BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở,
QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT
CHO HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH
NGUYỄN THỊ YẾN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố ở bất kỳ bằng
công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Yến
LỜI CẢM ƠN
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................... 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................... 4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ................................................ 5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.............................................................. 5
7. Kết cấu của luận văn ........................................................................................ 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC
GẮN LIỀN VỚI ĐẤT CHO HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN.................................... 7
1.1. Các khái niệm: Quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất
............................................................................................................................ 7
1.1.1. Quyền sử dụng đất .................................................................................. 7
1.1.2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ....................................................... 8
1.1.3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác
gắn liền với đất............................................................................................... 10
1.2. Lý luận pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân .......................... 12
1.2.1. Sự cần thiết của điều chỉnh pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sở
hữu đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình,
cá nhân ........................................................................................................... 12
1.2.2. Các yêu cầu đối với pháp luật về cấp giấy chứng nhận sử dụng đất ở,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân17
1.2.3. Nội dung và hình thức pháp luật về cấp giấy chứng nhận sử dụng đất ở,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân19
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.......................................... 25
1.3.1. Đường lối, chính sách của Đảng ........................................................... 25
1.3.2. Yếu tố văn hoá, lịch sử ......................................................................... 26
2.2.2. Đánh giá tình hình biến động về đất ở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm
2014 đến năm 2017 ........................................................................................ 56
2.2.3. Thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, nhà ở và tài sản
gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bản tỉnh Bắc Ninh ............. 57
2.2.4. Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện việc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất cho hộ gia đinh và cá nhân ....................................................................... 65
Kết luận chương 2: ................................................................................................ 78
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT Ở, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT79
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở,
quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất ....................................................... 79
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình,
cá nhân .............................................................................................................. 82
Kết luận chương 3 ................................................................................................. 92
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 95
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND
QSDĐ
: Ủy ban nhân dân
: Quyền sử dụng đất
0
chứng nhận QSDĐ.
1
Tỉnh Bắc Ninh là một trong những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế năng
động trong cả nước, trình độ dân trí cao, diện tích đất ở chiếm gần 40% diện tích tự
nhiên của Tỉnh. Để góp phần tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền sử dụng
đất của mình và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển, cấp Uỷ, chính quyền
tỉnh Bắc Ninh đã quan tâm chỉ đạo, thực hiện tốt công tác cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nói chung, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nói riêng.
Tuy nhiên trên thực tế công tác này vẫn còn một số bất cập, vướng mắc, hạn chế
cần phải được nghiên cứu và đưa ra hướng giải quyết cụ thể.
Để làm tốt công tác này hơn nữa, cần thiết dựa trên những hành lang pháp lý
và khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận
hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này. Xuất phát từ lý do
trên, học viên đã chọn đề tài luận văn thạc sĩ "Pháp luật về cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ
gia đình, cá nhân và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh" nhằm góp
phần giải quyết những hạn chế, khó khăn trong công tác đăng ký đất đai, cấp
giấy chứng nhận, cải cách thủ tục hành chính, thực hiện tốt hơn nữa chức năng
dịch vụ công của Nhà nước về đăng ký đất đai, phục vụ cho công tác quản lý
Nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
2. Tình hình của việc nghiên cứu
Cho đến nay, pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
các nhà khoa học nghiên cứu khá nhiều ở các khía cạnh khác nhau. Điển hình là
hàng loạt các công trình, các bài viết, các sách chuyên khảo đã và đang là tài liệu
nghiên cứu phổ biến như: Một số vấn đề về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo Luật đất đai 2003 của Thạc sĩ Phạm Thu Thủy; Báo cáo số 93/BC- CP
ngày 19/10/2007 của Chính phủ về tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất; Một số suy nghĩ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tác giả
Mục đích của Luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
về cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất cho hộ gia đình, cá nhân. Từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện
pháp luật và áp dụng pháp luật đảm bảo công tác cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở,
3
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân có hiệu
quả.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, làm sáng tỏ khái niệm quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất; lý luận pháp luật về
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền
với đất;
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp
luật về cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;
Thứ ba, đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng
pháp luật đảm bảo công tác cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đạt hiệu quả.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Các văn bản pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác cấp Giấy
chứng nhận QSDĐ ở cho hộ gia đình, cá nhân; cơ quan thực hiện công tác cấp
Giấy chứng nhận QSDĐ ở; kết quả thực hiện công tác cấp Giấy chứng nhận
QSDĐ ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu nghiên cứu các quy định về cấp Giấy chứng nhận QSDĐ ở,
việc nghiên cứu, học tập tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành Luật
ở nước ta và có thể làm nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ quan thực
hiện công tác cấp Giấy chứng nhận QSDĐ ở, nhà ở và tài sản gắn liền với đất
cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng, ở nước ta nói
chung.
5
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được thể hiện trong 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất cho hộ gia đình, cá nhân tại tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân
6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẤP GIẤY CHỨNG
NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI
SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT CHO HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
1.1. Các khái niệm: Quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền
với đất, khái niệm đất ở
ta, khái niệm quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai lần đầu tiên được ghi nhận trong
Hiến pháp năm 1980 (Điều 19) và tiếp tục được khẳng định tại Hiến pháp 1992 (Điều
17,18, 84), Hiến pháp năm 2013 (Điều 53), Luật đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm
1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và năm 2001,
Luật Đất đai năm 2003 và Luật đất đai 2013.
Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất, theo Điều 688 Bộ Luật Dân sự năm 2005:
"2. Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác
được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng
đất;
3. Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác cũng được
xác lập do được người khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật
này và pháp luật về đất đai” [2, tr. 277].
1.1.2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư Nhà nước cấp cho người
sử dụng đất để họ được hưởng mọi quyền lợi hợp pháp về đất đai và được Nhà
nước bảo hộ khi quyền của họ bị xâm hại [24, tr.139].
Qua định nghĩa trên có thể thấy rằng: Giấy chứng nhận QSDĐ là chứng thư
có giá trị pháp lý cao nhất thể hiện quyền của chủ sử dụng và cũng là căn cứ pháp lý
xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất. Trên cơ sở đó
chủ sử dụng đất được công nhận, được hưởng mọi quyền lợi từ đất đai theo quy
định của pháp luật, đồng thời phải thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước
trong quá trình sử dụng đất, tuyệt đối tuân thủ mọi quy định về sử dụng đất do nhà
8
nước đặt ra. Ngược lại, Nhà nước đứng ra bảo hộ quyền lợi hợp pháp của người sử
dụng đất.
- Vai trò của Giấy chứng nhận QSDĐ:
người sử dụng đất được bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước
thu hồi; giúp cho các cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất, yên tâm đầu tư trên mảnh
đất của mình.
Thứ tư, Giấy chứng nhận QSDĐ sẽ cung cấp thông tin đầy đủ nhất làm cơ sở
để xử lý vi phạm, tranh chấp về đất đai.
* Khái niệm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hoạt động của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền thông qua hệ thống pháp luật và hành chính để xem xét công nhận
tính hợp pháp về quyền sử dụng đất của người sử dụng đất, qua đó bảo vệ lợi ích
hợp pháp của các chủ thể và tạo tiền đề phát triển thị trường bất động sản công khai,
lành mạnh.
1.1.3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác
gắn liền với đất
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất [5; tr. 10].
Trải qua các thời kì lịch sử khác nhau, được ban hành bởi nhiều các văn bản
pháp luật để quản lý và sử dụng các tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất như: Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng, cùng các văn
bản hướng dẫn thi hành... giấy chứng nhận qua nhiều thời kì cũng tồn tại với nhiều
tên gọi khác nhau như: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở, các công trình xây dựng; hiện nay thống nhất thành giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với. Dù với nhiều
tên gọi khác nhau nêu trên, song bản chất pháp lý chung nhất của các loại giấy
chứng nhận này đều thể hiện sự xác nhận của Nhà nước về quyền sử dụng hợp pháp
10
của một chủ thể đối với một diện tích đất, một ngôi nhà, một công trình xây dựng
- Khái niệm hộ gia đình sử dụng đất:
“Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống,
nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung
và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công
nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” [5, tr. 12].
- Khái niệm cá nhân sử dụng đất:
Cá nhân sử dụng đất là chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai, được Nhà
nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền
sử dụng đất [2, tr. 204].
1.2. Lý luận pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân
1.2.1. Sự cần thiết của điều chỉnh pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sở
hữu đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình,
cá nhân
1.2.1.1. Đặc điểm của đất ở:
Thứ nhất, Đất ở là loại đất phi nông nghiệp, sử dụng vào mục đích xây dựng
nhà ở, xây dựng các công trình để phục vụ nhu cầu thiết yếu, cơ bản trong cuộc
sống của con người là nhu cầu về chỗ ở hay còn gọi là nơi trú ngụ. Để con người có
thể sống, học tập, lao động và sáng tạo thì một trong các nhu cầu thuộc về tự nhiên
là con người phải có thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, không khí…Con người không
thể sống mà không ngủ, nghỉ ngơi. Vì vậy, đất ở là loại đất mang tính tất yếu cho
cuộc sống con người.
Thứ hai, đất ở mang tính ổn định cao. Theo quy định của Luật đất đai thì đất
ở là một trong những loại đất được Nhà nước cấp cho người sử dụng đất với hình
thức sử dụng là ổn định, lâu dài mà không quy định thời hạn sử dụng. Hay nói cách
khác khi một người được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở thì người đó
12
được Nhà nước bảo hộ quyền sử dụng trong suốt cuộc đời của họ, khi họ mất đi
Thứ năm, đất ở là loại đất có nguồn gốc phức tạp nhất. Tính phức tạp của
nguồn gốc đất ở thể hiện người sử dụng đất ở có quyền sử dụng thửa đất từ nguồn
gốc rất khác nhau như thừa kế, tặng cho, chuyển nhượng, chia tách, được chuyển
đổi từ các loại đất khác, thanh lý, được các Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp,
từ quyết định của bản án…thậm chí do các hộ sử dụng đất lấn chiếm hay được giao
trái thẩm quyền. Do yếu tố lịch sử nước ta thường xuyên có các cuộc chiến tranh
xâm lược, trải qua các chế độ chính trị khác nhau nên có các quy định quản lý về
đất đai khác nhau, tồn tại các loại giấy tờ chứng nhận nguồn gốc đất khác nhau.
