ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG TRẦN THẢN
Mã số sinh viên: DTS145D140206038
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH
CÂU LẠC BỘ VOVINAM TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỊNH HÓA – TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: THỂ DỤC THỂ THAO
Thái Nguyên, năm 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG TRẦN THẢN
Mã số sinh viên: DTS145D140206038
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH
CÂU LẠC BỘ VOVINAM TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỊNH HÓA – TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: THỂ DỤC THỂ THAO
Người hướng dẫn khoa học: TS. Võ Xuân Thủy
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến tiến sĩ
Võ Xuân Thủy - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Cuối cùng em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình và cảm ơn bạn bè đã ủng
hộ, chia sẻ những khó khăn để em có thể hoàn thành tốt khóa luận này. Em xin kính
chúc quý thầy cô, gia đình và bạn bè lời chúc sức khỏe và thành công.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Hoàng Trần Thản
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ ................................................................................................................. i
Lời cam đoan................................................................................................................. ii
Lời cảm ơn...................................................................................................................iii
Mục lục ........................................................................................................................ iv
Danh mục các từ viết tắt................................................................................................v
ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU........................................4
1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục thể chất và thể thao trường học........4
1.2. Một số nét về môn Vovinam - Việt Võ Đạo............................................................5
1.2.1. Sơ lược lịch sử.....................................................................................................5
1.2.2. Đặc điểm kỹ thuật của môn võ Vovinam..............................................................5
1.2.3. Triết lý võ đạo của môn phái Vovinam.................................................................7
1.2.4. Đặc điểm thi đấu môn Vovinam..........................................................................7
1.3. Thực trạng phong trào tập luyện thể thao trên địa bàn huyện Định Hóa...............7
Hóa.............................................................................................................................. 21
3.1.2. Thực trạng cơ sở vật chất và tổ chức của các CLB Vovinam trong trường phổ
thông tại huyện Định Hóa............................................................................................21
3.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến phong trào tập luyện Vovinam tại huyện Định Hóa....24
3.2. Tìm hiểu nhu cầu tập luyện Vovinam tại một số trường phổ thông trên địa bàn
huyện Định Hóa...........................................................................................................25
3.2.1. Thiết kế và kiểm tra độ tin cậy của phiếu phỏng vấn.........................................25
3.2.2. Quy trình đánh giá tính hiệu quả của phiếu phỏng vấn......................................25
3.2.3. Điều tra về nhu cầu tập luyện Vovinam tại một số trường phổ thông trên địa bàn
huyện Định Hóa...........................................................................................................27
3.3. Xây dựng mô hình CLB Vovinam trong một số trường học trên địa bàn huyện
Định Hóa..................................................................................................................... 30
3.3.1. Xây dựng tiêu chí chung....................................................................................31
3.3.2. Đánh giá mức độ cần thiết của các tiêu chí........................................................33
3.3.3. Xây dựng mô hình CLB Vovinam trong trường học tại huyện Định Hóa..........34
3.3.4. Kết quả bước đầu của việc áp dụng mô hình CLB Vovinam huyện Định Hóa..35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................38
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................40
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHL
Ban huấn luyện
CLB:
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
Ths
Thạc Sỹ
TS
Tiến Sỹ
VĐV
Vận động viên
vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1. Thực trạng về cơ sở vật chất và số môn sinh tại các CLB...........................22
Biểu đồ 3.1. Thực trạng về cơ sở vật chất và số môn sinh tại các CLB.......................23
Bảng 3.2. Kết quả đánh giá tính hiệu quả của phiếu hỏi..............................................26
Bảng 3.3. Kết quả khảo sát về nhu cầu tập luyện Vovinam của học sinh một số trường
phổ thông trên địa bàn huyện Định Hóa......................................................................27
thể thao (TDTT) trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, qua đó
phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho quốc gia.
