Trách nhiệm quốc gia trong đảm bảo an toàn hạt nhân theo quy định của pháp luật quốc tế, thực tiễn thực thi ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam (Luận án tiến sĩ) - Pdf 50

B GIO DC V O TO

B T PHP

TRNG I HC LUT H NI

MC TH HOI THNG

Trách nhiệm của quốc gia trong đảm bảo
an toàn hạt nhân theo quy định của pháp luật
quốc tế, thực tiễn thực thi ở một số quốc gia
và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

LUN N TIN S LUT HC

H NI - 2018


B GIO DC V O TO

B T PHP

TRNG I HC LUT H NI

MC TH HOI THNG

Trách nhiệm của quốc gia trong đảm bảo
an toàn hạt nhân theo quy định của pháp luật
quốc tế, thực tiễn thực thi ở một số quốc gia
và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Chuyờn ngnh : Lut quc t


7

1.1. Đánh giá các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

7

1.2. Đánh giá các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

23

1.3. Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và phương pháp giải quyết vấn đề

32

1.4. Các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

33

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM QUỐC

35

GIA BẢO ĐẢM AN TOÀN HẠT NHÂN

2.1. Khái niệm an toàn hạt nhân

35

2.2. Khái niệm trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân

95

tại một số quốc gia
3.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương 4: THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM QUỐC GIA ĐẢM BẢO AN

116
120

TOÀN HẠT NHÂN TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

4.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển, ứng
dụng năng lượng hạt nhân

120


4.2. Khái quát tình hình sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa

123

bình ở Việt Nam
4.3. Trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân theo quy định của

126

pháp luật và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
4.4. Thực tiễn thực hiện trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân

141

NLHN : Năng lượng hạt nhân
NLNT

: Năng lượng nguyên tử


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Hệ thống hoạt động diễn tập thực hành công ước thông báo

148

bảng
4.1

sớm sự cố hạt nhân của Việt Nam

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

Tên hình

Trang

của nhiều quốc gia và Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.
Tuy nhiên hiện nay, cộng đồng quốc tế đang phải đối mặt với thách thức
lớn trong sử dụng NLHN đó là nguy cơ mất an toàn hạt nhân (viết tắt là ATHN).
Một vấn đề cố hữu trong việc sử dụng NLHN là bức xạ không thể nhìn thấy được
và không ai có thể ngăn chặn sự lan truyền của nó xuyên qua bầu khí quyển tới các
quốc gia xung quanh. Do đó, việc sử dụng NLHN có nguy cơ cao sẽ gây ra thiệt hại
hạt nhân xuyên biên giới đối với môi trường của quốc gia khác. Để đảm bảo ATHN,
cộng đồng quốc tế phải có những biện pháp đảm bảo an toàn ngăn ngừa tai nạn hạt
nhân và những hậu quả nguy hại của chúng.
Số lượng lò phản ứng hạt nhân được sử dụng cho các mục đích hòa bình
ngày một tăng, nguy cơ xảy ra sự cố vì vậy cũng sẽ tăng. Sau sự cố hạt nhân
Chernobyl và Fukushima, nhiều quốc gia đã cải cách mạnh mẽ về chính sách sử
dụng NLHN, cơ cấu tổ chức cũng như quy trình đảm bảo ATHN. Có thể nói, chưa
bao giờ trên thế giới vấn đề đảm bảo ATHN và trách nhiệm quốc gia đảm bảo
ATHN lại trở thành chủ đề nóng được bàn thảo với tần suất cao như hiện nay.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế, kinh nghiệm các quốc gia
trên thế giới và các quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm đảm bảo ATHN là
vô cùng cấp thiết vì những lý do sau:
Thứ nhất, nhằm làm rõ và quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách liên
quan đến vấn đề phát triển NLHN vì mục đích hòa bình mà Đảng và Nhà nước ta đã

1


đề ra trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng về Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010, với định hướng: "Nghiên cứu
phương án sử dụng năng lượng hạt nhân" và Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày
01/11/2012 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về
phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Việt Nam.

