TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TẠ THỊ NHANH
DIỄN NGÔN GIỚI NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN
BÓNG ĐÈ (ĐỖ HOÀNG DIỆU) VÀ TRONG TRU ỆN
NGẮN ĐIÊN CUỒNG NHƯ VỆ TUỆ (VỆ TUỆ)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội, 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TẠ THỊ NHANH
DIỄN NGÔN GIỚI NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN
BÓNG ĐÈ (ĐỖ HOÀNG DIỆU) VÀ TRONG TRU ỆN
NGẮN ĐIÊN CUỒNG NHƯ VỆ TUỆ (VỆ TUỆ)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
Sinh viên
Tạ Thị Nhanh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 3
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 7
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 8
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 8
7. Bố cục khóa luận ........................................................................................... 8
NỘI DUNG ....................................................................................................... 9
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DIỄN NGÔN VÀ VẤN ĐỀ
GIỚI/PHÁI TÍNH TRONG VĂN HỌC ........................................................... 9
1.1. Một số vấn đề cơ bản về diễn ngôn............................................................ 9
1.1.1. Khái niệm diễn ngôn ............................................................................... 9
1.1.2. Hình thái diễn ngôn ............................................................................... 14
1.1.3. Trật tự diễn ngôn ................................................................................... 16
1.2. Vấn đề giới/phái tính trong nghiên cứu văn học ...................................... 19
1.2.1. Phân biệt khái niệm “giới tính” và “phái tính” ..................................... 19
1.2.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề giới nữ trong văn học.................. 20
Chương 2. SO SÁNH DIỄN NGÔN GIỚI NỮ TRONG ............................... 25
TRUYỆN NGẮN BÓNG ĐÈ VÀ TRONG TRUYỆN NGẮN ĐIÊN CUỒNG
NHƯ VỆ TUỆ .................................................................................................. 25
2.1. Những điểm tương đồng .......................................................................... 25
2.1.1. Chủ thể diễn ngôn là hình tượng cái tôi tác giả .................................... 25
2.1.2. Diễn ngôn giới nữ gắn với ý thức nữ quyền ......................................... 29
chủ nghĩa thuộc địa – hậu thuộc địa, lí luận nữ quyền,…
Từ khi xuất hiện, thuật ngữ diễn ngôn đã được quan tâm nghiên cứu.
Diễn ngôn là một thuật ngữ được sử dụng rộng khắp trong các ngành khoa
học xã hội và nhân văn như: triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lí học,
nghiên cứu văn học,… Nội hàm của nó vì thế rất khác nhau theo cách thức
của các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Trong lĩnh
vực nghiên cứu văn học, quan niệm về diễn ngôn của một số nhà nghiên cứu
tiêu biểu như Valeri Igorovich Chiupa và Michel Foucault đang trở thành nền
tảng cho nhiều trường phái lí thuyết hiện đại và mở ra một con đường đầy
triển vọng cho các nhà nghiên cứu văn học.
Văn học hậu hiện đại cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề giới. Đây là
một vấn đề phức tạp nhưng cũng đầy hấp dẫn thu hút nhiều nhà nghiên cứu.
Nghiên cứu về giới không chỉ có ý nghĩa văn học mà còn có ý nghĩa xã hội
sâu sắc, đặc biệt là trong giai đoạn văn học đang có những sự chuyển biến
mạnh mẽ như hiện nay.
1
Ở Việt Nam, từ sau 1986, sự đổi mới của đời sống văn hóa - xã hội đã
tạo điều kiện thuận lợi cho sự đổi mới văn học. Nhiều tác phẩm, tác giả mới
lần lượt xuất hiện, những hiện tượng lạ, những cách tân táo bạo gây ồn ào dư
luận đã tạo được tiếng vang trên văn đàn. Tiêu biểu phải kể đến hiện tượng
Đỗ Hoàng Diệu với tập truyện ngắn Bóng đè. Đỗ Hoàng Diệu là một trong
những tác giả nữ đầy bản lĩnh và táo bạo. Tác phẩm của chị là những diễn
ngôn về giới, thẳng thắn đề cập đến những vấn đề của đời sống hiện đại,
những vấn đề nhạy cảm như nhục cảm, ham muốn của người phụ nữ cũng
như khát vọng về cuộc sống, về tình yêu, tình dục. Truyện của chị có người
thích, có người chê, nhưng tất cả phải công nhận đó là hơi thở mới thổi vào
đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI.
