Giá trị và bảo tồn văn hóa ẩm thực và trang phục truyền thống ở làng cổ đường lâm qua kinh nghiệm của nhật bản - Pdf 50

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

BÁO CÁO TỎNG KÉT
KẾT QUẢ THỤC HIỆN ĐÈ TÀI KH&CN
CẤP ĐẠI HỌC QUÓC GIA

GIÁ TRỊ VÀ BẢO TÒN VĂN HÓA ẲM THỰC VÀ TRANG PHỤC
TRUYÈN THÓNG Ở LÀNG CỐ ĐƯỜNG LÂM
QUA KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN

Mã số đề tài: Q G .14.26
C hủ nhiệm đề tài: P G S .T S . P H A N H ẢI L IN H

ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĨRUNG TÂM THÕNG TIN THƯ VIỀN

Q ũ o m m m .


PHẢN I. THÔNG TIN CHUNG
1.1. Tên đề tài: Giả trị và báo tồn văn hóa ấm tlĩực và trang phục truyền thống ở

làng cố Đường Lãm qua kinh nghiệm của Nhật Bán
1.2. Mã số: QG.14.26
1.3. Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài:

TT Chúc danh, học vị, họ và tên

Đon vị công tác

Vai trò thực hiện đề tài

24 tháng, từ tháng 5/2014 đến thảng 5/2016

1.5.2. Gia hạn (nếu có): không
1.5.3. Thực hiện thực tế: 24 tháng, từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2016
1.6. Những thay đôi so vói thuyết minh ban đầu (nếu có):

Trong thời gian kiểm tra tiến độ vào tháng 5 năm 2015, chủ trì đề tài đã đề nghị
thay đối sản phấm 1 bài báo đăng trên tạp chí quốc tế SCOPƯS bàng 1 bài nghiên cứu
in trong sách do Trung tâm Nshiên cứu Văn hóa Quốc tế Nhật Bản (Nichibunken) xuất
bản có chỉ số ISBN. Phiếu đề nghị đã được Đại học Quốc gia chấp nhận và phê duyệt.
Trong năm thứ 2 thực hiện đề tài, chủ trì đăng kí đăng 2 bài trên tạp chí nghiên
cứu trona nước, nhưng trên thực tế đã gửi đăng 1 bài nghiên cứu trên tạp chí trong nước
và I bài trên tạp chí nghiên cứu của Nhật Bản. Cả hai tạp chí đều có chỉ số ISSN. Ngoài
ra. chủ trì có 2 báo cáo tại Hội thảo quốc tế tại Nhật Bản về nội dung liên quan đến đề
tài và đã được đăns trone kỷ yếu.
1.7. Tông kinh phí được phê duyệt của đề tài: 300 triệu đồng.


PHẦN II. TONG QUAN KÉT QUẢ NGHIÊN

cửu

1. Đặt vấn đề

Hai chữ Đ ưòng Lâm vốn từ lâu đã trớ nên quen thuộc với ngưò’i Việt Nam.
Na,ôi làng nông nghiệp nằm cách Hà Nội 47km về phía tây nam là nơi còn lưu
giừ được nhiều nếp nhà dân gian và nét sinh hoạt truyên thông của cư dân đông
bàng Bấc bộ. Tháng 11 năm 2005, Đường Lâm trở thành làng cô đầu tiên ở Việt
Nam được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, với phạm vi bảo tôn
là các thôn Mông Phụ, Cam Thịnh, Đông Sàng, Đoài Giáp và Cam Lâm.

hóa âm thực, trang phục truyền thống.
Mục tiêu cụ thế cua đề tài là:
1) Làm sáng rò giá trị và đặc trưng cua văn hóa âm thực truyên thông của
làng cô Dường Lâm
2) Làm sáng rõ giá trị và đặc trưng cứa trang phục truyền thống của làng cổ
Đường Lâm
3) Giới thiệu kinh nghiệm của một số di sản ở Nhật Bản và phố cô Hội An
trong việc bao tôn, phát huy giá trị cua vàn hóa âm thực và trang phục truyên
thống.
4) Đe xuât định hướng bảo tôn bên vừng văn hóa sinh hoạt của Làng cô
Đường Lâm.
5) Đe xuất biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa âm thực, trang
phục truyền thông của làng cô Đường Lâm.
3. Phuong pháp nghiên cứu