4


Luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác
nhau bao gồm: phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp tổng hợp, phương
pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp
nghiên cứu lý luận với thực tiễn để đưa ra các giải pháp cụ thể và khả thi.
Trong khuôn khổ luận án, phương pháp phân tích và so sánh là phương
pháp được nghiên cứu sinh sử dụng nhiều và phổ biến ở các chương. Trong đó,
phương pháp phân tích được áp dụng nhiều ở Chương 2 nhằm làm rõ điểm đặc thù
của thuật ngữ trách nhiệm quốc gia đảm bảo ATHN so với trách nhiệm quốc gia nói
chung. Phương pháp so sánh được sử dụng nhuần nhuyễn tại Chương 3 và Chương
4 nhằm đối chiếu, so sánh các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật một số
quốc gia về vấn đề trách nhiệm quốc gia đảm bảo ATHN.
Tương tự, phương pháp nghiên cứu gắn lý luận với thực tiễn cũng được
nghiên cứu sinh sử dụng trong hầu hết các chương nhằm làm rõ nội dung của chế
định trách nhiệm pháp lý quốc tế, trách nhiệm quốc gia đảm bảo ATHN và thực tiễn
thi hành tại các quốc gia.
Phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống được sử dụng để xâu chuỗi
các vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến từng nội dung cụ thể của trách nhiệm
quốc gia đảm bảo ATHN. Qua đó, luận án đánh giá và đưa ra giải pháp cụ thể nhằm
tiếp tục hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm quốc gia đảm bảo ATHN
trong giai đoạn hiện nay.
5. Kết quả nghiên cứu mới của luận án
Tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, đề tài đã nghiên
cứu, phân tích và có một số điểm mới cơ bản như sau:
Về lý luận: khác những công trình nghiên cứu liên quan ở trong nước và
nước ngoài, luận án tiếp cận và phân tích cơ sở lý luận của pháp luật về bảo đảm

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm quốc gia đảm bảo
an toàn hạt nhân.
Chương 3: Thực trạng pháp luật quốc tế về trách nhiệm quốc gia đảm bảo
an toàn hạt nhân và thực tiễn thi hành tại một số quốc gia.
Chương 4: Thực tiễn thực hiện trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt
nhân của Việt Nam và một số kiến nghị.

6


Chƣơng 1

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Đánh giá các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Trên bình diện thế giới, trong lĩnh vực khoa học pháp lý, vấn đề trách nhiệm
quốc gia nói chung và vấn đề trách nhiệm quốc gia trong lĩnh vực hạt nhân là vấn đề đã
được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Cho đến nay có khá nhiều công trình nghiên
cứu về các khía cạnh pháp lý khác nhau liên quan tới việc sử dụng NLHN vì mục đích
hòa bình. Trong số đó, có khá nhiều các công trình nghiên cứu liên quan tới trách
nhiệm quốc gia trong sử dụng NLHN. Tiêu biểu là các công trình đã được xuất bản
thành giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, hoặc được công bố trên các Tạp chí
khoa học pháp lý. Có thể kể tới các nhóm công trình sau đây.
1.1.1. Đánh giá các công trình nghiên cứu về sự hình thành và phát triển
các quy phạm pháp luật quốc tế về trách nhiệm quốc gia nói chung, các yếu tố cấu
thành và bản chất của trách nhiệm quốc gia
Có nhiều công trình nghiên cứu ở các nước về vấn đề này, trong đó điển
hình như:

