VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN PHÚC NHÂN
CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ
PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI SẢN VĂN HÓA
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành
Mã số
: Chính sách công
: 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. TRẦN THỊ AN
HÀ NỘI, năm 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ chính sách công “Chính sách bảo tồn
và phát huy giá trị các di sản văn hóa từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” là kết quả
của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học của bản thân. Các số liệu và kết
quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố. Các
thông tin trích dẫn trong luận văn được chỉ rõ xuất xứ, nguồn gốc rõ ràng và
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ
PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA ............................................... 11
1.1. Một số khái niệm ...................................................................................... 11
1.2. Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa............................. 17
1.3. Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của Việt Nam ..... 22
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TỈNH QUẢNG NGÃI ... 31
2.1. Khái quát về di sản văn hóa tỉnh Quảng Ngãi ......................................... 31
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn phát huy di sản văn hóa tỉnh
Quảng Ngãi ..................................................................................................... 35
CHƢƠNG 3. HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TỈNH QUẢNG NGÃI ...................... 62
3.1. Quan điểm, mục tiêu xây dựng chính sách bảo tồn và phát triển di sản
văn hóa của tỉnh Quảng Ngãi .......................................................................... 62
3.2. Các giải pháp tăng cường thực hiện CSBT và phát huy DSVH tỉnh
Quảng Ngãi ..................................................................................................... 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSBT
: Chính sách bảo tồn
1. Tính cấp thiết của đề tài
Di sản văn hóa “là tài sản vô giá gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi
của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”
[7, tr. 68]. Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, các quốc gia không chỉ quan
tâm tới việc bảo vệ độc lập, chủ quyền về mặt chính trị và vẹn toàn lãnh thổ mà
còn coi trọng việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, vì vậy mà chú trọng đến
việc tìm cách bảo tồn, khai thác và phát huy các di sản văn hóa (DSVH), xem
đó như một tài sản và lợi thế nhằm tạo ra sự phát triển bền vững của đất nước.
Những cơ chế, chính sách về bảo tồn, phát huy DSVH trở thành một phần cốt
lõi trong các chính sách liên kết xã hội, môi trường, văn hóa, giáo dục và lập kế
hoạch phát triển của một đất nước, một tỉnh, thành phố.
Ở Việt Nam, từ sau đổi mới (1986), công tác bảo tồn và phát huy giá trị
DSVH nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và cộng đồng. Trên
thực tế, “quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước trong thời
gian qua đã có tác dụng bảo tồn và phát huy DSVH, ngăn chặn tình trạng
xuống cấp của di tích LSVH, tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực phát triển
ngành du lịch, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển KTXH thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và giao lưu hội nhập quốc tế” [36].
Quảng Ngãi là vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa lịch sử, có
nhiều DSVH chứa đựng những giá trị biểu trưng cho trí tuệ, tâm hồn của dân
tộc Việt Nam và nhân dân các dân tộc Quảng Ngãi. DSVH có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc cho
thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, DSVH còn là nguồn lực quan trọng để phát triển du
lịch bền vững, góp phần tăng trưởng KTXH của địa phương.
1
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay, cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành nhiều chính
sách và quy trình chính sách đã có những phân tích bước đầu, giới thiệu
những vấn đề lý luận cơ bản về khoa học chính sách, làm rõ nhận thức về
chính sách và các giai đoạn của quy trình chính sách trong thực tiễn của Việt
Nam [25].
Trong tác phẩm Khoa học Chính sách phát hành năm 2011 [8], tác giả
Vũ Cao Đàm đã đưa ra những cặp khái niệm mới, như mục tiêu công bố và
mục tiêu ngầm định của chính sách, tác động dương tính và tác động âm tính
của chính sách, tác động ngoại biên và chuỗi tác động kế tiếp của chính sách,
xung đột và bất bình đẳng xã hội do chính sách, paradigm (khung mẫu) và
kiến tạo xã hội của chính sách… Cùng với những cặp khái niệm này là quy
trình/phương pháp phân tích, hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách
được tiếp cận dưới các hướng tiếp cận hiện đại của khoa học.