Với kinh nghiệm tham gia một số dự án hợp tác nghiên cún, bảo tồn di sản
giừa Việt Nam và Nhật Bản từ năm 1993 đến nay, tác giả chú trọng áp dụng
phương pháp nghiên cứu và kinh nghiệm bảo tồn của Nhật Bản nhằm làm sáng
tỏ giá trị văn hóa âm thực và trang phục truyền thống của làng cố Đường Lâm.
Đe tạo tiêp cận từ góc độ nghiên cứu văn hóa âm thực và trang phục truyền thống

4


thường nhật của Đường Lâm, nhằm bô sung thêm những nét khăc họa giản dị,
chân thực vào bức tranh chung về làng quẻ Băc bộ cô truyên.
Tác giả sử dụng cách tiếp cận liên ngành khi thực hiện đề tài, cụ thê là kêt
hợp các phương pháp truyền thông cua khoa học xã hội như phân tích, tông hợp
tư liệu, so sánh, đối chiếu... với phương pháp điều tra điền dã, phỏng vấn, nghiên
cứu trường hợp... của khu vực học. Đặc biệt, một số phương pháp phân tích tiên

so với số thành viên bình quân một hộ ở đồng bằng sông Hông là 3,4 (2 0 13)1, thì
0' Đường Lâm số gia đình đông thành viên vẫn chiếm tỷ lệ cao. Mô hình đại gia

đình, gồm 3 thế hệ (ông bà, bố mẹ và con cháu) khá phô biến. Trung bình sô
người ở độ tuôi 1 8 - 5 0 trong mỗi hộ là 3,3, tức là tỷ lệ lực lượng lao động khá
dồi dào. Kết quả điều tra chỉ sổ BMI cho thấy 10% cư dân có chỉ số BMI trên 25
(tức béo phì); 20% có chỉ sổ dưới 18,5 (tức suy dinh dường). Nhóm người ở độ
tuồi từ 20 trơ lên đạt mức BMI trung bình là 20 - 22 (tức là tỷ lệ cân đối). Nhóm
dưới 20 tuổi có chỉ số trung bình là 15. Nói cách khác, đa số người dân ở Đường
Lâm có tình trạng cơ thế cân đối, số người béo phì chiếm tỷ lệ rât thấp. Trẻ em
và thiếu niên dưới 20 tuôi có tình trạng dinh dường thấp, cần cải thiện.
v ề thói quen trong sinh hoạt ấm thực, có thê thấy nhiên liệu tự nhiên được
sử dụng chủ yếu, gồm than, củi, rơm rạ, thân ngô phơi khô... s ố hộ sử dụng tủ
lạnh, nồi cơm điện, bếp điện, ga... còn rất ít. Nước sinh hoạt và chế biến chủ yếu
vần là nước mưa, nước giếng. Cư dân Đường Lâm vẫn giữ thói quen ăn ngày 3
bừa tại nhà. Tỷ lệ bữa ăn ngoài rất ít, từ 1-2 lần/tuần. Cơ cấu bữa ăn vê cơ bản
theo mô hình truyền thống. Đạm thực vật (đậu tương), cá nước ngọt, thịt lợn, gà,
vịt đưọ'c sử dụng chủ yêu, nhưng thịt bò ít được chế biến. Rau được sử dụng nhiều
trong bừa ăn nhưng ăn hoa quả và các sản phâm sữa ít được sử dụng. Tỷ lệ bữa
ăn cơm và các loại bánh chê biên từ gạo, khoai, sắn cao, trong khi việc ăn trực
tiêp ngô, khoai, sắn thay cơm lại không phô biến. Điều này phản ánh đặc trưng
của làng cô Đường Lâm là nghề thủ công chế biến đặc sản từ gạo và mật vốn rất
phong phú.