Hơn nữa, thời điểm trước năm 1993 việc quản lý đất đai của Nhà nước ta còn gặp
nhiều khó khăn do thiếu cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực… nên không xây dựng được
hệ thống cơ sở dữ liệu về đất đai hoàn thiện vì vậy việc xác nhận nguồn gốc đất ở
cho người sử dụng đất trong một số trường hợp gặp rất nhiều khó khăn. Chính khó
khăn về xác định nguồn gốc đất ở là một trong những nguyên nhân kéo dài thời hạn
xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho người dân.
1.2.1.2. Đặc điểm của giấy chứng nhận sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất
- Giấy chứng nhận QSDĐ ở, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là một
loại giấy tờ được cấp trên cơ sở một quyết định hành chính nên nó mang tính chất
hành chính rõ rệt. Ở nước ta, Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất đối với đất đai
nhưng không trực tiếp khai thác, sử dụng đất mà trao quyền sử dụng cho các tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân thông qua Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất. Vì
vậy, theo quy định của pháp luật đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
một trong những nội dung của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai và Giấy chứng
nhận mang tính chất hành chính.
- Giấy chứng nhận QSDĐ ở, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là văn bản
ghi nhận quyền của hộ gia đình, cá nhân đối với đất ở, nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất. Kể từ khi được cấp giấy chứng nhận, người sử dụng đất ở được phép thực
14
xuyên có sự thay đổi, bổ sung theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng được
yêu cầu công tác này trong tình hình mới.
1.2.1.4. Sự cần thiết có pháp luật điều chỉnh về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân
Pháp luật về cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất tạo ra hành lang pháp lý công khai, minh bạch trong công tác
cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Với những quy định cụ thể về căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp giấy chứng
nhận là cơ sở để Cơ quan quản lý Nhà nước cấp giấy chứng nhận cho người dân đủ
điều kiện, tạo ra sự công bằng, công khai đối với người sử dụng đất.
Thông qua pháp luật về cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất sẽ thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước về đất đai, đảm bảo Nhà nước ghi nhận QSDĐ cho người dân để người dân
phát huy quyền của mình đối với đất đai. Nhà nước thông qua pháp luật thực hiện
được quyền đại diện chủ sở hữu của mình thể hiện ở nguyên tắc, quy hoạch, kế
hoạch phân bổ, sử dụng đất.
Pháp luật về cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ quá trình cấp giấy chứng
nhận cho người sử dụng đất ở, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, có sự phân
công, phân nhiệm một cách rõ ràng, cụ thể thẩm quyền của cơ quan hành chính Nhà
nước và cơ quan chuyên môn trong quản lý Nhà nước về đất đai từ trung ương đến
địa phương, góp phần cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Bên cạnh đó, pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở có vai
trò quan trọng trong việc điều tiết mối quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất
để phát huy tối đa hiệu quả kinh tế - xã hội của đất đai nói chung, đất ở nói riêng đối
với đời sống con người bởi pháp luật tác động trực tiếp, ảnh hưởng đến các chủ thể,
quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ.
17
- Thứ tư, pháp luật điều chỉnh quan hệ cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở, nhà ở
và tài sản gắn liền với đất đòi hỏi đảm bảo ghi nhận và bảo vệ quyền của các chủ
thể tham gia quan hệ pháp luật thông qua việc quy định rõ ràng, cụ thể các quyền
của các chủ thể, cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
- Thứ năm, pháp luật về cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở, nhà ở và tài sản gắn
liền với đất phải có tính dự báo và phòng ngừa rủi ro: Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp
năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp
luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật…”, việc dự báo và phòng ngừa rủi
ro là nhiệm vụ quan trọng của pháp luật. Tính phòng ngừa rủi ro trong pháp luật về
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện ở những quy định chặt chẽ trong
quy trình, căn cứ, thủ tục cấp giấy chứng nhận cho người sử dụng đất.
- Thứ sáu, pháp luật về cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở phải đáp ứng yêu cầu
xây dựng nhà nước pháp quyền và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam.
Quan điểm của Đảng ta hiện nay là xây dựng nước ta trở thành Nhà nước
pháp quyền XHCN, trong đó, yêu cầu quan trọng nhất là phải xây dựng được hệ
thống pháp luật hoàn chỉnh. Pháp luật là thước đo, là chuẩn mực buộc mọi người
phải tuân theo; mọi tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật; tổ chức, cá
nhân và hoạt động của cơ quan Nhà nước dựa trên cơ sở của pháp luật; pháp luật
không chỉ chú trọng bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân và công lý mà
còn đặc biệt chú trọng đến sự bình đẳng, công bằng xã hội. Pháp luật về cấp giấy
chứng nhận QSDĐ ở phải đảm bảo xây dựng được hệ thống các quy phạm pháp luật
hoàn chỉnh, chặt chẽ, quy định cụ thể, chi tiết để thực hiện công tác cấp giấy chứng
nhận QSDĐ.
18