Hai tác giả Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa với công trình Đại cương về
CSC đã cung cấp những kiến thức đại cương về phân tích CSC như: khái quát về
phân tích CSC, đặc trưng của phân tích CSC, tiêu chuẩn nhân sự làm chuyên môn
về phân tích CSC, quy trình, nội dung và phương pháp phân tích CSC [13].
Công trình CSC - Những vấn đề cơ bản của tác giả Nguyễn Hữu Hải
[14] đã cung cấp những kiến thức lý luận chung nhất về CSC như: quá trình
phát triển khoa học chính sách; đặc điểm, vai trò và phân loại CSC; cấu trúc
nội dung và chu trình CSC; nguyên tắc, căn cứ, các bước và phương pháp,
công cụ hoạch định CSC; yêu cầu, các hình thức, phương pháp tổ chức thực
thi CSC và phân cấp quản lý CSC; nguyên tắc, tiêu chí, quy trình, nội dung và
phương pháp phân tích CSC; nội dung đánh giá CSC; tổ chức công tác phân
tích, đánh giá CSC. Đặc biệt tác giả còn chú trọng đến việc vận dụng những
kiến thức cơ bản vào thực tiễn đánh giá CSC ở Việt Nam.
3
Giáo trình Đại cương về CSC của các tác giả Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn
Đính, Đinh Trung Thành đã có những khái quát chung nhất về lý luận CSC
chống xuống cấp đã trở thành các điểm tham quan hấp dẫn. Đồng thời nêu ra
những hạn chế, đề ra những giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực của di tích như:
đầu tư đồng bộ trong bảo tồn, tôn tạo, triển khai việc quy hoạch chi tiết đối với các
di tích để giải quyết hợp lý, hài hòa, bền vững [10, tr.486].
Hai công trình Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng Long - Hà
Nội [3] và Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể ở Thăng Long - Hà
Nội [44] là kết quả nghiên cứu của chương trình Khoa học cấp Nhà nước
“Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử văn hóa 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, phục vụ phát triển toàn diện Thủ
đô”, mã số KX.09. Các khái niệm DSVH, DSVH vật thể, DSVH phi vật thể,
quan điểm của UNESCO, Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy DSVH
đã được đề cập đến trong nội dung của hai công trình này.
Trong một bài viết của mình, tác giả Bùi Quang Thắng đã giới thiệu
quan điểm về bảo tồn của học giả Ashworth từ thực tế bảo tồn di sản ở nhiều
nước trên thế giới thành 3 quan điểm và tương ứng với nó là định hướng bảo
tồn di sản: 1. Bảo tồn nguyên vẹn là quan điểm dựa trên quan điểm bảo tồn
văn hoá vật thể của các nhà bảo tàng học. Quan điểm này cho rằng, các sản
phẩm của quá khứ nên được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có để tránh tình
trạng thế hệ hiện tại làm méo mó, biến dạng di sản. 2. Bảo tồn trên cơ sở kế
thừa dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình
ở một thời gian và không gian cụ thể. Khi di sản ấy tồn tại ở không gian và
thời gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị VHXH phù hợp với xã hội
hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy. 3. Bảo tồn
- phát triển với hạt nhân là khái niệm “tính xác thực” (hay “tính chân thực”)
của di sản (Authenticity of Heritage). Chân thực hay không không phải là một
5
giá trị khách quan mà được đo bằng trải nghiệm [37, tr. 678-680].
Trong bài viết Vận dụng những quan điểm của UNESCO vào việc
hoạch định chính sách và hệ thống pháp lý về bảo tồn DSVH phi vật thể ở
phát triển bền vững tổ chức tại Hà Nội (tháng 3-2017). Các vấn đề lý luận và
thực tiễn về DSVH nói chung, bảo tồn và phát huy DSVH ở một số địa
phương có di sản đã được vinh danh nói riêng đã được đưa ra thảo luận.