1 Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Tổng cục Thống kê (2013): Điều tra biến động dân số và ké hoạch hóa gia đình thời
diêm 1/4/2013 - Các kết quá chú yếu, Tổng cục Thống kê, tr. 1

6





giả nhận thấy, các cụ bà trên 70 tuổi vẫn giữ thói quen mặc yếm, trong khi phụ
nữ trung niên 50 - 60 tuổi thường mặc áo lót kiểu áo ba lồ hay áo cánh không tay.
Phụ nữ từ 40 tuổi trở xuống đã quen với việc mặc áo nịt hiện đại.
Cách căt may và mặc quân cùng phản ánh sự thay đôi qua các thời kì. Từ
quần chân què ghép hai ống do khổ vải hẹp trước thập niên 19602; chuyến sang
quần chân què ghép một bên ống nhờ máy dệt khố vải rộng, nhưng thói quen mặc
rộng ống, đũng sa và cạp buộc vần được duy trì trong thập niên 1960-1970; đên
quần may đo vừa người, cân hai ống, ghép giữa đùng, cạp cài cúc theo kiêu âu
phục, phô biến trong nam giới từ thập niên 1970 và trong nữ giới từ thập niên
1980.
Quá trình hiện đại hóa trang phục còn thế hiện rõ qua sự biến đôi của tâm
áo cánh và áo dài. Áo tứ thân là trang phục truyền thống của người Việt, vốn được
thiết kế theo nguyên tắc “m ở” (mặc bằng cách quấn, không cài cúc kín mà dùng
dây thắt), và nguyên tẳc thông khí “kiểu ong khói” là các nguyên tẳc chugn của
trang phục phương N am 3. Sau này, áo cánh nối tay và áo năm thân tuy chịu ảnh
hưởng của yếu tố phương Bắc (như sử dụng cúc áo, cổ áo may cao và sát hơn,
thói quen đặt vạt phải lên trên vạt trái)4, nhưng vẫn kết hợp với thói quen may
mặc truyền thống. Đó là thiết kế nối ở tay áo, may liên và thoáng ở nách, không
cài kín cúc mà dùng dây buộc ở bụng. Bên cạnh đó, sự kết hợp tê nhị vê mâu săc
và độ dày m ong của nhiều lớp trang phục tùy theo nhiệt độ nóng lạnh cũng là một
kinh nghiệm đáng chú ý. Từ thập niên 1970, thiết kế kiếu ráp lăng và SO' mi nối

2 Khố vải dệt bàng khung cửi thủ công truyền thống là 30 - 40cm.
3 Theo Inomata Mieko (2010), trang phục phương Nam có đặc trưng “m ở ” và kiểu “ống khói” . Ta có thế thấy rõ
dặc trưng này qua cách vấn khố của nam giới hay quấn sà rông của phụ nữ Đông Nam Á. Áo tứ thân cũng có
nguyên tẳc tương tự. v ề cơ ban trang phục kiếu phương N am thường rộng rãi, giúp khỏriíỉ khí lưu thông giữa cơ
thế và lớp trang phục bị nóng lên do tiếp xúc trên bề mặt da sẽ di chuyến lên trên và thoát ra ngoài dễ dàng, khiến
người mặc cảm thấy thoánu mát (Tham khảo Trang phục thoái mái , trong Hội tháo Quốc tế ky niệm 10 năm Hội

trong 3 ngày đê vải chuyên sang màu đen nhánh. Nguyên tăc của hai kỹ thuật
nhuộm vải về cơ bản giống kỹ thuật nhuộm răng đen, tức là tận dụng phản ứng
cua tanin thực vật và sắt (trong thuôc nhuộm răng, trong nạo sắt, trong bùn) với
ty lệ cân thiết đê có được sự chuyến màu theo ý muốn. Ket quả quan sát kính hiến
vi điện tử cho thấy, dung dịch thuốc nhuộm từ củ nâu và bùn không ăn vào lõi
sợi vải mà tạo một lớp bọc phủ bên ngoài sợi vải. Vải chít bùn có hàm lượng
canxi và sất cao hơn vải nhuộm củ nâu nên màu vải đen sẫm và độ bền màu tốt
hơn. Tuy nhiên, vải chít bùn có độ bền sức căng mặt vải cao hơn do không bị tốn
thương bơi qui trình quét chải bùn trên mặt vải.