gây ra trong quá khứ”. Như vậy, cuốn sách có thể là tài liệu tham khảo cho luận án
khi xây dựng cơ sở, nội hàm khái niệm trách nhiệm quốc gia. Tuy nhiên, điểm hạn
chế dễ nhận thấy của cuốn sách này đó là: nội hàm khái niệm trách nhiệm quốc gia
mới chỉ được đề cập đánh giá trên cơ sở trách nhiệm quốc gia đối với các chính
sách của quốc gia tập trung trong hai lĩnh vực chính là di cư và tị nạn… Chính vì
vậy, nội dung trách nhiệm quốc gia trong cuốn sách này được đánh giá là chưa thực
sự toàn diện.
- René Provost (2002), State Responsibility in International Law (dịch:
Trách nhiệm quốc gia trong luật quốc tế), Ashgate Publishing [111]. Cuốn sách đơn
thuần chỉ là tập hợp các nội dung nghiên cứu độc lập của nhiều học giả về vấn đề
trách nhiệm quốc gia trong vòng 50 năm. Do đó, công trình này không thể cung cấp
một cái nhìn toàn diện về trách nhiệm quốc gia. Tuy nhiên, cuốn sách lại là nguồn tài
liệu tham khảo hữu ích cho luận án. Bởi lẽ, thông qua các nghiên cứu, bình luận của
các học giả nổi tiếng về các khía cạnh khác nhau trong cuốn sách đã làm rõ và sâu sắc
hơn về nhiều khía cạnh quan trọng của pháp luật quốc tế về trách nhiệm quốc gia.
Nhìn chung, các công trình này đã đề cập tới các khía cạnh khác nhau của
pháp luật quốc tế về trách nhiệm quốc gia trong lĩnh vực NLHN bao gồm: trách

8


nhiệm quốc gia và trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia; mối quan hệ giữa chủ
quyền quốc gia và trách nhiệm quốc gia nói chung. Các công trình trên phần nào đã
phân tích, đánh giá về những ưu điểm, hạn chế của chế định trách nhiệm quốc gia
hiện hành. Tuy nhiên, chưa có bất kỳ công trình nào đặt cụ thể vấn đề trách nhiệm
quốc gia trong lĩnh vực ATHN.
1.1.2. Đánh giá các công trình về trách nhiệm đảm bảo an toàn hạt nhân
của các quốc gia trong quá trình sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình
Về vấn đề này, nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở các khía cạnh khác
nhau chủ yếu đề cập tới hai nhóm nội dung bao gồm:

thảo của Ủy ban pháp luật quốc tế về trách nhiệm quốc gia là phù hợp với các nguyên
tắc của pháp luật quốc tế nói chung và luật quốc tế về năng lượng hạt nhân nói riêng.
Do vậy, các quốc gia phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ các hoạt động của các
cơ sở hạt nhân của quốc gia.
- Taylor Burke (2006), Nuclear Energy and Proliferation: Problem,
observations, and Proposals (dịch: Năng lượng hạt nhân và phổ biến năng lượng
hạt nhân: Khó khăn, đánh giá và đề xuất), Boston University Jounal of Science and
Technology Law [117]. Đây được đánh giá là công trình nghiên cứu một cách tổng
quan vấn đề chính sách NLHN và chống phổ biến vũ khí hạt nhân. Tác giả Taylor
Burke đã lập luận và khẳng định sử dụng NLHN là cần thiết để bù đắp sự gia tăng
nhu cầu năng lượng. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng con người không thể dự
phòng hết mọi nguy cơ xảy ra tai nạn. Thêm vào đó, các vấn đề liên quan đến
NLHN và vấn đề sản xuất, sử dụng vũ khí hạt nhân sẽ không thể chấm dứt với
khuôn khổ quy định hạn chế như hiện nay. Do đó, cần có những biện pháp thích
hợp tăng cường bảo đảm an toàn và an ninh hạt nhân.
Từ thực tiễn đó là không ít quốc gia trên thế giới có tham vọng tăng cường
quyền lực thông qua việc phát triển vũ khí hạt nhân. Nhằm mục đích đảm bảo an
toàn và an ninh hạt nhân, cộng đồng quốc tế cần kiểm soát chặt chẽ vấn đề phổ biến
vũ khí hạt nhân. Tác giả Taylor Burke cho rằng: “Do ranh giới làm giàu uranium
giữa sản xuất điện và sản xuất vũ khí hạt nhân rất mong manh. Chính vì vậy, điện
hạt nhân bên cạnh những lợi ích dễ nhận thấy thì mặt trái của nó là có thể làm tăng
thêm xác suất dẫn tới chiến tranh hạt nhân. Trong khi hậu quả của chiến tranh hạt
nhân lại vô cùng nguy hiểm. Tác giả Taylor Burke đã nhấn mạnh rằng, mặc dù "giá
trị mong đợi" của NLHN là rất lớn và xác suất xảy ra các tai nạn hạt nhân là thấp.
Tuy nhiên, mặc dù xác xuất thấp nhưng hậu quả lại là rất lớn.