- Các công trình nghiên cứu về DSVH, CSBT, phát huy DSVH tỉnh Quảng
Ngãi
Công trình Địa chí Quảng Ngãi được xuất bản năm 2008 được xem là
“bách khoa toàn thư” về mảnh đất và con người Quảng Ngãi, trong đó các
DSVH của tỉnh được trình bày ở phần IV đã giới thiệu khái quát về các di
tích, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh
Nghiên cứu về DSVH tỉnh Quảng Ngãi, tác giả Nguyễn Đăng Vũ đã có
nhiều công trình, bài viết có giá trị như: Văn hóa dân gian của cư dân ven biển
Quảng Ngãi [53], Quảng Ngãi một số vấn đề lịch sử, văn hóaTừ việc xác lập
nguồn gốc đội Hoàng Sa nghĩ về việc tôn tạo các di tích liên quan trên đất
Quảng Ngãi [53, tr.31-33], Văn hóa truyền thống Ca dong [54]…
Phân tích về tiềm năng DSVH của huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi,
Phạm Quốc Quân có bài viết Di sản với du lịch ở huyện đảo Lý Sơn - Tiềm
năng, thách thức và giải pháp [30, tr.11-15]; Nguyễn Thế Hùng - Nguyễn
Hữu Toàn có nghiên cứu Bảo vệ và phát huy giá trị DSVH biển đảo [21, tr.
17-20], Vũ Minh Giang với Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa biển đảo Việt
Nam - Thực trạng và một số vấn đề đang đặt ra [11, tr. 21-23], trong đó có đề
cập đến việc bảo tồn, phát huy DSVH huyện đảo Lý Sơn. Tác giả Trịnh Xuân
Hạnh có bài viết Một số vấn đề về các yếu tố văn hóa phi vật thể trên đảo Lý
Sơn liên quan đến đội Hoàng Sa - Bắc Hải trong lịch sử [17, tr. 84-88]…
Ngoài ra, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi cũng đã
7
cho xuất bản một số ấn phấm như Quảng Ngãi đất nước - con người - văn
hóa [33], Văn hóa cư dân đảo Lý Sơn [34]…
Những nghiên cứu trên góp phần cung cấp cơ sở lý thuyết về thực hiện
tỉnh Quảng Ngãi.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2003-2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về
chính sách văn hóa nói chung, chính sách đối với DSVH nói riêng, về khoa
học CSC, khoa học quản lý công.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp thu thập nguồn tài liệu thứ cấp: Tập hợp và phân tích
các nguồn tư liệu có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn
kiện, tài liệu, NQ, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và
địa phương; các công trình nghiên cứu, sách báo, các báo cáo, tài liệu thống
kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp
hoặc gián tiếp tới vấn đề CSBT DSVH ở Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng
Ngãi nói riêng. Đồng thời, thu thập các số liệu, sách báo của các tổ chức và
học giả liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp điền dã, thực địa: Tiến hành đi cơ sở khảo sát thực tế
các DSVH ở tỉnh Quảng Ngãi, kết hợp với việc tiếp xúc phỏng vấn những
người đang trực tiếp làm công tác quản lý văn hóa, quản lý di sản, người dân
có liên quan để thu thập thông tin.
- Phương pháp phân tích: Trên cơ sở những thông tin thu thập được,
bằng phương pháp phân tích, suy luận, lôgic, luận văn sẽ đi đến các nhận định
9
và kết luận về thực tiễn thi hành chính sách về bảo tồn và phát huy DSVH của
tỉnh Quảng Ngãi.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
DSVH được Công ước Bảo vệ DSVH và thiên nhiên của thế giới của
UNESCO xác định bao gồm các di tích, quần thể kiến trúc và thắng cảnh [46, tr. 3].
Trong công trình Bản thảo DSVH và các vấn đề liên quan thuật ngữ và
định nghĩa, định nghĩa “DSVH là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, nó bao
gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể” [43, tr.8].
Luật DSVH số 28/2001/QH10, Điều 1 ghi rõ: “DSVH quy định tại luật
này bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật
chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua
thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [31, tr.11].
Theo Luật DSVH Việt Nam số 28/2001/QH10 (Điều 4, Chương 1),
DSVH vật thể cần được hiểu là “sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá,
khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia” [31, tr.11].
Theo Điều 1, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH số
32/2009/QH12 (Điều 1), DSVH phi vật thể được quy định là “sản phẩm tinh
thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên
quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng,
không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [24, tr.43].