9


Trang phục Đường Lâm cũng giống như sức sông của làng cô, không ôn
ào, phô trương mà âm thầm bền bỉ với những biêu hiện trầm lặng, sâu lăng. Các
cụ cao tuôi ở Đường Lâm đã quen với việc con cháu mặc đô âu, các đoàn biêu
diỗn của thị xã hay thành phổ mặc những bộ trana phục kiêu áo tứ thân biên tâu
xanh đỏ, nhưng bản thân các cụ vần âm thầm gìn giữ hàm răng đen nhánh hạt na,
vần ưa quấn dải yếm trong chiếc áo cánh và chiếc quần chân què giản dị, vân
hằng ngày búi mái tóc thưa dần bàng chiếc khăn vấn bạc màu. Trong vòng xoáy
cua cuộc sổng hiện đại, thiết nghĩ nhừng phong tục đang mất đi như tục nhuộm
răng đen và các trang phục truyền thống còn lưu giữ ở Đường Lâm cần được
thống kê và tư liệu hóa nhanh chóng khi các nhân chứng và vật chửng vẫn còn.
Bôn cạnh đó, nguyên tắc may trang phục phù họp với đặc điêm khí hậu, cơ thê
người Việt và một số nghề truyền thống như nhuộm củ nâu, chít bùn là những
yếu tố có khả năng phát huy giá trị trong cuộc sống hiện đại nếu chúng ta đánh
giá một cách khoa học, chính xác hiệu quả và có biện pháp ứng dụng phù hợp.
Trên cơ sở phân tích hiện trạng bảo tồn của làng cô Đường Lâm, đông thời
đối chiếu với kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam và Nhật Bản đang
nồ lực bảo tồn các giá trị truyền thống và phát triến du lịch bền vững, tác giả đê

cách di dời một bộ phận cư dân... cần được thảo luận kĩ với từng nhóm CU' dân vê
tiêu chí và điều kiện cụ thế. Các quyết định đưa ra cần dựa trên nguyện vọng của
người dân và tính bên vững của chính sách.
Làng cổ Đường Lâm có nhiều thế mạnh về văn hóa vật thê và phi vật thê.
Các kết quả nghiên cứu về các giá trị này đã được công bô nhiêu và là cơ sở khoa
học cho việc phát huy thế mạnh của di sản. Tuy nhiên cũng chính vì thế mà việc
lựa chọn ra những yếu tô và sản phâm đê ưu tiên đầu tư và phát triên lại không
đon giản. Ngoài các công trình kiến trúc và tôn giáo đã được xêp hạng, việc phát
huy các giá trị cua Đường Lâm, từ cảnh quan đến ấm thực, trang phục... đang ở
trạng thái tự phát và “chọn lọc tự nhiên” . Quy hoạch bảo tồn tôn tạo và phát huy
giá trị làng cố đã được thông qua, nhưng việc thực hiện và phổ biến nội dung đối
với cư dân chưa được đẩy mạnh. Người dân Đường Lâm có khả năng thích ứng
cao nên khi thây một sổ sản phâm, dịch vụ được khách tham quan yêu cầu hoặc
một sô gia đình cung cấp thành công thì sẽ tập trung khai thác cùng loại hình sản
phâm, dịch vụ đó. Neu thiếu kế hoạch và sự điều tiết một cách tong the, khuynh
hướng này có nguy CO' dẫn đến sự cạnh tranh nội bộ, phá vỡ mối quan hệ cộng
đông vôn là truyền thông của làng cô và biến làng cố trở thành “phố” với các dãy
nhà hàng, cứa hàng cung câp sản phâm giống nhau. Đây là yếu tố khác biệt giữa
chính sách bảo tồn làng cô và phố cố. Đê tránh tình trạng này, cần thảo luận với


người dân và chuyên gia, lựa chọn một sổ san phảm, dịch vụ thê mạnh cho từng
thôn, từng nhóm gia đình và xảy dụng qui trình sản xuât, cung cáp dịch vụ chuyên
môn hóa. Nhò' đó, chất lượng đặc san và dịch vụ được nâng cao, đông thời khả
năng đáp ứng về số lượng cũng gia tăng. Việc chuyên môn hóa này cũng giúp
cho dịch vụ trai ngiệm dành cho khách du lịch trở nên thú vị hơn. Ngoài ra, các
hộ gia đình không có điều kiện thuận lợi đê trực tiếp cung cấp dịch vụ du lịch vẫn
có thê tham gia vào qui trình và được hưởng lợi từ du lịch.
Đổi với một “di sản sống”, tính kế thừa là vô cùng quan trọng. Nêu các
dịch vụ du lịch khai thác di san của địa phương do các cơ quan bên ngoài tô chức

