NGUYỄN BÁ ĐÀLUẬT KINH TẾ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
2015 - 2017
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH
NGHIỆP
NGUYỄN BÁ ĐÀ
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH
NGHIỆP
NGUYỄN BÁ ĐÀ
CHUYÊN NGÀNH:
LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ:
60380107
dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn. Xin cảm ơn sự góp ý chân thành của
các thầy giáo, cô giáo Khoa luật kinh tế, phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Viện Đại
Học Mở Hà Nội đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện luận văn.
Xin cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo và các Phòng ban chuyên môn, phòng tài chính và
các đồng nghiệp công ty, doanh nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình thu
thập số liệu và nghiên cứu thực hiện luận văn. Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, những
người thân và bạn bè đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình
thực hiện luận văn.
NGƯỜI VIẾT LUẬN VĂN
NGUYỄN BÁ ĐÀ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ......................................................................................... 4
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài ................................................................................. 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 7
5. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................. 7
6. Những đóng góp mới của luận văn .............................................................................. 8
7. Kết cấu của luận văn .................................................................................................... 8
CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH
NGHIỆP ......................................................................................................................... 10
1.1. Khái niệm và bản chất pháp lý của góp vốn thành lập doanh nghiệp theo pháp luật
Việt Nam ........................................................................................................................ 10
1.1.1. Khái niệm góp vốn ............................................................................................... 10
1.1.2. Bản chất pháp lý của góp vốn .............................................................................. 13
1.2. Khái niệm, phân loại tài sản góp vốn ...................................................................... 14
1.2.1. Khái niệm tài sản góp vốn .................................................................................... 15
3.1. Nhu cầu góp vốn đầu tư sản xuất kinh doanh trong nền KTTT tại Việt Nam ........ 65
3.2. Những định hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động góp vốn thành
lập doanh nghiệp ............................................................................................................ 67
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc góp vốn thành lập doanh
nghiệp tại Việt Nam ....................................................................................................... 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 84
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS năm 2005 - Bộ luật Dân sự năm 2005
Công ty THHH - Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Công ty THHH 1TV - Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty THHH 2TV - Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
KTTT - Kinh tế thị trường
LDN năm 1999 - Luật Doanh nghiệp năm 1999
LDN năm 2005 - Luật Doanh nghiệp năm 2005
LDN năm 2014 - Luật Doanh nghiệp năm 2014
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vốn luôn là một yếu tố nền tảng, tạo cơ sở cho việc xây dựng và phát triển của
một doanh nghiệp.Chính vì thế, một trong những điều kiện để doanh nghiệp có thể khai
sinh là doanh nghiệp đó phải có vốn. Tuy nhiên, tài sản được góp vốn là gì, hình thức
góp vốn đối với mỗi loại hình doanh nghiệp như thế nào, hậu quả pháp lý trong trường
hợp các thành viên không góp vốn đúng cam kết là một trong số các vấn đề pháp luật
cần quy định rõ ràng để đảm bảo cho doanh nghiệp được hình thành và ổn định để phát
triển. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, Luật Doanh nghiệp đã có những
điều khoản nhất định để điều chỉnh.
phát triển kinh tế của đất nước nói chung.
Góp vốn thành lập doanh nghiệp không phải là một khía cạnh mới, nhưng
trong hệ thống các quy định pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, khía cạnh
này tuy đã được quy định nhưng vẫn chưa được đầy đủ, chi tiết và chặt chẽ dẫn tới
nhiều tranh cãi và hiểu sai, hiểu không toàn diện. Mặc dù Bộ Luật Dân sự năm 2014
với tư cách là một đạo luật gốc cho các ngành luật trong đó có Luật Doanh nghiệp,
nhưng bản thân Bộ Luật Dân sự năm 2014 quy định về các vấn đề liên quan đến việc
góp vốn thành lập doanh nghiệp vẫn còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất.