Luật giáo dục được Quốc hội khoá IX Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 02/12/1998 và Pháp lệnh TDTT được Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội thông qua tháng 09/2000 quy định: “Nhà nước coi trọng TDTT trường học nhằm
phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thành thiếu niên, nhi đồng. Giáo dục thể
chất là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh, sinh viên được thực hiện trong hệ
thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học. TDTT trường học bao gồm việc tiến
hành chương trình giáo dục thể chất bắt buộc và tổ chức hoạt động TDTT ngoại khoá
cho người học. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh được tập luyện
TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện từng nơi. Giáo dục thể chất là một
bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân
1
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
Thể thao học đường chính là nền tảng cho thể thao thành tích cao và là thước đo
cho phong trào thể thao quần chúng. Các môn thể thao trong trường học cũng rất đa
dạng, nhưng tựu chung lại chủ yếu vẫn là những môn thể thao phổ biến, đó là điền
kinh, bóng đá, bóng rổ và nhóm các môn thể thao dân tộc như: Đá cầu, Kéo co,
Vovinam, Võ cổ truyền, nhóm các trò chơi dân gian. Trong hệ thống các trường phổ
thông hiện nay trên toàn quốc nói chung và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng thì
môn võ dân tộc Vovinam - Việt Võ Đạo rất phát triển và được đông đảo học sinh, sinh
viên đón nhận, một trong những nguyên nhân chính là tính hiệu quả trong rèn luyện
sức khỏe và tu dưỡng đạo đức mà môn võ dân tộc này mang lại.
Bên cạnh đó, ngoài sự định hướng của Liên đoàn Vovinam quốc gia về việc đẩy
mạnh phát triển trong học đường thì Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cũng đặc biệt
quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển các môn võ môn võ dân tộc, trong đó có
Vovinam, định hướng sử dụng Vovinam làm phương tiện rèn luyện sức khỏe và tu
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục thể chất và thể thao trường học
Giáo dục thể chất cho học sinh là vấn đề mà Đảng và Nhà nước luôn quan tâm
chỉ đạo kể cả khi đất nước còn gặp khó khăn. Ngay từ khi thành lập chính quyền
(1945) Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng công tác giáo dục và phát triển toàn
diện, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đất nước. Các văn bản pháp
lý của Đảng và Nhà nước đều nhấn mạnh TDTT là công tác cách mạng, là công cụ tác
động tích cực đến đời sống của xã hội về mọi mặt. Trên cơ sở chỉ thị nghị quyết của
Đảng, hàng loạt các văn bản pháp quy về công tác TDTT nhằm góp phần thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ đã được ban hành, nêu rõ mục đích
giữ gìn, nâng cao sức khỏe cho thế hệ trẻ. Ngay khi tiến hành cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước, ngày 02/06/1969 Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị 48/TTG-CT
trong đó phân tích cặn kẽ tình hình công tác giáo dục thể chất cho học sinh, nguyên
nhân thiếu sót trong công tác này và đề ra biện pháp cụ thể, nhằm đẩy mạnh nâng cao
chất lượng công tác giáo dục thể chất trong trường học các cấp.
Trong quá trình đổi mới hiến pháp năm 1992 đã nhấn mạnh về “ Quy định chế
độ giáo dục thể chất trong trường học” (Điều 4- Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam).
Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI (1986) mở đầu thời kỳ đổi mới đã khẳng
định “Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT trong quần chúng” từng bước
đưa việc rèn luyện thể thao thành thói quen hàng ngày trong đông đảo nhân dân, trước
hết là thế hệ trẻ, nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong trường học.
Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) tiếp tục nhấn mạnh: “Công tác TDTT cần coi
trọng việc nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong trường học.”
Trước thực trạng khó khăn về nhiều mặt trong việc phát triển TDTT, Chính phủ
đã ban hành chỉ thị số 133/TT ngày 07/03/1995 về việc xây dựng và quy hoạch ngành
TDTT trong đó yêu cầu Bộ GD&ĐT cần coi trọng giáo dục thể chất trong nhà trường,
cải tiến nội dung dạy học nội khóa, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể
dạng, đủ các lứa tuổi, nhưng đông nhất vẫn là lứa tuổi thanh thiếu niên; các CLB chủ
yếu nằm trong những trường học, bởi thể thao học đường luôn luôn là nền móng của
thể thao phong trào và thể thao thành tích cao.
1.2.2. Đặc điểm kỹ thuật của môn võ Vovinam
5
Vovinam lấy gốc là môn vật cổ truyền Việt Nam, kết hợp hợp tinh hoa của
nhiều môn phái Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, đòn thế của Vovinam có rất
nhiều tương đồng với các môn phái khác nhưng vẫn tạo được nét tinh hoa riêng của
môn phái. Vovinam bao gồm phần võ thuật như những thế đấm, đá, gạt, đỡ, gối, chỏ,
vật, đòn chân, khoá siết,… và phần binh khí như việc sử dụng và chống
đỡ kiếm, đao, côn, thương, dao găm, súng trường, mã tấu,… Tiếp đó là việc luyện
tập ngạnh công, nhuyễn công, khí công giúp dưỡng sinh và bảo tồn sức khỏe.