di san bằng nguồn thu từ du lịch. Làng Tatsugo (tỉnh Kagoshima) của Nhật Bản
và phố cổ Hội An của Việt Nam là những trường hợp thành công trong lĩnh vực
này. Hiện nay làng cổ Đường Lâm đang thực hiện chính sách hồ trợ đối với một
số gia đình tham gia du lịch hay quản lý nhà cổ, tuy nhiên kinh phí hồ trợ chưa
đáng kể. Việc trích một phần nguồn thu từ du lịch đe thành lập Quỹ bảo tôn tôn
tạo di tích và công khai việc sử dụng quỹ sẽ góp phần cải thiện cơ sở hạ tâng, duy
trì sức hấp dẫn của di sản và tăng cường sự đồng thuận giữa cơ quan quản lý và
người dân.
Trên cơ sơ các nguyên tắc trên, có thế thực hiện ngay một sô biện pháp cụ
thế và hiệu quả nhằm bảo ton ẩm thực và trang phục truyền thống của Đường
Lâm. Trước hết, đổi với đặc sản ấm thực của làng cổ, việc giới thiệu các sản phâm
này có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế địa phương. Hiện nay, nhiều
sản phẩm kẹo gắn liền với địa danh làng M ía như thương hiệu kẹo Hiền Bao đã
đăng kí vệ sinh an toàn thực phâm, mã vạch và được tiêu thụ ở một sô địa phương
miền Bắc. Tuy nhiên, phần lớn các cơ sở sản xuất còn lại chưa đăng kí và việc
sản xuất vẫn chưa ồn định. Một số đặc sản như chè lam, bánh tẻ, bánh gai, chè
kho... được chế biến hàng loạt đế bán cho khách nhưng chưa lưu ý sử dụng đúng
qui trình và nguyên liệu truyền thống, thậm chí chạy theo giá rẻ thay đôi nguyên
liệu, làm cho hương vị bị mai một nên chỉ bán được một lần mà không được đánh
giá cao. Neu muốn tạo nên đặc sản của Đường Lâm, các cơ sở sản xuất cần lựa
chọn và xảy dựng những thương hiệu đặc san riêng cho từng thôn, từng nhóm hộ


gia đình trên cơ sở phục hồi đúng giá trị nguyên gốc của sản phấm và nghiên cứu
gia tăng sự tiấp dần bàng mầu mã. Nhiều món ăn truyền thống như bánh mụn,
bánh hòn, nước lá mồng 5 tháng 5... đang bị lãng quên có thê trở thành những thế
mạnh đặc sản nếu được phục hồi đúng cách.
Một số gia đình cung cấp dịch vụ nhà hàng ở Đường Lâm đang phát huy
các món ăn tiêu biêu của Đường Lâm như gà Mía, thịt quay, cá kho tương, đậu
phụ, củ cải khô... Mặc dù vậy, phần lớn thực đơn được xây dựng theo cảm tính,

