SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HOẰNG HÓA 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY CÁC GIỜ HỌC
TIẾNG ANH CHO HỌC SINH LỚP 10 THÔNG QUA
VIỆC ĐỔI MỚI KIỂM TRA MIỆNG
Người thực hiện: Lê Thị Tuyến
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Hoằng Hóa 2
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Anh
THANH HÓA, NĂM 2018
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là
một khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh kiến
thức kĩ năng của học sinh.
Đối với học sinh, nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, kiểm tra đanh giá
có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng. Qua kết quả kiểm
tra, học sinh tự đánh giá mức độ đạt được của bản thân, để có phương pháp tự mình
ôn tập, củng cố, bổ sung nhằm hoàn thiện học vấn với hệ thông thao tác tư duy của
chính mình.
Đối với giáo viên, kết quả kiểm tra, đánh giá giúp mỗi giáo viên tự đánh giá
quá trình giảng dạy của mình. trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn thiện
mình về trình độ chuyên môn, về phương pháp giảng dạy.
Kết quả kiểm tra đánh giá còn giúp các nhà quản lí giáo dục có cơ sở để xây
dựng đội ngũ giáo viên, xây dựng phương hướng đổi mới nội dung, phương pháp
Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì mà
còn dạy học như thế nào. Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách
có tính chất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học
đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chương trình sách
giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến kiểm tra đánh kết quả dạy học. Kiểm tra
đánh giá có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo. Hoạt động dạy
và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm tạo ra
hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện ở chất lượng học tập của học sinh. Kiểm tra
thường xuyên giúp cho giáo viên điều chỉnh, bổ sung những kiến thức, kỹ năng,
thái độ mà môn học đề ra đồng thời sẽ giúp cho học sinh hình thành được động cơ,
thái độ học tập đúng đắn từ đó tích lũy được kiến thức, kỹ năng cần thiết.
Kết quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt
động học và quản lý giáo duc. Nếu kiểm tra đánh giá sai dẫn đến nhận định sai về
chất lượng đào tạo gây tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Vậy đổi
mới kiểm tra đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã
hội ngày nay. Kiểm tra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp
người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập. Chính vì vậy,
để thực hiện một cách hiệu quả quá trình kiểm tra đánh giá, mỗi giáo viên cần phải
hiểu rõ và nắm vững một số kiến thức liên quan đến quá trình kiểm tra đánh giá.
I.1. Kiểm tra đánh giá trong qúa trình dạy học là gì?
Kiểm tra đánh giá được hiểu là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối
với người học nhằm thu những thông tin cần thiết để đánh giá. "Đánh giá có nghĩa
là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tập hợp
các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo một
mục đích nào đó" (J.M.De Ketele)
I.1.1. Kiểm tra
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa kiểm tra là xem xét
thực chất, thực tế. Theo Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, kiểm tra là soát xét lại
công việc, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét. Còn theo
Trần Bá Hoành, kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho
Trong quá trình dạy học, có bốn hình thức kiểm tra sau đây:
- Kiểm tra miệng
- Kiểm tra 15 phút
- Kiểm tra 45 phút
- Kiểm tra cuối học kì
I.2.2. Các hình thức đánh giá
Trong quá trình dạy học, có ba hình thức đánh giá chủ yếu sau đây:
- Đánh giá chẩn đoán: Được tiến hành trước khi dạy một chương hay một vấn đề
quan trọng nào đó giúp cho giáo viên nắm được tình hình những kiến thức kiên
quan có trong học sinh, những điểm học sinh nắm vững, những lỗ hổng cần bổ
khuyết... để quyết định cách dạy cho thích hợp.
- Đánh giá từng phần: Được tiến hành nhiều lần trong giảng dạy nhằm cung cấp
nhưng thông tin ngược để giáo viên và học sinh kịp thời điều chỉnh cách dạy và
cách học, ghi nhận xét kết quả từng phần để tiếp tục thực hiện chương trình một
cách vững chắc.