2
Hơn nữa, trong nền KTTT, lĩnh vực kinh tế tư nhân ngày càng được ưu tiên
phát triển. Việc làm ăn kinh doanh của người dân được thực hiện dưới hình thức doanh
nghiệp (pháp nhân) là một điều tất yếu và đang được khuyến khích thúc đẩy. Trong bối
cảnh đó, góp vốn kinh doanh trong nền KTTT ngày càng trở nên phức tạp hơn. Việc
nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định về góp vốn giúp cho các chủ thể kinh
doanh hiểu biết thêm kiến thức pháp luật và dễ dàng quyết định việc góp vốn của mình
một cách an toàn và hiệu quả hơn. Mặt khác, Nền KTTT xuất hiện nhiều yếu tố kinh tế
mới ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp như vấn đề “tài sản ảo”, “giá trị thương
hiệu”, ...những yếu tố này cần phải được hiểu rõ và phải được pháp luật điều chỉnh
theo xu hướng thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Góp vốn thành lập doanh
nghiệp tạo điều kiện cho phát huy nhiều năng lực sản xuất, tạo công ăn việc làm cho
người lao động. Các doanh nghiệp kinh doanh làm giàu cho cá nhân, tổ chức.Dân giàu,
nước mạnh là mục tiêu lớn mà Nhà nước ta luôn quan tâm.
Như vậy, pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp là mảng đề tài đã và
đang được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ.Việc nghiên cứu tổng quát các quy
định pháp luật về vốn, góp vốn, tài sản góp vốn...giúp cho ta nhận thức rõ hơn các quan
điểm, quan niệm về các vấn đề này một cách có hệ thống và qua đó áp dụng vào thực
tiễn một cách có hiệu quả. Qua việc nghiên cứu các quy định này, đặc biệt là quy định
với việc góp vốn thành lập doanh nghiệp.
Ngô Huy Cương (2004) “Hợp đồng góp vốn thành lập công ty” Luận án tiến sỹ
luật học. Luận án đã cho ta cái nhìn tổng quát, có hệ thống lý luận pháp luật về Hợp
đồng thành lập công ty hiện nay ở Việt Nam. Luận án cũng đã phân tích và đánh giá
một cách tương đối có hệ thống hiện trạng pháp luật về hợp đồng thành lập công ty
4
cũng như đưa ra những định hướng giải pháp cụ thể nhằm xây dựng chế định hợp đồng
thành lập công ty ở Việt Nam hiện nay và cách thức xây dựng chế định này, những nội
dung pháp lý chủ yếu và việc pháp điển hoá nó trong Bộ Luật dân sự năm 2005.
Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), “Công ty, vốn, quản lý và
tranh chấp theo luật doanh nghiệp năm 2005” Cuốn sách đáp ứng được các yêu cầu
mới từ khi Luật doanh nghiệp năm 2005 ban hành như: Những khái niệm và định chế
đã tồn tại ở các nước đã khá lâu mà nay do nhu cầu hội nhập chúng ta bị buộc phải đem
vào; việc thực hiện Luật Công ty kể từ năm 1990 đến nay đã để lại một số thực tiễn mà
bây giờ có thể trình bày để độc giả có thông tin áp dụng trong hoàn cảnh của mình;
Cuốn sách cũng đưa ra những sửa đổi của Luật doanh nghiệp năm 2005 so với Luật
doanh nghiệp năm 1999.
Phạm Tuấn Anh (2009), “Góp vốn thành lập công ty theo pháp luật Việt Nam”
Luận văn thạc sỹ luật học. Luận văn đã nghiên cứu một cách khái quát, có hệ thống các
vấn đề pháp lý về vốn góp, hình thức góp vốn, thực trạng pháp luật Việt Nam về vấn
đề góp vốn... dựa trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành về góp vốn thành lập
doanh nghiệp và trên cơ sở tham khảo pháp luật của một số nước về vấn đề này, Luận
văn cũng đã đưa ra được một số định hướng cơ bản nhằm giải quyết tồn tại của pháp
luật về góp vốn thành lập công ty tại Việt Nam.