gia cũng như mỗi người có một cá tính, phong cách, mỗi nhà văn khi thể hiện
tiếng nói của mình lại có những nét riêng biệt. Tất cả sự khó khăn và hấp dẫn
của đối tượng thôi thúc người viết chọn đề tài nghiên cứu: Diễn ngôn giới nữ
trong truyện ngắn Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu) và trong truyện ngắn Điên
cuồng như Vệ Tuệ (Vệ Tuệ). Qua đề tài này, người nghiên cứu muốn đưa ra ý
kiến riêng của bản thân, sự cảm nhận của chính mình sau khi đọc và cảm thụ
hai tác phẩm, nhìn từ góc độ diễn ngôn giới.
2. Lịch sử vấn đề
Có thể nói cả Đỗ Hoàng Diệu và Vệ Tuệ đều là những nhà văn mới trên
văn đàn, hơn nữa tác phẩm của họ không phải ai cũng có thể đọc và cảm nhận
được, chưa nói đến cảm nhận đúng. Vì thế số lượng những công trình nghiên
cứu, những bài viết về hai tác giả và tác phẩm này còn hạn chế và chưa mang
tính hệ thống.
Truyện ngắn Bóng đè là một tác phẩm mới trên văn đàn Việt Nam. Bàn
luận về tác phẩm này có rất nhiều ý kiến khác nhau và gây nhiều tranh cãi.
Nhà nghiên cứu văn học Phạm Xuân Nguyên cho rằng: “Những phản ứng
nhiều chiều cho thấy Bóng đè quả thực là một hiện tượng văn học thách thức
3
cảm nhận và đánh giá của giới trong nghề, và của giới đọc giả rộng rãi. Vì tư
tưởng của tác phẩm, vì cách viết của tác giả. Truyện ngắn Đỗ Hoàng Diệu gần
như viết về phụ nữ và dục tính. Phụ nữ trong quan hệ với dục tính, nhưng
quan trọng hơn, phụ nữ và dục tính trong quan hệ với xã hội và lịch sử. Ở
đây, có phần nào màu sắc nữ quyền. Tuy nhiên, chị dùng người nữ và chuyện
dục tính như một bộ mã để gửi đi một thông điệp của mình cho cuộc sống
này”. Không giống với nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, dịch giả
Trần Tiễn Cao Đăng “không hoan nghênh” tác phẩm Bóng đè, cho rằng Đỗ
Hoàng Diệu “không có văn” và Bóng đè chỉ đơn thuần viết về tình dục trong
những thang bậc mà bản thân tác giả chưa có khả năng leo tới”.
Trên trang Thơ trẻ ngày 20/8/2006, tác giả Nguyễn Mậu Hùng Kiệt có
bài viết Người đàn bà bị Bóng đè có bàn tay thanh tao đã khẳng định tài năng
cũng như đóng góp của Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè. Tác giả viết: “Chị đã
dám dấn thân “lặn ngụp” trong vực thẳm đầy rẫy nóng của chính mình và
phát ra tiếng kêu khát khao hạnh phúc” [9].
Trang https://giaitri.vnexpress.net có đăng bài Sức mạnh ám gợi và
tưởng tượng trong Bóng đè ngày 13/9/2010 của tác giả Hoàng Tố Mai – bài
viết tại Tọa đàm về văn học nữ quyền diễn ra ngày 9/9 tại Viện Văn học Việt
Nam, Hà Nội. Tác giả bài viết khẳng định: “Nhiều người không thích Bóng
đè. Nhưng số người thích nó vẫn đông hơn. Và dù thích hay không thích thì
người ta không thể phủ nhận ấn tượng Bóng đè để lại. Lâu lắm mới có một
truyện ngắn đặc sắc như vậy” [10]. Bài viết tập trung vào những chi tiết mang
tính chất ám gợi và đề cao sự tưởng tượng trong tác phẩm, tác giả một phần
cũng lên tiếng bênh vực, thông cảm cho người phụ nữ.
Trên trang http://newvietart.com, tác giả Đỗ Ngọc Thạch với bài viết
Ba cây bút nữ đại náo văn đàn đầu thế kỉ XXI ngày 20/10/2010 khẳng định tài
năng của ba nữ nhà văn Y Ban, Đỗ Hoàng Diệu và Nguyễn Ngọc Tư khi viết
về người phụ nữ với những nhục cảm và bản năng của họ.