- Đánh giá tổng kết và đưa ra quyết định: Được tiến hành khi kết thúc môn học,
khóa học bằng những kì thi nhằm đánh giá tổng quát kết quả học tập, đối chiếu với
những mục tiêu đề ra, từ đó quyết định những biện pháp cụ thể để giảng dạy và
giúp đỡ học sinh
I.3. Những yêu cầu sư phạm khi đánh giá kết quả học tập của học sinh
Khi đánh giá cần phải tuân thủ những yêu cầu sau:
Đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu dạy học.
Công cụ đánh giá phải đảm bảo mức độ chính xác nhất định.
Đánh giá phải mang tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và công khai.
Đánh giá phải đảm bảo tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ đánh giá.
I.4. Những nguyên tắc để đánh giá kết quả học tập của học sinh
Để đánh giá kết quả học tập cần dựa vào những nguyên tắc sau đây
4
cảnh thoải mái, học sinh cảm thấy tự nguyện, không lo lắng hay sợ sệt.
- Không nên đặt những câu hỏi mà bản thân giáo viên không thể trả lời một cách
chắc chắn được.
I.5. Cơ sở đánh giá kết quả học tập của học sinh
Để đánh giá kết quả học tập của học sinh cần dựa vào những cơ sở sau đây:
- Mục tiêu môn học
- Mục đích học tập
- Mối quan hệ giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá kết quả
học tập.
Giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá kết quả học tập có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu mục tiêu của môn học và mục đích học tập
được xác định đúng đắn thì chúng hỗ trợ cho nhau trong việc đánh giá, đạt được
yêu cầu đề ra của công việc đánh giá kết quả học tập của học sinh. Mục tiêu của
môn học và mục đích học tập là cơ sở cho việc xác định nội dung chương trình,
5
phương pháp và quy trình dạy học và học tập. Đồng thời nó cung là cơ sở để chọn
phương pháp và quy trình đánh giá kết quả học tập của học sinh. Đánh giá kết quả
học tập dựa trên tiêu chí của mục tiêu dạy học sẽ nhận được thông tin phản hồi
chính xác nhằm bổ sung, hoàn thiện quá trình giáo dục.
I.6. Quy trình của việc đánh giá kết quả học tập
- Căn cứ vào mục tiêu dạy học và mục đích học tập để xác định mục tiêu đánh giá;
- Lượng hóa các mục tiêu dạy học để đặt ra các mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ
năng, thái độ... nhằm xác định nội dung và các tiêu chí đánh giá;
- Lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu, nội dung đã đề ra trên cơ
sở các đặc điểm của đối tượng được đo lượng, thẩm định và trên cơ sở hoàn cảnh
xã hội;
- Soạn thảo công cụ: Viết câu hỏi, đặt bài toán dựa trên mục tiêu đề ra và nội dung
thường không phát huy được vai trò và ý nghĩa quan trọng của nó trong quá trình
6
dạy học nói chung và quá trình kiểm tra đánh giá nói riêng. Một số giáo viên thì
vẫn thực hiện kiểm tra miệng theo cách truyền thống, thường là gọi 1 hoặc 2 học
sinh lên bảng trả lời câu hỏi. Việc này vừa tốn nhiều thời gian, lại gây tâm lý căng
thẳng cho học sinh hơn nữa lại không thể kiểm tra được nhiều em cùng một lúc. Vì
vậy không thể đánh giá được khả năng của học sinh. Một số giáo viên thì ngày nào,
tiết nào cung lặp đi, lặp lại duy nhất một yêu cầu kiểm tra miệng. Thậm chí có một
số giáo viên dường như bỏ qua công việc kiểm tra miệng trong các tiết học.
Tất cả những yếu tố trên làm cho học sinh lười nhác, thụ động trong học tập,
dẫn đến chất lượng dạy và học không cao.