14


đôi với các đặc sản, thực đơn, chương trình du lịch âm thực với sự tham gia của
dại diện cư dân địa phương, chính quyền và chuyên gia.
Đối với trang phục truyền thống, tình trạng mai một là một nguy cơ hiên
hiện. Mặc dù một số nhà nghiên cứu và tô chức trong nước và quôc tế đã hỗ trợ
Ban quản lý và cư dân địa phương trong việc giới thiệu giá trị và cách bảo quản
các trang phục cô nhưng trên thực tế các trang phục này đang mât đi nhanh chóng.
Gần đây trong làng Đường Lâm bắt đầu xuất hiện xu hướng cho khách du lịch
thuê áo quần kiểu truyền thống đế chụp ảnh trong làng. Đáng tiêc là các trang
phục cho thuê đều được may theo kiếu trang phục biêu diễn với tay áo ráp lăng,
váy xòe... Neu ở đô thị thì có thể điều này không đáng phàn nàn, nhưng tại di sản
Đ ường Lâm, nơi vần còn nhừng “nhân chứng” , “vật chứng” của trang phục
nguyên gốc thì hiện tượng này thật khó chấp nhận. M ột biện pháp có thê cứu vãn
được tình trạng này là cân gâp rút xâ y dựng Phòng truyên thông của làng cô,
trưng bày các trang p hụ c truyền thong đã được Ban quản lý sưu tầm hoặc kêu
gọi các cụ cao niên ủng hộ. Ngoài các hiện vật, Phòng truyền thong có thê cung
cấp các bức ánh và thông tin cơ hán về trang phục cô như kích thước, kiêu dáng,
cách nhuộm, may, cách mặc... đê nâng cao nhận thức của cư dân địa phương vê
giá trị của các hiện vật trưng bày. Thông qua đó, hướng dẫn các nhà may địa
phương cung cấp các trang phục cho khách du lịch trải nghiệm theo đúng kiêu
dáng truvền thống.
Bên cạnh đó, cân có kê hoạch giới thiệu và khôi phục gâp rút một sô nghề
và p h o n g tục găn liên với trang phục cỏ khả năng phát huy trong đời sông hiện
đại. Vcri nguyên tắc tận dụng nguyên liệu thiên nhiên, thân thiện môi trường và
thoáng mát, phù hợp khí hậu địa phương, các phương pháp nhuộm củ nâu và chít
bùn có thê cung cấp những giải pháp mới cho trang phục hiện đại, giống như
trường hợp lãnh Mỹ A, lụa Hà Đông... Qui trình nhuộm vẫn được các cụ cao niên
trong làng nắm vững nên có thể truyền lại cho các thế hệ sau và tạo điều kiện phát

sông âm thực thường nhật, các phong tục và các nghề truyền thống liên quan đến
âm thực của

CU'

dân Đường Lâm. Trang phục được ghi vẽ lại là trang phục lao

động và trang phục thường nhật, các phong tục và nghề truyền thống liên quan

16


đến trang phục. Bên cạnh tư liệu phỏng vấn, đo, vẽ, quay phim, chụp ảnh..., đê
tài đã bô sung các tư liệu số hóa, các kết quả phân tích về chỉ sổ dinh dường, phân
tích vật lý, hóa học về các loại trang phục, vải truyền thống nhằm gợi ý một sô
hướng nghiên cứu hiện đại đối với đề tài âm thực và trang phục.
Bao tồn “di sản sống” như Đường Lâm trước hết đòi hỏi sự đồng thuận của
người dân, những người hàng ngày hàng giờ sống với di sản. Khác với các công
trình tôn giáo, di tích khao cổ học, hay di sản phố cố... di sản làng cô có nhiêu
yêu cầu có thê nói là khe khắt. Bên cạnh việc phải bảo tôn nguyên gôc, làng cô
còn đòi hởi phai được nuôi sống và không được phố hóa. Nói một cách khác, nêu
không cộng đồng truyền thống và sinh hoạt cộng đồng thì không còn làng cổ, nếu
thương mại hóa và du lịch hóa quá mức cũng mất đi làng cô. Chính vì vậy, bên
cạnh việc bảo tồn và tu bố các công trình lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng ở Đường
Lâm, việc tiếp sức cho ngôi làng duy trì sức sổng bền bỉ là vô cùng quan trọng.
Du lịch là một phương thức hữu hiệu nhưng du lịch cũng là nguy cơ bóp méo
hình ảnh làng cố. Những giá trị ẩm thực và trang phục truyền thống mà tác giả
lựa chọn giới thiệu trong nghiên cứu này chính là một biện pháp lưu giữ sức sống
cho làng cô với mong muốn gợi ý cho những người đang trăn trở với Đường Lâm
tìm ra hướng phát triên bên vừng cho di sản.

short and wide pants dyed by mud, blackened teeth... They were the symbols o f
íầrmers in the North o f Vietnam, but now fading quickly in the industrialization,
urbanization and globalization. Based on the research results in Duong Lam
village and compared to the experience o f Japanese ancient villages, towns, and
Hoi An ancient town, the author proposed specialized conservation oriented to
Duong Lam and some speciíic measures to conserve traditional cuisines and
costumes.