5
Trên blog cá nhân ngày 23/4/2011, tác giả Ngô Thị Thu Thủy trong bài
viết Một cách tiếp cận tác phẩm Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu đã nêu ra nhiều
quan điểm, ý kiến trái chiều của nhiều nhà phê bình văn học khi tiếp nhận tác
phẩm này. Từ đó tác giả nêu lên những quan điểm của mình về những yếu tố
tình dục mà Đỗ Hoàng Diệu đã sử dụng, những quan niệm về văn hóa đồng
thời khẳng định sự sáng tạo của nhà văn trong công cuộc cách tân nghệ thuật.
Bài viết Ám ảnh Trung Hoa trong Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu do tác
khao về một tình yêu điên cuồng và cháy bỏng” [11].
Có thể thấy hầu như chưa có công trình nào móc nối hai tác phẩm Bóng
đè của Đỗ Hoàng Diệu và Điên cuồng như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ. Nhìn chung,
những bài viết về hai tác giả và hai tác phẩm này chủ yếu mới được in trên
các diễn đàn và báo mạng, trên các báo và tạp chí, chưa thực sự phong phú về
số lượng và chưa sâu về mức độ khảo sát. Đa số các tác giả chỉ đi sâu tìm hiểu
đề tài sex, tính dục trong các tác phẩm. Chưa có một công trình nào đi sâu
nghiên cứu vấn đề diễn ngôn giới nữ trong hai tác phẩm này một cách đầy đủ
và đúng đắn, mặc dù đây là một đề tài hết sức hấp dẫn và có giá trị. Nhận thức
được điều đó, chúng tôi chọn đề tài Diễn ngôn giới nữ trong truyện ngắn
Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu) và trong truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ (Vệ
Tuệ) cho khóa luận tốt nghiệp của mình, với mong muốn cung cấp một cái
nhìn đầy đủ và toàn diện hơn cho độc giả từ góc độ diễn ngôn giới nữ về hai
tác phẩm mới mẻ và hấp dẫn này.
3. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, phân tích kĩ lưỡng hai truyện ngắn Bóng đè của Đỗ Hoàng
Diệu và Điên cuồng như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ từ góc nhìn diễn ngôn giới nữ;
nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan về sự tương đồng và khác biệt giữa
hai tác phẩm. Từ đó khẳng định những đóng góp mới mẻ và vai trò, vị trí của
Đỗ Hoàng Diệu đối với nền văn học đương đại Việt Nam và của Vệ Tuệ đối
với văn học đương đại Trung Quốc.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đối tượng nghiên cứu: Diễn ngôn giới nữ trong truyện ngắn
Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu) và trong Điên cuồng như Vệ Tuệ (Vệ Tuệ).
7
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của
khóa luận được triển khai thành 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về diễn ngôn và vấn đề giới/phái tính
trong văn học
Chương 2: So sánh diễn ngôn giới nữ trong truyện ngắn Bóng đè và
trong truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ.
8
NỘI DUNG
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DIỄN NGÔN
VÀ VẤN ĐỀ GIỚI/PHÁI TÍNH TRONG VĂN HỌC
1.1. Một số vấn đề cơ bản về diễn ngôn
1.1.1. Khái niệm diễn ngôn
Từ khi xuất hiện, thuật ngữ diễn ngôn đã được quan tâm nghiên cứu từ
nhiều góc độ. Giờ đây, diễn ngôn đã trở thành khái niệm của khoa học liên
ngành và khoa học đa ngành. Diễn ngôn là một thuật ngữ được sử dụng rộng
khắp trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn như: triết học, xã hội học,
ngôn ngữ học, tâm lí học, nghiên cứu văn học,… Nội hàm của nó vì thế rất
khác nhau theo cách thức của các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực nghiên
cứu khác nhau. Chính vì thế, khó có thể xác lập một định nghĩa duy nhất về
thuật ngữ này. Trong lịch sử nghiên cứu diễn ngôn, đã có rất nhiều những
quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về khái niệm diễn ngôn, trong đó có ba
hướng tiếp cận cơ bản khái niệm này: thứ nhất, quan điểm của các nhà cấu
trúc chủ nghĩa như R. Barthes, G. Gennette dựa trên nền tảng là ngôn ngữ học
của F. de Saussure cho diễn ngôn là cấu trúc văn bản; thứ hai, quan điểm của
nhà triết học, lí luận văn học M. Bakhtin cho diễn ngôn là các thể loại lời nói
và thứ ba là tư tưởng của M. Foucault với ba định nghĩa về diễn ngôn.