Đòn thế Vovinam dựa trên nguyên lý "Một phát triển thành ba" nên tất cả các
đòn thế được tập luyện từ những đòn căn bản (các kỹ thuật đơn lẻ như: tấn công,
phòng thủ, té ngã,…), qua tổ hợp các kỹ thuật với độ khó cao hơn (từ kỹ thuật căn bản
ghép lại thành các bài quyền, các thế chiến lược, phản đòn, khóa gỡ,…) và đến các
dạng đa luyện (sự phối hợp của các bài quyền, các thế chiến lược, thế khóa gỡ sẽ tạo
nên các bài song luyện, đối luyện, tam đấu, tứ đấu,…) theo một trình tự logic từ dễ đến
khó, giúp người tập luôn được ôn luyện lại những kỹ thuật đã học, từ đó thực hiện
nhuần nhuyễn các kỹ thuật căn bản, đồng thời những kỹ năng khác cũng dần được
nâng cao và hoàn thiện thông qua nguyên lý “một phát triển thành ba”. Vovinam rất
nổi tiếng với 3 kỹ thuật:
- Kỹ thuật đánh chỏ: Thường được sử dụng trong những tình huống tự vệ cận
chiến với lực sát thương rất lớn (vì vậy trong một số cuộc thi song đấu đối kháng
Vovinam, môn sinh không được phép dùng chỏ).
- Kỹ thuật chém quyét: Sử dụng cạnh bàn tay chém số 1, đồng thời dùng chân
thiện, cũng như tính khiêm nhường; luôn phấn đấu, tự hoàn thiện bản thân. Môn sinh
Vovinam luôn tự thực hiện cuộc "cách mạng Tâm Thân" để phát triển toàn diện về
tâm, trí, thể. Ngoài việc luyện tập đòn thế để thân thể cường tráng, dẻo dai và khỏe
mạnh, môn sinh Vovinam còn trau dồi một tâm hồn thanh cao, hiến ích, tự tin, can
đảm, cao thượng, bất khuất và tính nhân bản theo lời dạy của võ sư Nguyễn Lộc "sống
cho mình, giúp cho mọi người khác sống, sống cho mọi người". Lý thuyết võ đạo là
nội dung bắt buộc trong chương trình giảng dạy và thi thăng cấp của mỗi cấp đai, đây
chính là nét khác biệt lớn nhất của Vovinam so với những môn phái khác.
1.2.4. Đặc điểm thi đấu môn Vovinam
Môn Vovinam có 2 nội dung thi đấu, đó là thi đấu đối kháng (theo hạng cân)
và thi hội diễn (quyền cá nhân, quyền đồng đội, đa luyện, song luyện, đòn chân tấn
công,...). Sàn đấu là một hình vuông có kích thước 11m x 11m, được ghép bằng những
tấm thảm mềm hình vuông 1m x 1m; có độ dày tối thiểu 1,5cm, tối đa 3 cm, không
trơn trượt và được đặt trên mặt sàn phẳng đảm bảo tính an toàn cho VĐV thi đấu,
VĐV khi thi đấu đối kháng phải đủ các dụng cụ bảo hộ như giáp thân, gióng tay, gióng
chân, kuki, mũ bảo hiểm, bịt răng, găng tay. Luật thi đấu đối kháng của môn Vovinam
đề cao sự an toàn cho vận động viên, loại bỏ những đòn nguy hiểm như đòn trỏ, gối,
đá chẻ, xiết khóa,... Các hạng cân được chia đều và phù hợp với lứa tuổi, thời gian thi
đấu tùy thuộc vào trình độ của VĐV và điều kiện cơ sở vật chất tại nơi tổ chức.
Hệ thống giải đấu cấp quốc tế của môn Vovinam bao gồm các giải Vô địch Thế
giới, Giải Vô địch các châu lục. Đối với giải đấu quốc nội hàng năm tổ chức rất nhiều
giải từ cấp địa phương đến cấp quốc gia - đặc biệt là Giải Vô địch, Giải CUP các đội
mạnh, Giải trẻ và Giải Đại hội TDTT toàn quốc là những giải quan trọng hàng năm
của các đơn vị.
1.3. Thực trạng phong trào tập luyện thể thao trên địa bàn huyện Định Hóa
7
1.3.1. Tình hình chung của phong trào thể thao huyện Định Hóa
Định Hóa là một huyện miền núi phía Tây bắc tỉnh Thái Nguyên, được biết
tỉnh Thái Nguyên năm 2017, trên toàn huyện có 15 CLB võ thuật, thu hút hơn 2000 võ
sinh thường xuyên tham gia tập luyện.