PHẦN III. SẢN PHẢM, CÔNG BỐ VÀ KÉT QUẢ ĐÀO TẠO CỦA ĐÈ TÀI
3.1. Ket quả nghiên cứu
Tên sản

Yêu cầu khoa học hoặc/và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật

TT
phâm
1

2

Sách

Đăng ký

Đạt được

1 sách chuyên khảo

1 sách chuyên khảo ' Di sản Đường Lâm:


chí nghiên cứu trong

cứu trong nước có chỉ số ISSN

Bài

nước
Bài
thao

hội

Không đăng kí

2 báo cáo tại hội thảo quốc tế tại Nhật Bản
có in kỷ yếu

quốc

tế
Báo cáo tư

1 Báo cáo tư vấn định

1 Báo cáo tư vấn định hướng bảo tồn văn

vân

hướng bảo tồn


Tình trạng

Sản phấm
TT

Đánh
giá
chung
(Đạt,
không
đạt)

Công trình công bô trên tạp chí khoa học quôc tê theo hệ thông
ISl/Scopus

Sách chuyên khảo được xuât bản hoặc ký hợp đông xuât bản
2.1

"Di sản Đường Lãm: A m thực và trang

Đã in

phục truyền thống”, NXB Thế giới,

ị Ẩ

Có ghi địa
u c 'í

Đạt




Đạt

6/2016

)
Báo cáo khoa học kiên nghị, tư vân chính sách theo đặt hàng của đơn

ISSN: 1859-1604, 6/2016

vị sử dụng
“Nghiên cứu trang phục truyền thông ở

Đã in

Đạt

Việt Nam”, báo cáo dưới hình thức poster £ựCtu *£ỉac
cùng với Shimomura Kumiko, Tanii
Yoshiko và Inomata Mieko tại "Hội thảo

20


lấn thứ 67 của Hội Nghiên cứu Kinh tế
Gia đình Nhật Bàn", ngày 2224/5/2015. Kỷ yếu do Hội Nghiên cứu
Kinh tế Gia đình Nhật Bản phát hành,
ISSN 0919-6056, tr.2P-38


Kêt quả dự kiên dược ứng dụng tại các cơ quan hoạch dịn 1 chính sách
hoặc



sở ứng dụng KII&CN

3.3. Ket quả đào tạo

TT

Họ và tên

Thòi gian và kinh Công trình công bô liên quan
Đã
phí tham gia đề tài
(Sản phẩm KHCN, luận án,
bảo vệ
(sổ thảng/số tiền)
luận văn)

Nghiên cứu sinh
]
ỉ lọc viên cao học
1

ThS Vũ Thị
Thanh Tuyền


T

1

Bài báo công bô trên tạp chí khoa học quôc tê theo hệ

Sô lượng
đã hoàn
thành


lưọng
đăng ký
1

0

1

1

thống ISI/Scopus
1

Sách chuyên khảo được xuât bản hoặc ký họp đông
xuất bản

3

Đăng ký sở hữu trí tuệ

2

7

Báo cáo tư vân định hướng bảo tôn

1

1

8

Đào tạo/hồ trợ đào tạo NCS

0

0

9

Đào tạo thạc sĩ

2

2

PHẦN V. TÌNH HÌNH s ử DỤNG KINH PHÍ

22



2

Nguyên, nhiên vật liệu, cây con

0

0

3

Thiết bị, dụng cụ

0

0

4

Công tác phí

0

0

5

Dịch vụ thuê ngoài

0


Chi phí gián tiêp

1

Quản lý phí

15

15

2

Chi phí điện, nước

0

0

Tong số

300

300.816

PHẢN V. KIẺN NGHỊ (vềphát triển các kêt quá nghiên cứu của đề tài; về quản lý,
tô chức thực hiện ở các cãp)
1. về công bố quốc tế: Không nên quá câu nệ về chỉ số SCOPUS hay ISI đối với tất cả
các loại đề tài. Nếu đề tài nehiên cứu về các nước thì nên ủng hộ việc đăng trên tạp chí
bărm tiếng nước dó.

(Thủ trưởng âơn vị kỷ tên, đóng dâu)

Phan Hải Linh

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status