Hồng Vân (2009), “Góp vốn bằng quyền sử dụng đất tại Việt Nam”, Luận văn
thạc sỹ Luật học. Luận văn đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận của pháp luật
về góp vốn nói chung và pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng đất nói
bằng
giá
trị
thương
hiệu”,
Websiet
http://
www.bsc.com.vn/new/2010/6/19;
Như vậy, pháp luật về doanh nghiệp là mảng đề tài được nhiều giới khoa học
quan tâm nghiên cứu.Trên cơ sở thừa kế những thành quả nghiên cứu của các công
trình đi trước, luận văn đi vào nghiên cứu sâu khía cạnh góp vốn thành lập doanh
nghiệp tại Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Luận văn đặt mục đích nghiên cứu là góp một phần xây dựng cơ sở lý luận về
vấn đề góp vốn thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam, đồng thời kiến nghị một số giải
pháp cơ bản cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này.
Với mục đích trên, Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:
6
Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận của pháp luật Việt Nam về góp vốn thành lập
doanh nghiệp.Luận văn phân tích, bình luận nhằm làm rõ các yếu tố chủ yếu của các
khái niệm như vốn, góp vốn, tài sản góp vốn.
Pháp luật việt Nam về góp vốn thành lập doanh nghiệp là một mảng đề tài
rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực tài sản, đất đai, đầu tư, thương mại,...Khi tiếp cận
nghiên cứu, luận văn đi sâu vào những vấn đề có tính chất nguyên tắc và các nội dung
mang tính đặc thù.
Dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu đó, luận văn đã nghiên cứu để làm sáng tỏ
hơn một số vấn đề về lý luận và thực tiễn như: (i) lý luận về các khái niệm vốn, góp
vốn, tài sản, quyền tài sản, quyền sở hữu. Từ những khái niệm cơ bản này, luận văn đã
tiếp cận thực trạng các quy định pháp luật về góp vốn. Trong đó, luận văn đi sâu hơn
phân tích, bình luận một số hình thức góp vốn đang có xu hướng phát triển phổ biến
hiện nay nhưng các quy định pháp luật về nó chưa đầy đủ và còn nhiều tranh cải như:
7. Kết cấu của luận văn
Hình thức góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sử dụng đất, hình thức
góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, hình thức góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng
thương hiệu; (ii) luận văn đã chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến thực trạng nêu trên như
do chưa có quan điểm thống nhất về vị trí vai trò cũng như cần làm rõ một số khái niệu
về tài sản được nêu trong của Bộ luật dân sự năm 2015; một số vấn đề về góp vốn
thành lập doanh nghiệp quy định trong luật doanh nghiệp năm 2014 còn nhiều hạn chế
8
như quy định về các hình thức, tài sản góp vốn, việc định giá tài sản góp vốn và các
vấn đề về tài sản khi giải thể, phá sản doanh nghiệp,…(iii) luận văn cũng đưa ra được
những giải pháp nhằm khắc phục thực trạng còn tồn tại của pháp luật về góp vốn thành
lập doanh nghiệp nói chung, pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền
sử dụng đất nói riêng như giải pháp về hoàn thiện các quy định của pháp luật, giải pháp
về tăng cường năng lực cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến góp vốn
thành lập doanh nghiệp; giải pháp nâng cao sự hiểu biết pháp luật của người dân và văn
hóa pháp lý của doanh nghiệp.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương sau:
Chương I. Những vấn đề lý luận cơ bản về góp vốn thành lập doanh nghiệp.
Về phương diện pháp lý: Vốn được hiểu và gắn liền với quyền và trách nhiệm
của chủ thể góp vốn, vốn có thể là một điều kiện bắt buộc để thành lập và kinh doanh
trong một số ngành nghề kinh doanh nhất định.