Từ việc nhận thức rõ thực trạng trên đây, tôi đã dành thời gian tìm hiểu,
nghiên cứu, trăn trở tìm ra những biện pháp mới trong khâu kiểm tra miệng tại các
tiết dạy Tiêng Anh, tạo ra những thay đổi đáng kể trong quá trình đánh giá học sinh,
thúc đẩy quá trình dạy học bộ môn Tiengs Anh theo hướng tích cực, từ đó nâng
cao chất lượng giao dục ở trường tôi nói chung.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
Kiểm tra miệng là hình thức kiểm tra đầu tiên, cơ bản trong bốn hình thức
kiểm tra của quá trình kiểm tra đánh giá. Kiểm tra miệng cung cấp cơ sở ban đầu
nhưng lại mang tinh chất thường xuyên cho quá trình kiểm tra đánh giá. Việc đổi
mới kiểm tra miệng ngay tại lớp không những giúp không khí học tập sinh động mà
còn giúp học sinh tránh được việc học vẹt, học thụ động, học đối phó từ đó phát
huy được tính tích cực, chủ động của học sinh và đem lại hiệu quả cao trong giảng
dạy và học tập.
Để kiểm tra miệng đạt được hiệu quả tối đa, tôi đã tổ chức thực hiện những
giải pháp sau đây:
III.1. Đổi mới khâu chuẩn bị cho kiểm tra miệng.
cùng cho học sinh.
Thái độ và cách đối xử của giáo viên với học sinh có ý nghĩa to lớn trong khi
kiểm tra miệng. Giáo viên cần biết lắng nghe câu trả lời, biết theo dõi hoạt động
8
của học sinh và trên cơ sở đó rút ra kết luận về tình trạng kiến thức của học sinh.
Sự hiểu biết của giáo viên về cá tính học sinh, sự tế nhị và nhạy cảm sư phạm trong
nhiều trường hợp là những yếu tố cơ bản giúp thấy rõ thực chất trình độ kiến thức
và kỹ năng của học sinh được kiểm tra
Trong quá trình học sinh đang trả lời câu hỏi có thiếu sót hoặc sai, nếu không
có lí do gì cần thiết giáo viên cũng không nên ngắt lời của học sinh. Cùng là một
sai sót nhưng giáo viên phải biết sai sót nào nên sửa ngay và sai sót nào thì nên đợi
học sinh trả lời xong
Khi tổ chức kiểm tra thì giáo viên phải giải quyết các khó khăn lớn sau đây:
khi một hay vài học sinh được chỉ định lên bảng thì các học sinh khác trong lớp cần
phải làm gì và làm như thế nào. Giáo viên gọi nhiều em cùng một lúc, đưa ra yêu
cầu khác nhau phù hợp với trình độ của mỗi học sinh sau đó đặt các câu hỏi cho cả
lớp sau khi các học sinh này hoàn thành xong nhiệm vụ của mình như sau:
“ Bạn trả lời như vậy có đúng không?” “Các em có đồng ý với câu trả lời đó của
bạn không?” “ Có điểm nào sai hoặc thiếu không ?”… Ngoài những câu cơ bản,
giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi phụ trong quá trình kiểm tra miệng. Nhờ
những câu hỏi bổ sung đó mà giáo viên có thể hình dung được chất lượng kiến
thức của học sinh.
III.5. Đổi mới cách cho điểm và ghi điểm.
Tôi chuẩn bị cho mỗi lớp mình dạy một sổ điểm miệng riêng. Tôi chia sổ
thành 3 cột: M1, M2 và M
- Cột M1 dùng để ghi điểm cho học sinh trực tiếp lên bảng để trả lời câu hỏi hoặc
làm bài tập.
