực trạng về giáo dục giá trị sống và
kết quả thực nghiệm.
+ Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tham
khảo một số chuyên gia có trình độ cao về các lĩnh vực Tâm lý học, Giáo dục học
về khung lý thuyết, bộ công cụ điều tra thực trạng và các biện pháp giáo dục giá trị
sống cho sinh viên sư phạm trước khi được đưa vào thực nghiệm.
+ Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm hai biện pháp giáo dục giá trị sống
đã đề xuất ở nhóm thực nghiệm để đánh giá về tính khả thi, tính hiệu quả của các
biện pháp được đề xuất từ đó chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết khoa học.
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích các sản phẩm
hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm trong quá trình thực nghiệm nhằm nâng cao

9.1. Về lý luận
- Xây dựng khung lý luận về giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm.
Trong đó làm rõ khái niệm công cụ: giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm, cơ
sở khoa học của giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm, các phương pháp, con
đường giáo dục GTS, đánh giá giáo dục GTS và các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục
giá trị sống cho sinh viên sư phạm.
- Xây dựng chủ đề giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm. Đồng thời
xây dựng các biện pháp giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm phù hợp với
đào tạo nghề dạy học trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
9.2. Về thực tiễn
- Khảo sát, đánh giá được thực trạng giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư
phạm hiện nay còn nhiều hạn chế. Luận án xác định được các yếu tố khách quan và
chủ quan ảnh hưởng đến kết quả giáo dục giá trị sống hiện nay tại các trường đại
học sư phạm như nhận thức, nhu cầu, tính tích cực của giảng viên và sinh viên về
GDGTS, chương trình giáo dục, thời gian, điều kiện hỗ trợ học tập và giảng dạỵ.
- Đề xuất được các nguyên tắc, mục tiêu, nội dung thực hiện các biện pháp
giáo dục giá trị sống phù hợp với sinh viên sư phạm.
- Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo để thực hiện giáo dục giá trị sống
cho sinh viên sư phạm.


9

10. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục các công trình của tác giả
đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm.
Chương 2: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm.
Chương 3: Biện pháp giáo dục giá trị sống cho sinh viên sư phạm và thực
nghiệm sư phạm.

Tiêu biểu cho trường phái “giá trị học tự nhiên” là R.B. Perry, John Dewey (18591952). Họ cho rằng các giá trị không đơn thuần là đối tượng của nhu cầu con người
mà đó còn là kết quả của hoạt động và trải nghiệm của con người [64, tr.33].
- Nghiên cứu về giá trị trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội và vai trò
của giá trị trong việc duy trì trật tự xã hội: G.E.Moore là người đầu tiên đưa ra khái
niệm “giá trị nội tại” (intrinsvic value). Theo ông, giá trị nội tại vừa phản ánh được
thái độ của chủ thể đối với sự vật vừa thể hiện được sự tồn tại tự nhiên và khách quan


11

của sự vật đó và thái độ của chủ thể đối với sự vật tác động bao giờ cũng xảy ra trong
môi trường, hoàn cảnh nhất định, thái độ đó không tách rời với môi trường [103]. Sau
này, các nhà nghiên cứu đã đồng thuận với quan niệm này và cho rằng cần đặt giá
trị trong mối quan hệ giữa con người và hiện thực xã hội khách quan, trong các môi
trường văn hóa và mối quan hệ với cộng đồng. Họ cho rằng giá trị là hạt nhân của
nền văn hóa. Tiểu biểu là M.Weber [79] E.Durkheim, Spencer, T.Parson [92],
W.Thomas, F.Znaniecki…. “tất cả những gì mang lại ý nghĩa và nội dung cho các
thành viên của nhóm xã hội đều là giá trị xã hội” [101]. Họ cho rằng giá trị có chức
năng điều chỉnh hành vi xã hội, giúp mỗi cá nhân ý thức về việc thực hiện các
chuẩn mực xã hội đề ra. Việc phân tích giá trị trong mối quan hệ với hiện thực
khách quan có ý nghĩa trong việc giáo dục giá trị cần phải được đặt trong bối cảnh,
môi trường phù hợp đồng thời sử dụng môi trường văn hóa, chính trị, xã hội như
một phương tiện hữu ích để giáo dục giá trị cho người học.
- Nghiên cứu thực nghiệm về giá trị và mở rộng nghiên cứu giá trị trên phạm
vi toàn thế giới. R.S.Hartman (1910 – 1973) được xem là người đại diện tiêu biểu cho
giá trị học hiện đại khi đã xây dựng mô hình toán học về cấu trúc giá trị với các quan
hệ giá trị và mệnh đề giá trị học. Tác phẩm chính của ông là: “Cấu trúc của giá trị: Cơ
sở của giá trị học”. Ông đã đưa ra một số vấn đề như: thuật ngữ về giá trị, tính khách
quan và chủ quan của giá trị, các loại hình của giá trị… Theo đó, giá trị tồn tại khách
quan và có thể định lượng được. Đặc biệt ông đã đưa ra Mẫu đo giá trị (The Hartman