Về phương diện kinh tế: Vốn là một yếu tố không thể thiếu tham gia vào quá
trình kinh doanh dưới dạng tài sản để mang lại giá trị thặng dư; Vốn là một trong
những nhân tố quan trọng hàng đầu trong kinh doanh và sản xuất. Nếu không gắn kết
vốn với các yếu tố khác của công ty thì công ty mới không thể kinh doanh và sản xuất
tốt được. Khi tiếp cận nghiên cứu từ góc độ tài chính, vốn là tổng số tiền hay tổng số
tài sản do các cổ đông, thành viên đóng góp và họ được nhận cổ tức chia theo tỷ lệ góp
vốn hoặc cổ phiếu mà họ đầu tư. Ở Việt Nam, trong thời kỳ kinh tế bao cấp, vốn không
được phân biệt theo tính chất pháp lý và nhìn nhận ở phương diện kinh tế một cách rõ
nét, vốn được hiểu và được gọi theo cách gắn liền với chủ thể quản lý và cung cấp như:
Vốn ngân sách nhà nước, vốn vay ngân hàng, vốn tự có,...
Bước sang thời kỳ kinh tế mở cửa (sau năm 1986), với chủ trương phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà
nước đã quan tâm đến nền kinh tế tư nhân. Song nhìn chung trong thời gian đầu vẫn
mang màu sắc quan điểm về vốn như thời kỳ bao cấp. Luật Công ty và Luật doanh
nghiệp tư nhân năm 1991 ra đời đề ra vốn pháp định cho mọi ngành nghề kinh
doanh.Vốn là điều kiện và phương tiện bắt buộc để kinh doanh.Không có vốn, doanh
nghiệp không thể thành lập. Việc pháp luật quy định như vậy cũng xuất phát từ một số
nguyên nhân chủ yếu như đã có nhiều xí nghiệp, doanh nghiệp ra đời mà không có
đồng vốn nào, chỉ có tên gọi và con dấu để hoạt động, ký kết rất nhiều hợp đồng rồi
lâm vào tình trạng nợ nần, phá sản, gây thiệt hại kinh tế cho nhiều người. Luật Công ty
năm 1991 ra đời đã quy định vốn là điều kiện và phương tiện kinh doanh nhằm ngăn
ngừa hành vi lừa đảo trong kinh doanh. [13; tr124-126]
11
Quan niệm coi đồng vốn là điều kiện và phương tiện kinh doanh như vậy dẫn
vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất,
giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong
điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”.
Theo Điều 4 khoản 4 Luật Doanh nghiệp 2005: “Góp vốn là việc đưa tài sản
vào công ty để trở thành chủ sở hữu chung của Công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền
Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở
hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong điều lệ công ty do
thành viên công ty góp để tạo thành vốn của Công ty”.
Và đến Luật Doanh nghiệp 2014, khái niệm góp vốn được định nghĩa ngắn
gọn: “là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn bao gồm góp
vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được
thành lập”.
Như vậy, so với Luật Công ty năm 1991, LDN năm 1999 và LDN năm 2005,
Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định khái niệm góp vốn một cách xúc tích hơn bằng
việc nhấn mạnh vào mục đích của việc góp vốn và chỉ ra hai hình thức góp vốn vào
doanh nghiệp căn cứ vào thời điểm và góp vốn.
1.1.2. Bản chất pháp lý của góp vốn
Để hình thành một công ty, việc góp vốn của các chủ thể là nội dung quan
trọng có tính chất quyết định trong các vấn đề thủ tục thành lập công ty.Việc góp vốn
nhằm tạo ra cơ sở đầu tiên cho bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào, khi có
vốn doanh nghiệp mới có thể thuận lợi hơn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh.Vốn là điều kiện cần để doanh nghiệp tiến hành khởi sự các hoạt động sản xuất,
13
kinh doanh.Việc góp vốn này là nguồn gốc của mọi quyền lợi cũng như nghĩa vụ của
các thành viên trong công ty sau này.Có thể nói, trong các quy định về thủ tục thành
lập doanh nghiệp thì các quy định về vốn, góp vốn quan trọng nhất, thậm chí có ý
nghĩa quyết định.Góp vốn có thể nói là “linh hồn” của một hợp đồng thành lập công ty.
Về bản chất, góp vốn là hành vi pháp lý nhằm đưa tài sản của mình vào một
Khái niệm tài sản quy định trong BLDS năm 2015 đã mở rộng hơn BLDS năm
1995 về đối tượng nào được coi là tài sản, không chỉ những “vật có thực” mới được coi
là tài sản mà cả những vật hình thành trong tương lai cũng có thể được coi là tài sản.