9
8
5
Lê Thị Ánh
7
7
7
6
Nguyễn Trọng Chiến
9
9
9
7
Cao Văn Chính
8
10
9
8
Lê Đình Dũng
6
8
7
9
Lê Ngọc Dũng
10
8
9
10
Lê Thùy Dương
8
Cách 1: Gọi một lượt 4 học sinh lên bảng. Giáo viên đưa ra câu hỏi chung
cho tất cả, học sinh nào trả lời được trước thì giáo viên cho phép. Các học sinh còn
lại sẽ trả lời các câu hỏi phụ hoặc bổ sung cho bạn trả lời trước
Ví dụ: Kiểm tra từ vựng của tiết Reading Unit 10- English 10
Yêu cầu mà GV đưa ra: “ Write a word in English that means : ô nhiễm”
HS 1 : đưa từ (polluted)
HS 2 : xác định từ loại (adjective)
HS 3 : đưa ra từ đồng nghĩa (contaminated)
Hs 4: đưa ra từ trái nghĩa ( clean)
Với cách này học sinh sẽ bớt đi tâm lý lo sợ, e ngại khi kiểm tra miệng và có được
nhiều sự lựa chọn hơn
Cách 2: Gọi 8 học sinh lên ngồi các dãy bàn đầu, mỗi học sinh mang theo 1
tờ giấy có đánh số thứ tự từ 1 đến 10, những học sinh trong lớp còn lại sẽ dùng vở
nháp để ghi các từ do giáo viên yêu cầu
GV đọc các từ lần lượt từ 1 đến 10 bằng tiếng Việt và yêu cầu học sinh ghi
các từ đó tương ứng bằng tiếng Anh
Sau đó thu bài của 8 em này và 1 vài bài của các em ngồi bên dưới để chấm điểm.
Mỗi từ đúng tương ứng với 1 điểm. Cũng bằng cách này , GV cũng có thể kiểm tra
phần Pronunciation của học sinh bằng cách phát các handouts có một số từ và yêu
10
cầu học sinh chọn từ có phần gạch chân đọc khác với các từ còn lại hoặc chọn từ có
trọng âm khác với các từ còn lại.
III.7.2. Đối với tiết học Reading
Ngay trong các hoạt động While- Reading , giáo viên cũng có thể kiểm tra để lấy
điểm miệng.
Ví dụ 1: Khi dạy phần "Reading" ( Unit 1 - English 10)
Tôi sử dụng ngay phần "task 1" để kiểm tra lấy điểm miệng. Vì hoạt động này
cầu học sinh thực hành theo cặp, một em hỏi và một em trả lời. Trong thời gian các
em đang thực hành, tôi có thể đi quanh để giúp đỡ các em nếu thấy cần thiết. Sau
khoảng 8- 10 phút tôi gọi một số cặp đứng lên thực hành, sau đó nhận xét và cho
điểm
III.7.4. Đối với tiết học Listening:
11
Đây là kỹ năng khó vì vốn từ của các em còn hạn chế và các em cũng không
quen với giọng người bản xứ nên kiểm tra các em kỹ năng này ngay trong giờ bài
mới là rất khó thực hiện. Thay vào đó, tôi sẽ kiểm tra miệng các em thông qua hình
thức vấn đáp để vừa kiểm tra được kỹ năng nghe, nói vừa kiểm tra được kiến thức
mà các em học được từ bài cũ.
Việc kiểm tra này được thực hiện vào đầu của tiết học sau:
Cách thực hiện: Gọi học sinh để trả lời một câu hỏi mà các em đã được học và củng
cố rất kỹ trong tiết trước (5 điểm), câu thứ hai em chọn một bạn ( đang ngồi dưới
lớp) hỏi em một câu trong bài rồi trả lời (2 điểm) , Câu thứ 3 do chính em học sinh
này hỏi một bạn khác ( đang ngồi dưới lớp) (3 điểm). Số điểm mà em học sinh này
đạt được sẽ được ghi vào cột M1, Số điểm mà 2 học sinh khác do đặt câu hỏi đúng
hoặc trả lời đúng sẽ được ghi vào cột M2.
Ví dụ: Kiểm tra miệng tiết Listening Unit 1- English 10.
Các câu hỏi được dùng để kiểm tra miệng( đã học trong tiết trước)