10


Tác giả Taylor Burke tiếp tục khẳng định: không có bất kỳ biện pháp nào có

11


thực tiễn đảm bảo ATHN tại một số quốc gia như Nga, Ukraina… và kết luận rút ra
kinh nghiệm của các quốc gia đó trong đảm bảo an toàn. Như vậy, cuốn sách đơn
thuần khái quát về các quy định ATHN mới nhất trong khuôn khổ các nước Trung
Âu, Đông Âu (CEEC) và các quốc gia mới độc lập (NIS). Tuy nhiên, điểm thành
công của cuốn sách đó là đã chỉ ra và phân tích những thành công trong các lĩnh vực
lập pháp, tài chính và kỹ thuật của các quốc gia Trung Âu và Đông Âu. Đây có thể
nguồn tài liệu tham khảo cho luận án khi nghiên cứu kinh nghiệm các nước và
nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật cho Việt Nam.
- Charles J. Moxley Jr., John Burroughs, và Jonathan Granof (2011),
Nuclear weapons and international law (dịch: Vũ khí hạt nhân và luật pháp quốc
tế), Ofoxd and Portland oregon [60]. Nội dung cuốn sách bao gồm ba phần chính.
Phần I cuốn sách đã mô tả ảnh hưởng tiêu cực của vũ khí hạt nhân và sự cần thiết
giải trừ vũ khí hạt nhân. Phần II cuốn sách này đề cập đến quy định luật quốc tế về
quyền sử dụng năng lượng hạt nhân và vấn đề cấm sử dụng vũ khí hạt nhân. Và cuối
cùng, Phần III làm rõ ảnh hưởng của vũ khí hạt nhân tới môi trường. Đánh giá, so
sánh các quy định của các điều ước quốc tế trong lĩnh vực hạt nhân. Từ ba nhóm nội
dung đó, các tác giả đã đưa ra kết luận, sử dụng vũ khí hạt nhân là không phù hợp
với luật quốc tế, các quốc gia chỉ có quyền sử dụng NLHN vì mục đích hòa bình.
Các công trình trên đã chỉ ra rằng các quốc gia, phù hợp với Hiến chương
Liên hợp quốc và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, có quyền sử dụng NLHN, và
có trách nhiệm để đảm bảo rằng các hoạt động đó không gây tổn hại đến con người
và môi trường của quốc gia khác hoặc các khu vực vượt ngoài giới hạn của quyền
tài phán quốc gia.
Nhóm thứ hai, nhóm các công trình liên quan tới trách nhiệm cụ thể của
quốc gia cụ thể xây dựng khung pháp lý, kiểm soát an toàn đảm bảo ATHN theo
quy định của pháp luật quốc tế về sử dụng NLHN vì mục đích hòa bình và những
hướng dẫn của IAEA. Bao gồm:

từ giai đoạn mua sắm xây dựng hạt nhân, quá trình xây dựng và các điều khoản hợp
đồng, cấp phép, quản lý hạt nhân.
Kết hợp với việc đánh giá những lợi ích đem lại và những thách thức pháp
lý các quốc gia phải đối mặt trong khai thác hạt nhân. Xem xét, đối chiếu cách tiếp
cận truyền thống và mới đối với NLHN. Trên cơ sở đó tác giả Helen Cook đã thành
công trong việc nhận định xu hướng phát triển của luật hạt nhân, bao gồm phản ứng
với các công nghệ hạt nhân mới và tai nạn Fukushima.