trị của xã hội hiện tại. Đây là những cơ sở quan trọng trong việc xây dựng mối quan
hệ giữa văn hóa – chính trị - xã hội đối với sự phát triển bền vững trong đó nhân tố
con người được đặt ở vị trí trung tâm.
b. Hướng nghiên cứu về giá trị sống
Giá trị sống được các tác giả theo chủ nghĩa Hiện sinh gọi là giá trị sống còn
(giá trị tồn tại). Chủ nghĩa hiện sinh là từ dùng để nói về các nghiên cứu của một nhóm
các triết gia cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, mặc dù khác nhau về học thuyết nhưng có
chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể người – không chỉ là chủ thể
tư duy mà là cá thể sống, cảm xúc và hoạt động, tiếp cận gần hơn với cuộc sống thực
của con người. Chủ nghĩa hiện sinh nổi lên trong phong trào của văn học và triết học
thế kỷ 20. Đại diện cho chủ nghĩa hiện sinh là Soren Kierkegaard, Friedrich Nietzsche,
Martin Heidegger, Jean Paul Sartre, Franz Kafka, Albet Camus…[111].
Các tác giả đã chú trọng đến các trải nghiệm chủ quan của cá nhân hơn
những chân lý khách quan của khoa học. Soren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche
xem xét vai trò của sự lựa chọn tự do đặc biệt là những giá trị và niềm tin căn bản.
Nghĩa là nghiên cứu con người và nghiên cứu về giá trị có mối quan hệ khăng khít
với nhau. Giá trị là những cái có thực do con người tạo ra, bảo đảm cho cuộc sống
thực (living life) của con người thực mà muốn có cuộc sống trước hết phải tồn tại.
Lần đầu tiên, trong tác phẩm “Tồn tại và thời gian” (Being and Time) của
M.Heidegger, lần đầu tiên thuật ngữ “Tồn tại” (Being) đã được bàn luận tới và ông
đã xây dựng học thuyết trải nghiệm. Theo đó, điều quan trọng với giá trị sống là sự
trải nghiệm phải gắn với sự quan tâm và sống thật với chính mình


13

Năm 1943. Jean Paul Sarte đã đi sâu nghiên cứu nguyên nhân khiến con
người tồn tại (to be human), tồn tại cá thể người (individual human) là gì? J.P.Sarte
đã xác định hai loại tồn tại: tồn tại trong tôi – giá trị nội tại; tồn tại cho tôi – giá trị
sống. Tồn tại trong tôi là tồn tại độc lập phản ánh bản ngã của cá nhân. Còn để có



14

(1) Cách tiếp cận truyền thống: nhấn mạnh đến vai trò của người lớn trong việc
truyền đạt các những quy chuẩn đạo đức của xã hội (bao gồm cả giá trị) thông qua giáo
dục tính cách, giảng dạy trực tiếp, sử dụng hình thức khen thưởng và kỷ luật..
(2) Cách tiếp cận sự tiến bộ hoặc kiến tạo (progressive or constructivist
approach): nhấn mạnh đến các hoạt động của học sinh trong việc xây dựng ý nghĩa
của đạo đức, thông qua quá trình tương tác xã hội và thảo luận về đạo đức. Mục
đích là thúc đẩy tính tích cực, tự chủ của cá nhân trong việc đánh giá, lựa chọn các
giá trị đạo đức. suy nghĩ phù hợp.
- Nghiên cứu về vai trò của giáo dục giá trị trong nhà trường: Một số tác giả
tiêu biểu như: J. Mask Halsted, Monica J.Taylor [81], N.Venkatalad [99],… cho
rằng: nhiệm vụ của giáo dục giá trị chính là khuyến khích thế hệ trẻ nhận thức về
những giá trị và có cách cư xử phù hợp với các mối quan hệ trong cuộc sống của họ
và nhà giáo dục, thầy cô giáo và cha mẹ không chỉ thể hiện các hành động dựa trên
các giá trị mà còn giúp đỡ thanh thiếu niên phát triển các kỹ năng vận dụng các giá
trị vào cuộc sống của họ [80]. Mathew Davidson thì cho rằng: giáo dục giá trị còn
có vai trò trong việc phát triển tiềm năng của con người, bởi sự phát triển con người
bao gồm cả trí tuệ và đạo đức, được thể hiện ở năng lực công việc đồng thời thể
hiện ở cách mà chúng ta cư xử công bằng và biết quan tâm lẫn nhau [88]. Có thể
thấy, giáo dục giá trị tác động một cách toàn diện đến sinh viên như thể chất, tâm
trí, đạo đức, cảm xúc, xã hội.
- Nghiên cứu về phương pháp, con đường giáo dục giá trị trong nhà trường.
Các nghiên cứu thường đặt ra vấn đề: nhà trường sẽ giáo dục giá trị như thế nào? và
bằng cách nào? hay nói cách khác việc dạy và học giá trị trong nhà trường sẽ được
tổ chức ra sao? Tác giả Mark Halsted, Jackson, Boostrom, Hasen cho rằng: “một
phần của nhà trường phải thực hiện nhiệm vụ dạy giá trị và ngược lại, giá trị cũng
góp phần vào việc tổ chức nhà trường. Giá trị trong trường học xuất hiện trong cách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status