1. What does Mr.Lam do?
2. Who is Mr. Lam’s first passenger?
3. Where does he have lunch?
4. Where does he take a rest?
Rõ ràng cách kiểm tra trên đã theo hướng đổi mới kiểm tra đánh giá: phát huy
tính chủ động sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện để kích thích tư duy, tính năng
động về mọi hoạt động ở trên lớp, giảm “người thầy là trung tâm” mà tăng cường
Exercise 1: Choose the best option
1. He is ……….than his brother
a. tall
b. more tall
c. taller
d. taller than
2. Lan is as............as Mai
a. careful
b. carefully
c. more careful d. careful than
3. This book is………than that one.
a. gooder
b. best
c. better
d. more good
4. Mai is …………….in her class.
a. more hard-working
b. most hard-working
c. the more hard-working
d. the most hard-working
+ Đối với tiết học bám sát ( củng cố và ôn tập)
Áp lực thời gian trong tiết "Language Focus" là rất lớn vì vừa phải đảm bảo
phần "pronunciation" vừa phải đảm bảo phần "Grammar" nên thời gian dành cho
việc kiểm tra học sinh bị hạn chế. Vì vậy tiết học bám sát này là cứu cánh cho tiết
học Language Focus và một số tiết học Writing.Với tiết này sẽ giúp cho học sinh có
điều kiện ôn tập, củng cố và rèn luyện kỹ năng giải bài tập về ngữ âm và ngữ pháp
cũng như phần biến đổi câu ( đây là phần được gặp rất nhiều trong các đề thi, kiểm
tra định kỳ)
Trong tiết này tôi sẽ phát bài tập gồm 10 câu trắc nghiệm khách quan cho cả
lớp làm trong 10 phút, đồng thời gọi 2 học sinh lên bảng, mỗi em làm 3 câu tự luận
học sinh
42
8-10
điểm
12
6-7
điểm
25
4-5
điểm
5
1-3
điểm
0
0
điểm
0
Số liệu thống kê điểm trung bình môn học kỳ II năm học 2017 - 2018:
Lớp
Tổng số
8.0 trở 6.5 -7.9 5.0-6.4 3.5-4.9 0-3.4
học sinh
lên
0
1-3
điểm
0
0
điểm
0
Số liệu thống kê điểm trung bình môn học kỳ II năm học 2017-2018
Lớp
10B5
Tổng số
học sinh
42
8.0 trở
lên
7
6.5 -7.9
30
5.0-6.4 3.5-4.9 0-3.4
5
0
Tuy nhiên để áp dụng những cải tiến này một cách hiệu quả, đòi hỏi sự chuẩn
bị rất chu đáo của giáo viên. Giáo viên phải thiết kế lại các Exercise, các Task
trong sách giáo khoa và ra thêm các dạng bài tập sát với các đề kiểm tra, đề thi.
Ngoài ra giáo viên phải đánh giá thật công bằng, khách quan, thái độ cư xử phải tế
nhị, khuyến khích, động viên các em kịp thời và phải nhạy cảm về mức độ khó dễ của cau hỏi khi đưa ra cho từng đối tượng học sinh. Trong khi kiểm tra bài của
học sinh thì giáo viên phải có cách để thu hút được các học sinh khác cùng tham
gia để giải quyết vấn đề, tránh tình trạng giáo viên hỏi đáp với một người. Giáo
viên đặt hệ thống câu hỏi để cho cả lớp cùng suy nghĩ và huy động kiến thức, như
thế thì có khả năng kiểm tra trình độ hiểu biết của các học sinh trong lớp.
Qua thực tế giảng dạy và thực hiện đề tài này tôi xin được kiến nghị một số
việc như sau:
- Chương trình sách giáo khoa nên được giảm tải để giáo viên có thời gian hơn
trong việc kiểm tra miệng học sinh
- Hình thức đánh giá và thi cử nên được cải tiến, các đề kiểm tra không nên 100%
trắc nghiệm, vì như vậy sẽ không đánh giá được các kỹ năng Speaking, Writing..
của học sinh. Qua đó hạn chế tính ỷ lại, lười nhác của học sinh trong việc tích luỹ
kiến thức, kỹ năng, từ vựng….đồng thời giúp học sinh thấy được kết quả phản ánh
đúng với khả năng thực của các em.
Trên đây là những đổi mới mà tôi đã mạnh dạn áp dụng trong quá trình kiểm tra
miệng cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra đánh giá nói riêng và chất
lượng dạy học nói chung. Rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các đồng
nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
15
Hoằng Hóa, ngày 30 tháng 5 năm 2018
Người viết sáng kiến
Lê Thị Tuyến