BLDS năm 2015 định nghĩa trực tiếp vật hình thành trong tương lai tại Khoản
2 Điều 108 như sau: “Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:
a) Tài sản chưa hình thành;
b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời
điểm xác lập giao dịch.”
Quy định này đã khẳng định tài sản bao gồm cả vật hình thành trong tương
lai.Trong lịch sử nghiên cứu khoa học pháp luật về tài sản, đã có rất nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu và đã có những đóng góp, những cống hiến rất to lớn cho nền khoa học
pháp lý nước ta. TS. Nguyễn Ngọc Điện là một trong số các tác giả đó. Cuốn sách
“Nghiên cứu về tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam” NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí
Minh năm 1999 có thể được coi là một trong những “dấu ấn” đầu tiên nghiên cứu pháp
15
luật về tài sản một cách có hệ thống trong lịch sử nghiên cứu lập pháp tại Việt Nam.
Theo tác giả tài sản được hiểu theo hai cách:
Một là, theo phương diện pháp lý, tài sản là của cải được con người sử dụng.
Hai là, trong ngôn ngữ thông dụng thì tài sản là một vật cụ thể được con người
nhận biết và sử dụng, có tài sản vô hình hữu hình, tài sản vô hình.Nhưng dù tồn tại ở
bất cứ dạng nào thì chúng đều có thể được sở hữu, tức là phải thuộc riêng về một chủ
thể nào đó. [27; Tr 5-6]
Ngoài ra, khi bàn về tài sản, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề
này. Dưới đây là một số quan điểm chủ yếu:
Có quan điểm cho rằng, tài sản là đối tượng của quyền sở hữu. Hiểu theo quan
điểm này muốn hiểu tài sản là gì thì ta phải hiểu quyền sở hữu là gì. Tuy nhiên, tại
Khoản 1 Điều 158 BLDS năm 2015 đưa ra khái niệm về quyền sở hữu ″Quyền sở hữu
quản lý được thì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và mới có thể trở thành một tài
sản được pháp luật điều chỉnh.
Hai là, tiền theo quy định tại Điều số 163, BLDS năm 2005 (Nay là Điều 105
BLDS 2015), tiền là một trong những loại tài sản. Có thể đồng ý với quan điểm khi
phân biệt đặc điểm pháp lý khác nhau giữa tiền với vật. Hai loại tài sản này khác nhau
ở những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất: vật có thể do nhiều chủ thể khác nhau tạo ra, còn tiền thì chỉ có Nhà
nước độc quyền phát hành. Ở mỗi một quốc gia khác nhau, Nhà nước ban hành một
loại tiền nhất định và được coi là đại diện cho chủ quyền của một quốc gia.
17
Thứ hai: đối với vật thì chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính
vật đó (ví dụ dùng nhà để ở,...). Tiền thực hiện ba chức năng chính là: Công cụ thanh
toán đa năng, công cụ tích luỹ tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác. Khái
niệm quyền sử dụng chỉ được áp dụng cho vật chứ không áp dụng cho tiền. Việc sử
dụng tiền vào các hoạt động kinh doanh hay tiêu dùng như mua bán tài sản, cho vay,
góp vốn...đều được hiểu là hành vi định đoạt tiền (chuyển giao quyền sở hữu tiền cho
chủ thể khác)
Thứ ba: vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường thông dụng,
còn tiền lại được xác định theo mệnh giá của đồng tiền đó.
Thứ tư: chủ sở hữu có toàn quyền sở hữu đối với vật và có thể thực hiện ba
quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt vật đó, nếu việc thực hiện các quyền đó không
ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của các chủ thể khác.
Nhưng người có tiền (chủ sở hữu) không thể thực hiện quyền sở hữu đối với tiền như
là đối với các tài sản thông thường khác được, mà phải tuân thủ các quy định nghiêm
ngặt của Nhà nước.
Ba là, về giấy tờ có giá, Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam số
46/2010/QH12 ngày 16/6/2010 đã quy định các giấy tờ có giá tuy có giá trị như tiền nhưng