Như vậy, ở Việt Nam, DSVH được thống nhất chia thành hai nhóm: vật
11
thể và phi vật thể, tương đồng với cách phân nhóm DSVH của UNESCO và
nhiều tổ chức văn hóa khác trên thế giới.
1.1.2. Chính sách, chính sách công và chính sách văn hóa
- Chính sách
Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã
hội. Mỗi khi có vấn đề gì nổi cộm trong xã hội, công chúng trông chờ vào những
đầu tư và thuế, các phương pháp hành chính khác” [18, tr.19].
- Trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sách với pháp luật,
tác giả Đinh Dũng Sỹ cho rằng: “Chính sách được hiểu là những tư tưởng,
những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được. Còn
chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chẳng qua chỉ là hình thức, là
phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính sách” [32].
- Các tác giả Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Lê Anh định nghĩa chính
sách “là những chủ trương thích ứng với các đặc điểm và điều kiện KTXH
của từng giai đoạn phát triển và nhằm vào việc bảo đảm cho sự vận hành
đúng hướng và tích cực của cơ chế kinh tế” [45, tr.5].
Tóm lại, chính sách được hiểu là tập hợp các biện pháp do các nhà lãnh
đạo/nhà quản lý đề ra để giải quyết các vấn đề trong đời sống xã hội, là khung
thể chế cho các hoạt động trong thực tiễn.
- Chính sách công
Cụm từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực công”
được gọi là CSC. Đây không chỉ đơn giản là sự ghép từ thuần túy, mà đã có
sự thay đổi cơ bản về nghĩa, bởi nó có sự khác biệt về chủ thể ban hành chính
sách, về mục đích tác động của chính sách và vấn đề mà chính sách hướng tới
giải quyết.
CSC là chính sách của nhà nước, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với
sự ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước. CSC có vai trò quan trọng trong sự
13
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đến nay, đã có nhiều định nghĩa về
CSC, Thomas Dye cho rằng CSC là “tất cả những gì Nhà nước lựa chọn làm
hoặc không làm” [40, tr.1].
William Jenkins đưa ra định nghĩa: “CSC là một tập hợp các quyết định
có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn
liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu
Theo chủ thể ban hành, CSC có chính sách do Trung ương ban hành và chính
sách do địa phương ban hành. Theo lĩnh vực, có chính sách kinh tế, chính
sách xã hội, chính sách đối nội, chính sách đối ngoại... Theo thời gian tồn tại
của chính sách gồm có chính sách dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Đối với
CSBT và phát huy giá trị DSVH tỉnh Quảng Ngãi mà Luận văn này chọn làm
chủ đề nghiên cứu thì chủ thể chính sách là cơ quan Trung ương và cấp tỉnh,
huyện ban hành, còn lĩnh vực đây là chính sách văn hóa, bao gồm các chính
sách dài hạn, trung hạn và ngắn hạn về bảo tồn, phát huy DSVH.
- Chính sách văn hóa
Đa phần các nước trên thế giới đều có chính sách văn hóa quốc gia
chính thức cho riêng mình. Đó là “văn bản thể hiện các ý chí chính trị, quan
điểm về văn hóa nghệ thuật, về vai trò của chúng trong tiến trình phát triển
của mỗi quốc gia, về cách thức điều hành và tổ chức đời sống văn hóa nghệ
thuật, về các thể chế điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này. Các
nhà nước và chính quyền địa phương (bang, vùng, tỉnh) đều có các chính sách
văn hóa theo quan điểm riêng của họ, song đều thống nhất trên một số nguyên
tắc cơ bản và đường hướng phát triển văn hóa trong tổng thể chính sách phát
triển của quốc gia, bang, vùng, lãnh thổ” [18, tr.11].
Chính sách văn hóa bao gồm những cơ chế ưu tiên của Nhà nước để
phát triển một lĩnh vực văn hóa hay một đối tượng văn hóa nào đó trong xã
15
hội (ví dụ chính sách phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiếu số, vùng
sâu, vùng xa; chính sách ưu tiên cho văn nghệ sĩ, CSBT văn hóa truyền
thống…). Chính sách văn hóa thể hiện sự quan tâm của Nhà nước tới phát
triển văn hóa.
