BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
LÊ THỊ KIM DUNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐIỆN NÃO ĐỒ
Ở CÁC BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
Chuyên ngành : Y Học Chức Năng
Mã số : 60 72 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN ĐÌNH TOÀN
HUẾ, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ y học “Nghiên cứu đặc điểm
Điện não đồ ở các bệnh nhân tai biến mạch máu não điều trị tại
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế ” là công trình nghiên
cứu của cá nhân tôi. Các số liệu trong luận văn hoàn toàn là số liệu
trung thực.
Huế, ngày 10 tháng 10 năm 2017
Người cam đoan
Lê Thị Kim Dung
: Tăng huyết áp
- XHN
: Xuất huyết não
- WHO
: World Health Organisation
(Tổ chức Y tế thế giới)
- WSO
: World Stroke Organization
(Tổ chức Đột quỵ não Thế giới)
- YTNC
: Yếu tố nguy cơ
Các ký hiệu
: Thành phần sóng alpha trong tín hiệu điện não
: Thành phần sóng beta trong tín hiệu điện não
: Thành phần nhịp muy trong tín hiệu điện não
: Thành phần sóng theta trong tín hiệu điện não
: Thành phần sóng delta trong tín hiệu điện não
MỤC LỤC
Bảng 2.2. Phân loại mức tăng huyết áp Theo Hội tim mạch học Việt Nam .. 27
Bảng 3.1. Đặc điểm CT Scan sọ não............................................................... 35
Bảng 3.2. Mối tương quan giữa kích thước tổn thương trên phim CT Scanner
với bất thường trên kết quả Điện não đồ ........................................................ 37
Bảng 3.3. Liên quan giữa đặc điểm Điện não đồ và các Yếu tố nguy cơ ...... 40
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Phân loại bệnh nhân nghiên cứu theo giới .................................. 31
Biểu đồ 3.2 Phân loại bệnh nhân nghiên cứu theo tuổi .................................. 31
Biểu đồ 3.3 Phân loại bệnh nhân nghiên cứu theo địa dư............................... 32
Biểu đồ 3.4 Phân loại bệnh nhân nghiên cứu theo ngành nghề ...................... 32
Biểu đồ 3.5 Phân loại bệnh nhân theo mức độ tăng huyết áp ......................... 33
Biểu đồ 3.6 Phân loại bệnh nhân theo thang điểm Glasgow .......................... 33
Biểu đồ 3.7 Phân loại bệnh nhân nghiên cứu theo đặc điểm Điện não đồ ..... 34
Biểu đồ 3.8 Tương quan giữa đặc điểm ĐNĐ và kích thước tổn thương
nhồi máu .......................................................................................................... 38
Biểu đồ 3.9 Liên quan bệnh nhân TBMMN với một số yếu tố nguy cơ ........ 39
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1. Máy đo điện não đồ ........................................................................... 9
Hình 1.2. Các loại sóng điện não ................................................................... 10
Hình 1.3. Sóng alpha ....................................................................................... 10
Hình 1.4. Sóng beta ......................................................................................... 11
Hình 1.5. Nhịp Muy Rolando.......................................................................... 11
Hình 1.6. Sóng theta ........................................................................................ 12
Hình 1.7. Sóng delta ........................................................................................ 12
Do vậy, để có thể theo dõi tốt được tiến triển của bệnh nhân bị tai biến mạch
máu não, người ta nên phối hợp hai phương pháp này với nhau.
Ghi điện não đồ là một thăm dò chức năng điện sinh lý quan trọng, đã
được sử dụng trong lĩnh vực Sinh lý học, Nội thần kinh, Phẫu thuật thần
kinh và Nội khoa nói chung, nhằm đánh giá khách quan tình trạng chức
năng của hệ thần kinh trung ương [4]. Đây là một phương pháp thăm dò
chức năng hoạt động sinh lý của tế bào não, thông qua việc ghi lại các điện
thế phát sinh trong các tế bào thần kinh. Nó có liên quan đến các quá trình
phân tích và tổng hợp thông tin chung về trạng thái chức năng của não bộ,
được ghi lại từ bề mặt của da đầu và có thể nghiên cứu trong bất cứ hoàn
2
cảnh nào. Cùng với các phương pháp xét nghiệm bổ trợ khác, điện não đồ
phát huy vai trò trong công tác chẩn đoán, điều trị bệnh và trong các công
trình nghiên cứu của ngành y sinh học.