13


- International Atomic Energy Agency IAEA (2014), Radiation Protection
and Safety of Radiation Sources: International Basic Safety Standards (dịch: Bảo vệ
bức xạ và an toàn của các nguồn bức xạ: Các tiêu chuẩn quốc tế cơ bản về an toàn) [80].
Ấn phẩm nêu quan điểm về bảo vệ an toàn bức xạ, các nguyên tắc an toàn để thiết
lập ra các yêu cầu được nêu trong các phần còn lại của ấn phẩm. Các yêu cầu trong
tiêu chuẩn an toàn của IAEA được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm tốt và phổ
biến nhất trên thế giới về quản lý an toàn bức xạ và đã được nhiều quốc gia tham
khảo áp dụng. Mặc dù, ấn phẩm này đơn thuần giới hạn vấn đề an toàn nguồn bức
xạ nên giá trị tham khảo không nhiều nhưng cũng là nguồn tài liệu tham khảo hữu
ích cho luận án khi nghiên cứu kinh nghiệm tốt và phổ biến nhất trên thế giới về
quản lý an toàn bức xạ và đã được nhiều quốc gia tham khảo áp dụng trên cơ sở đó
xem xét cân nhắc đề xuất cho Việt Nam..
- IAEA (2013), Safety standards seris, Legal and Governmental
Infrastructure for Nuclear, Radiation, Radioactive Waste and Transport Safety
(dịch: Chuỗi tiêu chuẩn an toàn, Cơ sở hạ tầng pháp luật cho hoạt động hạt nhân,
bức xạ, chất thải phóng xạ và an toàn vận chuyển), IAEA [76]. Đây cũng là một
trong những cuốn sách nằm trong chuỗi sách hướng dẫn của IAEA. Các hướng dẫn
trong cuốn sách này được áp dụng cho các cơ sở hạt nhân, nguồn bức xạ ion hóa,
quản lý chất thải phóng xạ và vận chuyển vật liệu phóng xạ. Nội dung chính của

nhân không thể bị tấn công trong các cuộc xung đột vũ trang; và vật liệu hạt nhân
và cơ sở không được sử dụng cho các mục đích quân sự. Tuy nhiên, cuốn sách chưa
làm rõ mức độ tuân thủ tiêu chuẩn an toàn cần thiết cũng như trách nhiệm của các
bên liên quan trong việc thực hiện các tiêu chuẩn đó.
- William E Lee, Michael I Ojovan, Carol M Jantzen (2013), Radioactive
Waste Management and Contaminated Site Clean-Up: Processes, Technologies and
International Experience (dịch: Quản lý chất thải phóng xạ và làm sạch khu vực ô
nhiễm), Elsevier [126]. Cuốn sách đã phân tích khá toàn diện các khía cạnh của vấn
đề xử lý chất thải phóng xạ bao gồm: các nguyên tắc cơ bản của chất thải phóng
xạ; Các tiêu chuẩn an toàn quốc tế, đánh giá rủi ro chất thải phóng xạ và xử lý các
khu vực bị ô nhiễm và quản lý nhiên liệu hạt nhân chiếu xạ cũng được xem
xét. Điểm ấn tượng hơn cả của cuốn sách đó là nó đã nêu bật tình hình xử lý chất
thải phóng xạNLHN hiện tại ở Châu Phi, Châu Á, Châu Âu và Bắc Hoa Kỳ. Kinh
nghiệm ở Nhật Bản, với một chương cụ thể về Fukushima, cũng được đề cập