Chính sách văn hóa “là hệ thống các nguyên tắc, các thực hành của nhà
nước trong lĩnh vực văn hóa nhằm phát triển và quản lý thực tiễn đời sống
văn hóa theo những quan điểm phát triển và cách thức quản lý riêng, đáp ứng
năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về DSVH.
Mục tiêu chính của CSBT và phát huy DSVH dân tộc là sử dụng tối ưu
các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực mà nhà nước và xã hội có để không ngừng
làm phong phú, giàu có thêm vốn di sản đồ sộ của dân tộc quốc gia đa tộc
người của Việt Nam, đáp ứng cao nhất nhu cầu văn hóa của nhân dân, đáp
ứng nhu cầu phát triển bền vững.
Nội dung của chính sách này bao gồm:
- Thể chế về pháp luật bảo tồn và phát huy DSVH;
- Thể chế về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn
phát huy DSVH;
- Thể chế về ngân sách;
- Thể chế về xây dựng các thiết chế, cơ sở vật chất.
Như vậy CSBT và phát huy DSVH dân tộc không chỉ là các định
hướng chung mà còn phải là các thực hành xã hội thực tiễn và các biện pháp
tác động lên việc thực thi các công việc, nhiệm vụ trong thực tế.
1.2.2. Chu trình CSBT và phát huy giá trị DSVH
Chu trình CSBT và phát huy DSVH ở Việt Nam được nhìn nhận như
một quá trình từ hoạch định đến thực hiện cho ra kết quả cuối cùng. Có nhiều
cách thức để nhìn nhận các giai đoạn của một quá trình CSC nói chung, chính
sách về DSVH nói riêng. Về tổng thể, Luận văn này phân tích chu trình
17
CSBT và phát huy DSVH gồm các giai đoạn sau :
Hoạch định và ban hành chính sách: Đây được xem như là bước khởi
đầu trong chu trình CSBT và phát huy DSVH. Đây là bước đặc biệt quan
trọng. Hoạch định chính sách đúng đắn, khoa học sẽ xây dựng được chính
sách tốt, là tiền đề để chính sách đó đi vào cuộc sống và mang lại hiệu quả
cao. Ngược lại, hoạch định sai cho ra đời chính sách không phù hợp với thực
tế, thiếu tính khả thi sẽ mang lại hậu quả không mong muốn trong quá trình
được thực thi và với mọi đối tượng. Bước 3: Phân công phối hợp thực hiện
chính sách: Một chính sách thường được thực hiện trên một địa bàn rộng lớn
và nhiều tổ chức tham gia do đó phải có sự phối hợp, phân công hợp lý để
hoàn thành tốt nhiệm vụ. Bước 4: Duy trì chính sách: đây là bước làm cho
chính sách tồn tại được và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế. Để duy
trì được chính sách đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều yếu tố,
như Nhà nước là người tổ chức thực thi chính sách phải tạo điều kiện và môi
trường để chính sách được thực thi tốt. Đối với người chấp hành chính sách
phải có trách nhiệm tham gia tích cực vào thực thi chính sách. Bước 5: Điều
chỉnh chính sách, việc làm này là cần thiết, diễn ra thường xuyên trong quá
trình tổ chức thực thi chính sách. Nó được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền (thông thường cơ quan nào lập chính sách thì có quyền điều
chỉnh). Việc điều chỉnh này phải đáp ứng được việc giữ vững mục tiêu ban đầu
của chính sách, chỉ điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu. Hoạt
động này phải hết sức cẩn thận và chính xác, không làm biến dạng chính sách
ban đầu. Bước 6: Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách: Bất
cứ triển khai chính sách nào thì cũng phải kiểm tra, đôn đốc để đảm bảo các
chính sách được thực hiện đúng, và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực. Các
cơ quan Nhà nước thực hiện việc kiểm tra này, và nếu tiến hành thường xuyên
thì giúp nhà quản lý nắm vững được tình hình thực thi chính sách từ đó có
19