8
1.3.3. Thực trạng phong trào tập luyện Vovinam tại các trường học trên địa bàn
huyện Định Hóa
Cùng với sự phát triển chung của môn Vovinam trên toàn tỉnh, huyện Định Hóa
bắt đầu xuất hiện câu lạc bộ Vovinam vào năm 2013 do HLV Bùi Thị Nga (từng là sinh
viên khoa TDTT trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên) giảng dạy, nhưng do môn võ
mới nên chỉ phát triển phong trào tại thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa. Sau 4 năm
phát triển, số lượng đã tăng lên 06 CLB tại các trường: THPT Định Hóa (2015), THPT
Dân tộc Nội trú Bình Yên (2016), THCS Trung Hội (2016), THCS Phú Đình (2016),
THCS Phượng Tiến (2016), TH Phú Tiến (2017), mỗi CLB thu hút hàng trăm học sinh
địa phương tham gia tập luyện mỗi năm. Điều đó cho thấy đây chính là địa phương
giàu tiềm năng để môn Vovinam tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa trong hệ thống học
đường.
Qua hơn 4 năm phát triển, đội tuyển Vovinam của huyện cũng đã bước đầu thu
được những thành tích nhất định, như đạt 02 HCV, 04 HCB, 01 HCĐ tại Giải Vovinam
Đại hội TDTT tỉnh Thái Nguyên lần thứ VII năm 2014; năm 2015 đạt 02 HCV, 03
HCB, 02 HCĐ tại Giải Vovinam Đại học Nông lâm mở rộng, năm 2016 đạt 03 HCV,
03 HCB, 05 HCĐ tại Giải Vovinam Đại học Sư Phạm mở rộng; năm 2017 đạt 01 HCĐ
tại Giải Vovinam học sinh Toàn quốc lần thứ 1 tại Thanh Hóa; cùng với đó là rất nhiều
huy chương, giải thưởng tại giải Vovinam tỉnh Thái Nguyên hàng năm và tại các Liên
hoan võ thuật do nhiều đơn vị khác nhau tổ chức; gần đây nhất tại Đại hội TDTT tỉnh
Thái Nguyên lần thứ VIII năm 2018, đội tuyển cũng đã mang về 02 HCV và 05 HCB.
Các thành viên đội tuyển huyện Định Hóa tại Giải Vovinam tỉnh Thái Nguyên năm 2016
Trên thực tế cho thấy, môn võ Vovinam đã góp phần tích cực vào việc phát triển
+ 8 tuổi là 3,5 kg
+ 7 tuổi là 2,9 kg
+ 12 tuổi là 5,2 kg
Các nhóm cơ to phát triển sớm hơn các nhóm cơ nhỏ, do đó khả năng phối hợp
vận động ở HSTH nói chung còn rất kém. Để phát triển khả năng vận động có sự phối
hợp nhịp nhàng và khéo léo cho các em cần hướng dẫn các em những thao tác, kỹ
thuật nhỏ, yêu cầu tính khéo léo, như: múa, vẽ, viết, làm thủ công, các trò chơi vận
động (xếp chữ, sắp xếp các đồ vật nhỏ cần thao tác khéo léo, nhẹ nhàng, tỉ mỉ..).
Lực cơ của HSTH được tăng dần theo lứa tuổi. Với học sinh nam 7 tuổi thì lực cơ
trung bình là 4 - 7 kg, 12 tuổi là 11,3 - 13,9 kg. Ở lứa tuổi này cơ phát triển còn thiếu cân
đối, nên khảnăng phối hợp vận động còn kém, khi thực hiện động tác sẽ có nhiều cử động
thừa, tốn sức, kém hiệu quả, gây mệt mỏi và sự chán nản trong tập luyện.
B. Hệ xương
10
Ở lứa tuổi HSTH, tốc độ phát triển của xương nhanh hơn so với các bộ phận
khác của cơ thể, đặc biệt là xương ở tay và chân.
Cấu trúc xương và khớp chưa được phát triển hoàn chỉnh, vững chắc, mà phải
đến tuổi 16 - 17 mới tương đối ổn định. Vì vậy, trong quá trình tập luyện thể thao tại
những giờ học chính khóa và ngoại khóa cần tránh các động tác đè nén lên cơ thể, đòi
hỏi học sinh phải chống đỡ, làm mất cân xứng hai bên chậu hông, tạo nên sự sai lệch
cơ thể, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển và trưởng thành sau này cho các em.