Thứ nhất, quan điểm coi diễn ngôn như là cấu trúc văn bản. Trong ngữ
chú trọng nghiên cứu phương diện sinh thành của lời nói. Ông cho rằng ngôn
ngữ là tất cả những gì đang được sử dụng trong đời sống chứ không phải
những thứ nằm im trong từ điển. Ngôn ngữ là một dòng chảy không ngừng
nghỉ, sinh thành năng động và đầy mâu thuẫn. Trong khi Saussure quy ngôn
ngữ vào mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt thì Bakhtin lại cho
rằng bản chất của ngôn ngữ là đối thoại, mọi lời nói đều là sự phản hồi với
những lời nói trước đó và đều nhằm hướng tới những đối tượng nhất định.
Diễn ngôn là khái niệm trung tâm của Bakhtin trong quan điểm về ngôn ngữ.
10
Ông cho rằng diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng, trong chỉnh thể sống
động cụ thể của nó, trong bối cảnh xã hội, diễn ngôn như một đơn vị thực tế
của giao tiếp lời nói, là các thể loại lời nói. Mỗi phát ngôn riêng biệt đều
mang tính cá thể và chúng ta gọi những phát ngôn đó là những thể loại diễn
ngôn. Những thể loại diễn ngôn sơ khởi này là nền tảng hình thành các thể
loại diễn ngôn sau đó như ngôn ngữ văn chương nghệ thuật, hành vi khoa học
và xã hội… Trong khi Saussure chỉ tập trung vào những quy ước, quy luật
trừu tượng và chung nhất của ngôn ngữ thì Bakhtin lại cho rằng không có một
ngôn ngữ nào lại không gắn với một quan điểm, một ngữ cảnh, một đối tượng
nhất định và nó mang tính lịch đại. Theo Bakhtin, ngôn ngữ là là lãnh thổ
chung của cả người nói lẫn người nghe, là cầu nối mọi người lại với nhau.
Chính quan niệm này của Bakhtin và các nhà nghiên cứu Nga đã đặt nền
móng cho việc xây dựng khái niệm diễn ngôn thành một phạm trù của thi
pháp học và tu từ học hiện đại.
Cũng bàn về thuật ngữ diễn ngôn, triết gia người Pháp M. Foucault đi
theo khuynh hướng xã hội học để xây dựng khái niệm diễn ngôn. Đối lập với
quan điểm của Saussure nhấn mạnh bản chất liên thông giữa từ và vật,
Foucault nhìn thấy sự không thống nhất giữa từ và vật, sự chiến thắng và
truyền dẫn, đó là các diễn ngôn. Chẳng hạn, lũ lụt là hiện tượng xảy ra độc lập
với tư duy và ngôn ngữ của con người, nhưng khi con người cắt nghĩa hiện
tượng này thì nó đã được đưa vào trong các diễn ngôn. Diễn ngôn khí tượng
học cho đó là sự dâng cao mực nước một cách đột ngột sau một trận mưa lớn;
diễn ngôn khoa học cho rằng đó là hệ quả của sự biến đổi khí hậu toàn cầu;
diễn ngôn chính trị xem đó là hệ quả của những sai phạm trong cơ chế quản lí
nhà nước,… Như vậy, những hiện tượng của thế giới khách quan vẫn luôn tồn
tại nhưng chúng chỉ được nhận biết thông qua các diễn ngôn của con người.
Sara Mills khái quát: “Diễn ngôn không đơn giản là sự truyền dẫn hiện thực
vào trong ngôn ngữ; diễn ngôn cần được nhìn nhận như một hệ thống cấu trúc
12
nên cái cách thức chúng ta nhận biết về hiện thực” [23]. Người ta không thể
chạm tay vào sự thực bởi cái mà chúng ta nhìn thấy, nghe thấy chỉ là diễn
ngôn về sự thực. Những văn bản ghi chép lại lịch sử, hay những tác phẩm văn
học thuộc thể loại kí trung đại Việt Nam, tác giả tuyên bố ghi chép lại một
cách chân thực sự thật, mắt thấy tai nghe của đời sống, nhưng thực tế lại tràn
ngập các yếu tố hư cấu, tưởng tượng như chuyện người đội lốt thú, mây ngũ
sắc hay ánh hào quang bao phủ bầu trời, chuyện âm phù dương trợ, thần linh
báo mộng để lập nghiệp lớn,… Như vậy, những văn bản này chỉ là những
diễn ngôn về sự thật chứ không phải sự thật như nó vốn có. Ẩn dưới bề sâu
của nó là những ý thức hệ, những quyền lực, những tư tưởng hệ đã chi phối
tới cách tư duy và miêu tả của nhà văn về sự thực.