15


đến. Cuối cùng, phần ba đánh giá, nghiên cứu việc dọn sạch các địa điểm bị ô
nhiễm bởi các chương trình hạt nhân của Hoa Kỳ và Liên Xô cũ.
- Elena Molodstova (1994), Nuclear Energy and Environmental Protection:
Responses of international law (dịch: Năng lượng hạt nhân và bảo vệ môi trường:
Những phản ứng của luật pháp quốc tế), Pace Environmental Law Review [71]. Bài
viết này phân tích các quy định của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường từ bức
xạ hạt nhân. Tác giả bài viết tập trung vào các quy định của Cơ quan NLNT quốc tế
và Cộng đồng NLNT châu Âu. Bài viết đã đưa ra sự phân biệt giữa các quy định về:
bảo vệ bức xạ gắn liền với các tiêu chuẩn về định lượng phóng xạ, và ATHN, bao
gồm các tiêu chuẩn thiết kế và hoạt động để ngăn ngừa tai nạn hạt nhân. Bài viết
này đưa ra đánh giá về mức độ phù hợp giữa bối cảnh công nghệ hạt nhân ngày càng
tiên tiến với thực tế là các quy định ATHN quốc tế mới đang ở giai đoạn khởi đầu.

tích các vấn đề liên quan đến điện hạt nhân mà chưa đề cập đến các vấn đề hạt nhân
ở các ứng dụng khác. Và các công trình trên hầu như chưa làm rõ ranh giới trách
nhiệm đảm bảo ATHN của quốc gia với trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong
lĩnh vực sử dụng NLHN, đặc biệt trong vấn đề xử lý sự cố hạt nhân.
1.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu về liên quan tới nội dung trách nhiệm
bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự cố hạt nhân của quốc gia
- Duncan E. J. Currie (2006), The problems and gaps in the nuclear liability
conventions and an analysis of how an actual claim would be brought under the
current existing treaty regime in the event of a nuclear accident (dịch: Các vấn đề
tồn tại và khoảng trống trong các Công ước về trách nhiệm bồi thường thiệt hại hạt
nhân và các yêu cầu có thể được đưa ra khi xảy ra tai nạn hạt nhân), Denver
Journal Law and Policy [68]. Tác giả Duncan E. J. Currie đã chỉ ra những vấn đề
thiếu sót trong các điều ước quốc tế hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
hạt nhân. Trên cơ sở phân tích tóm tắt trạng thái hiện tại của chế độ trách nhiệm bồi
thường thiệt hại hạt nhân, tác giả chỉ ra điểm hạn chế lớn nhất đó là các quốc gia
tham gia không đầy đủ và phức tạp. Trong khi việc sửa đổi Công ước Viên và Công
ước Paris mang nhiều tính dự báo. Những Công ước này đang mang nặng tính bảo
hộ với nhiều quy định về các trường hợp ngoại lệ. Về cơ chế liên quan trong việc
yêu cầu bồi thường thiệt hại do một tai nạn hạt nhân, Tác giả Currie đã làm rõ những
bất cập của hệ thống bao gồm việc thiếu một tòa án trung lập, yêu cầu chung mà các
bên tranh chấp nộp đơn khiếu nại trong các tòa án nơi các nhà máy hạt nhân vận
hành, và lo ngại về tính trung lập của tòa án và hạn chế về việc bồi thường thiệt hại.

17


Trong một phần riêng biệt của công trình, Duncan E. J. Currie đánh giá chi
tiết Công ước Viên năm 1963, Nghị định thư năm 1997, Công ước năm 1960 và
Nghị định thư Paris năm 2004. So sánh Nghị định thư năm 1997 với Công ước Viên
năm 1963, thảo luận cụ thể định nghĩa tai nạn hạt nhân và thiệt hại hạt nhân, và đặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status