Ở lứa tuổi HSTH, các đốt xương ở cột sống có độ dẻo cao, chưa phát triển
thành xương hoàn toàn và còn ở trong giai đoạn hình thành đường cong sinh lý. Do đó,
những tư thế ngồi, đứng, đi lại, chạy, nhảy... không phù hợp với cấu trúc tự nhiên và
giải phẫu sẽ dễ làm cong vẹo cột sống, gây ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển của
lượng phế nang tham gia mỗi lần hô hấp còn ít, nên lượng ôxy được đưa vào máu
không cao.
Lượng không khí chứa đựng trong phổi còn thấp (ở trẻ 8 tuổi là 1,699 lít, người
trưởng thành là 4 lít).
Do vậy, phổi của các em phải thường xuyên làm việc khẩn trương mới cung
cấp đủ ôxy cho cơ thể .
Về lượng thông khí phổi (thể tích khí mỗi lần hít vào hoặc thở ra bình thường),
dung tích sống (thể tích khí thở ra cố gắng, sau khi hít vào hết sức) được tăng dần theo
sự phát triển lứa tuổi của tần số hô hấp (số lần thở ra - hít vào trong một phút) của
HSTH tương đối cao. Do đó, khi hoạt động thể thao với lượng vận động vừa phải thì
nhịp thở đã tăng lên cao, các em dễ mệt mỏi, sớm chuyển sang thở gấp, đòi hỏi phải có
thời gian nghỉ ngơi phù hợp với lứa tuổi các em.
Tập luyện thể thao đảm bảo tính khoa học, phù hợp đặc điểm hệ hô hấp của trẻ
sẽ tạo điều kiện cho hệ hô hấp phát triển tốt, từ đó nâng cao chất lượng hô hấp của
phổi, tạo điều kiện phát triển và hoàn thiện quá trình trao đổi chất và nâng cao khả
năng hoạt động của các hệ thống cơ quan khác (tuần hoàn, cơ- xương, thần kinh, bài
tiết, tiêu hoá...).
1.4.1.4. Đặc điểm hệ thần kinh
Ở lứa tuổi HSTH, hoạt động phân tích và tổng hợp của các em kém nhạy bén,
nhận thức các hiện tượng biến đổi của xã hội còn mang tính chủ quan, cảm tính, bị
động...
Ở lứa tuổi này các em có khả năng bắt chước một cách máy móc, khả năng
phân biệt, tính sáng tạo còn hạn chế.
Do đó, trong giảng dạy TDTT, giáo viên cần phải làm mẫu chính xác kỹ thuật động
tác theo yêu cầu bài học. Ở lứa tuổi HSTH, thường có một số loại hình thần kinh sau:
- Loại mạnh - thăng bằng: Hưng phấn bình thường, thể hiện trạng thái sức khoẻ
tốt, các em này có khả năng hình thành phản xạ nhanh, có tình cảm sâu sắc, bình tĩnh,
tự tin, mức độ tập trung cao, trí nhớ tốt...
12
1.4.2.3. Hệ tim mạch
Sự phát triển hệ thống tim mạnh cũng chưa cân đối, dung tích tim tăng gấp đôi
so với lứa tuổi trước, nhưng dung tích của hệ huyết quản chỉ tăng gấp rưỡi. Do đó, ở
13
học sinh THCS có một số dối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn như tăng huyết áp, tim
đập nhanh, chóng mặt, tức ngực,....
1.4.2.4. Hệ sinh dục
một trong những đặc điểm của sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này là sự phát
dục. Đây là một chức năng sinh lý hoàn toàn mới, biểu hiện của thời kỳ này là cơ sinh
dục phát triển và xuất hiện những dấu hiệu phụ của giới tính như có ria mép, có trứng
cá trên mặt, tóc mọc nhanh, mượt hơn.... Sự phát dục ở các em nữ vào khoảng 12,13
tuổi; ở những em nam vào khoảng 14,15 tuổi. Thời kỳ phát dục sớm hay muộn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như dân tộc, khí hậu, chế độ sinh hoạt và sức khỏe cá nhân.
Hiện nay, do điều kiện xã hội có nhiều thay đổi, nên có sự gia tốc phát triển thể chất và
phát dục.