Mặc dù ba định nghĩa của Foucault được liệt kê khá độc lập, nhưng
trong thực tế nghiên cứu các định nghĩa này luôn được sử dụng xen kẽ nhau
và định nghĩa này có thể bao trùm lên định nghĩa khác tùy theo hướng triển
khai của người nghiên cứu. Chẳng hạn, nghiên cứu diễn ngôn giới nữ là một
dạng diễn ngôn cụ thể - một cách tự nhiên gắn liền với định nghĩa thứ hai.
trường nào đó trong những hoàn cảnh nào đó. Trên thực tế, trường phái phân
tích diễn ngôn Pháp đã thu hẹp cách hiểu khái niệm hình thái diễn ngôn tới
mức chỉ còn tương tự như khái niệm “thể loại lời nói ” theo quan niệm của
Bakhtin. Trong khi đó, tu từ học hiện đại và lĩnh vực gắn với nó thi là pháp
học giao tiếp cần tới khái niệm hình thái diễn ngôn như là nền móng của
phạm trù loại hình học. Với ý nghĩa như thế, hình thái diễn ngôn là cấu hình
của các thẩm quyền thuộc về cái được biểu đạt, sáng tạo và tiếp nhận diễn
ngôn tạo thành một không gian giao tiếp vô hình.
Có bốn hình thái diễn ngôn. Cổ xưa nhất là hình thái diễn ngôn vị thế –
bầy đàn. Nó tạo ra một không gian giao tiếp huyền thoại hoặc tương tự như
huyền thoại của sự đồng thanh nhất trí theo kiểu hợp xướng. Nó xuất phát từ
14
bức tranh thế giới vốn có từ trước, đã thành thông lệ, trong đó, chỉ những gì
tuần hoàn, lặp lại mới có ý nghĩa. Nó dùng lời chỉ hiệu với nghĩa xác định
theo ngữ cảnh. Nó dành cho chủ thể lời nói vị thế diễn xướng và định hướng
phát ngôn vào việc sao lại ý thức đám đông – chúng ta của người tiếp nhận
với tập quán ổn định. Tuyệt đại đa số văn bản quảng cáo có thể xem là ví dụ
của hình thái diễn ngôn này trong đời sống hiện đại.
Tiếp theo là sự xuất hiện của hình thái diễn ngôn vai – quy phạm vào
giai đoạn muộn hơn. Nó trau dồi loại lời biểu tượng, đóng kín, gây cảm giác ở
đó có cả “một hệ thống ý nghĩa đã hoàn kết và bị giới hạn nghiêm ngặt” (M.
Bakhtin). Nó dành cho tác giả vị thế tự hạn chế theo phép tắc đã ấn định và
đòi hỏi ở người tiếp nhận luôn đóng vai một ý thức – nó, chịu sự điều khiển
của tập quán cần phải theo. Vì thế mới xuất hiện không gian giao tiếp quyền
uy của sự đồng thuận theo kiểu độc điệu vốn là đặc trưng của chủ nghĩa thủ
cựu và về sau nàylà chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học.
Hình thái diễn ngôn đối nghịch – chủ động xuất hiện từ thời trung đại
thức khoa học hiện đại.