1.4.2.5. Đặc điểm tâm lý
Sự phát dục đã làm nảy sinh ở học sinh THCS nhiều hiện tượng tâm lý mới, đó
là cảm giác về tính người lớn, những cảm xúc và ý nghĩ mới mẻ, kích thích sự phát
triển mối quan tâm với người khác giới.... Tuy nhiên, ở lứa tuổi này chưa có sự cân đối
giữa sự phát dục, giữa bản năng tương ứng với mức độ trưởng thành về mặt xã hội và
tâm lý
Những biến đổi về thể chất nêu trên chỉ có thể gây cho học sinh THCS sự rối
loạn về chức năng của cơ thể và có thể gây nên những biểu hiện lệch lạc trong đời
sống tâm lý. Nhưng đó chỉ là khó khăn tạm thời, khó khăn của sự trưởng thành. Việc
tổ chức đúng đắn đời sống và hoạt động cho học sinh THCS có khả năng khắc phục
những biểu hiện tiêu cực, đồng thời phát huy những yếu tố mới tích cực trong thể chất
và tâm hồn của các em.
1.4.3. Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh cấp 3 (THPT)
chọn nghề nghiệp, học hành, tình cảm. Việc can thiệp trực tiếp theo kiểu “ra lệnh”, “ép
buộc” của cha mẹ với các em trong lứa tuổi này là không phù hợp và cũng không thể
hiệu quả nữa. Sự tôn trọng và trò chuyện của phụ huynh với học sinh có thể tạo được
mối quan hệ tốt giữa cha mẹ và con cái. Sự tin cậy, thẳng thắn từ phía phụ huynh sẽ có
thể giúp các em nhanh chóng trưởng thành theo chiều hướng tích cực; Mức độ đồng
nhất hoá của học sinh với cha mẹ ở tuổi này thấp hơn ở trẻ nhỏ. Do vậy, việc phụ
huynh áp đặt các hành vi và cách suy nghĩ của mình có thể sẽ gây ra phản ứng của các
em. Học sinh lớn chủ yếu mong muốn cha mẹ là những người bạn, người “cố vấn”.
Những người cha mẹ tốt luôn là những khuôn mẫu hành vi quan trọng đối với các em.
Nếu thiếu sự định hướng và những khuôn mẫu hành vi từ phía cha mẹ, các em có thể
tìm kiếm các khuôn mẫu khác ngoài môi trường gia đình để làm theo bởi các mối quan
hệ xã hội và khả năng tiếp xúc với những người khác đã mở rộng hơn.
15
Trong quan hệ với bạn bè, học sinh THPT có thể tham gia vào nhiều nhóm bạn
đa dạng hơn. Nhóm bạn có các định hướng giá trị rõ rệt hơn và có điều kiện tồn tại lâu
dài hơn. Đặc điểm này không rõ ở học sinh THCS. Học sinh THPT có thể vừa tham
gia vào các nhóm có tổ chức như lớp học, chi đoàn vừa tham gia vào các nhóm bạn bè
tự phát, trong đó có những nhóm thường xuyên, ổn định và các nhóm tạm thời tình
huống. Các nhóm thường xuyên có sự phân hoá, vai trò ổn định hơn và một số trường
hợp có sự đoàn kết.
Có thể nói tuổi đầu thanh niên là tuổi của những người đang lớn nhưng chưa
thành người lớn, những người thu nhận thông tin nhưng không phải là người uyên bác,
những người ham mê nhưng không phải say mê.
1.5. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong lĩnh vực về nghiên cứu xây dựng và phát triển mô hình CLB Vovinam, cho
đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có tác giả nào thực hiện - đặc biệt là về việc xây dựng
và phát triển câu lạc bộ Vovinam trong trường học ở Huyện Định Hóa.
cập, chưa đáp ứng được nhu cầu hiện nay (chương trình, phương pháp giảng dạy chưa
có sự nhất quán, khả năng liên kết giữa các CLB chưa cao - chủ yếu là hoạt động độc
lập,...). Do vậy, để phong trào phát triển mạnh hơn, tương xứng với tiềm năng của địa
phương thì việc xây dựng cần một mô hình CLB Vovinam thống nhất trên toàn huyện
là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ thực trạng trên, với mong muốn của bản thân được góp sức vào sự
nghiệp phát triển TDTT trên địa bàn huyện nói chung và phát triển phong trào
Vovinam tại huyện Định Hóa nói riêng, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây
dựng và phát triển mô hình câu lạc bộ Vovinam trong một số trường học trên địa bàn
huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên”.
17