1.1.3. Trật tự diễn ngôn
Diễn ngôn không chỉ là phương tiện biểu đạt và giao tiếp mà còn là
phương thức tồn tại của con người. Diễn ngôn kiến tạo tri thức và hiện thực,
buộc con người hành xử theo sự chỉ dẫn của chính nó. Do vậy, diễn ngôn bao
giờ cũng có một trật tự nhất định. Chỉ xuất phát từ phương diện trật tự diễn
ngôn, người nghiên cứu mới lí giải được vì sao một diễn ngôn nào đó được
cho là hợp thức và trở thành chân lí, nằm trong khu vực sân chơi của văn hóa
còn những diễn ngôn khác lại bị cấm đoán và có xu hướng trôi dạt sang khu
vực ngoại biên. Trong Trật tự của diễn ngôn (The Order of Discourse)
(1970), Foucault khẳng định: “Trong mọi xã hội sự sản xuất diễn ngôn cùng
lúc bị kiểm soát, tuyển chọn, tổ chức và phân phối lại bởi một số những
phương thức/quy trình mà vai trò của nó là để né tránh những sức mạnh và sự
16
nguy hiểm của diễn ngôn, để dành quyền điều khiển/kiểm soát với những sự
kiện ngẫu nhiên của diễn ngôn, để tránh né những khó khăn do nó gây ra”
[25]. Nó dẫn tới một số những nguyên tắc, cơ chế kiểm soát, Foucault nói đến
hai hệ thống loại trừ: loại trừ từ bên ngoài và loại trừ từ bên trong.
Trật tự bên trong của diễn ngôn được kiểm soát bởi các nguyên
tắc mà vai trò của chúng là hạn chế tính sự kiện và tính ngẫu nhiên của diễn
ngôn. Có ba nguyên tắc tham gia vào việc chỉnh đốn diễn ngôn từ bên trong,
cụ thể là: Thứ nhất, nguyên tắc bình luận (commentary). Trong hoạt động
giao tiếp, bao giờ cũng có diễn ngôn gốc và diễn ngôn thứ sinh. Thực chất
diễn ngôn thứ sinh chính là một cách diễn giải khác về diễn ngôn gốc.
Nguyên tắc này một mặt cho phép chủ thể có thể tạo ra vô số diễn ngôn mới,
mặt khác lại ngăn chặn tính ngẫu nhiên của diễn ngôn bằng cách giới hạn
người ta chỉ được nói những gì vốn đã được thừa nhận, được xem là cái
biệt giữa hai loại diễn ngôn điên và lí tính của Foucault không chỉ có ý nghĩa
trong việc giải quyết mối quan hệ của hai loại diễn ngôn này mà nó đồng thời
hàm chứa những gợi ý mang tính lí thuyết xung quanh vấn đề cơ chế kiến tạo
diễn ngôn. Từ những phân tích của Foucault về hai loại diễn ngôn trên có thể
thấy một thực tế: sự hình thành của một diễn ngôn nào đó bao giờ cũng bao
hàm trong nó sự loại trừ một/một số diễn ngôn khác, biến những diễn ngôn
này trở thành những tồn tại bất thường, không tự nhiên, thiếu hợp thức.
Thứ ba, nguyên lí sự đối lập giữa chân lí và sai lầm (truth and falsity).
Trọng tâm kiến giải triết học của Foucault ở đây không phải là đưa ra những
tiêu chí khách quan để nhận diện về một diễn ngôn đúng hay sai mà hướng tới
vấn đề: làm thế nào mà một số cá nhân lại có thể có quyền năng nói về chân
lí? Những diễn ngôn của họ trở thành những diễn ngôn có hiệu lực và sức
mạnh của chân lí? Ở đây có sự tham dự của các thiết chế xã hội – nhân tố đem
lại quyền lực cho diễn ngôn. Foucault cho rằng mỗi thời đại có sở nguyện
chân lí riêng. Như thế, không thể xem chân lí như là sự kiện tự nó. Trái lại
18
diễn ngôn về chân lí luôn được hậu thuẫn bởi một loạt những thiết chế. Trong
xã hội hiện đại đó là: trường đại học, ban ngành của chính phủ, nhà xuất bản,
các tổ chức khoa học... Tất cả những thiết chế này loại trừ những nhận định
mà chúng xem là sai lạc và đảm bảo cho những nhận định được xem là chân lí
luôn vận hành. Điều này cho thấy Foucault thừa nhận sự tham dự của những
lực lượng vật chất trong xã hội vào trong quá trình kiến tạo diễn ngôn.
1.2. Vấn đề giới/phái tính trong nghiên cứu văn học
1.2.1. Phân biệt khái niệm “giới tính” và “phái tính”
Giới tính (sex) và phái tính (gender) là hai khái niệm lâu nay đã được
luận bàn khá nhiều không riêng gì trong nghiên cứu văn học mà còn ở cả một
số lĩnh vực khác như sinh học, tâm lí học, xã hội học… Có người đề xuất dịch