Đây là một xét nghiệm dễ thực hiện, tốn ít kinh phí và vô hại đối với cơ
thể bệnh nhân. Chính vì ưu điểm này mà trong quá trình điều trị có thể ghi
điện não đồ nhiều lần để đánh giá sự tiến triển của bệnh, từ đó tiên lượng
bệnh. Mặc dù hiện nay có nhiều kỹ thuật hiện đại được ứng dụng trong chẩn
đoán hình ảnh, nhưng kỹ thuật ghi điện não đồ vẫn có giá trị trong nghiên cứu
sinh lý và bệnh lý thần kinh.
Trong bệnh lý tai biến mạch máu não, cấu trúc não bị biến đổi do tổn
thương nên ảnh hưởng nhiều đến hoạt động điện não. Mức độ biến đổi phụ
thuộc vào độ nặng nhẹ của bệnh, mức độ rộng hẹp của tổn thương...Chính vì
thế, thăm dò điện não đồ vẫn mang nhiều giá trị trong công tác chẩn đoán đặc
biệt là chẩn đoán sớm các cơn động kinh cũng như dự báo tiên lượng và sự
hồi phục bệnh lý tai biến mạch máu não.
Cho đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu điện não đồ trên bệnh nhân tai
biến mạch máu não. Xuất phát từ lý do đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên
hợp tử vong và 30 triệu người sống sót sau TBMMN [1].
Theo thống kê của Hội Đột quỵ Mỹ, cứ mỗi 45 giây trôi qua, trên thế
giới có ít nhất một người bị TBMMN. Và cứ mỗi 3 phút trôi qua, trên thế giới
có một người tử vong do TBMMN. Theo thống kê của Hội Phòng chống tai
biến mạch máu não, tại Việt Nam mỗi năm có khoảng 200.000 người mới
mắc TBMMN, trong đó có 104.000 người tử vong. Trên toàn thế giới, mỗi
4
năm TBMMN cướp đi sinh mạng của 4 triệu người. Số người sống sót di
chứng nhẹ và vừa chiếm 50%, trong số này chỉ 26% trở lại nghề cũ, số còn lại
phải chuyển nghề nên thu nhập thấp hoặc trở thành gánh nặng kinh tế cho gia
đình và xã hội [11].
Nếu trước đây, bệnh thường gặp ở những người tuổi từ 50 trở lên thì
hiện nay, bệnh ngày càng trẻ hóa và có xu hướng tăng cao ở người dưới 50
tuổi, có nhiều trường hợp xảy ra ở tuổi đời còn rất trẻ [18].
Ðể đánh giá tình hình TBMMN phải dựa vào 3 tỷ lệ sau đây:
Tỷ lệ mới mắc (incidence): theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) tỷ lệ
này là 150 - 250 /100.000 [26], ở nước ta nói chung từ 20 - 35 /100.000 [24]
theo điều tra dịch tễ học năm 1989- 1994.
Tỷ lệ hiện mắc (prevalence): theo TCYTTG là 500-700/100.000 dân
[26], ở nước ta khoảng 45-85/100.000 [24].
Tỷ lệ tử vong (mortality) trên 100.000 dân nói lên tính chất trầm trọng
của bệnh. Tỷ lệ này rất khác nhau giữa các nước từ 35-240/100.000 dân, ở
Việt nam 20-25/100.000 dân [24].
1.1.3. Phân loại
TBMMN gồm 2 thể tai biến:
- Nhồi máu não (NMN) hay còn gọi là thiếu máu cục bộ não/ nhũn não:
là kết quả của việc giảm lưu lượng máu ở não [43]. Đây là quá trình bệnh lý,
trong đó động mạch não bị hẹp hoặc bị tắc, lưu lượng tuần hoàn tại vùng não
cơn. Đây là một bước ngoặc lớn trong khoa nghiên cứu dùng ĐNĐ để chẩn
đoán bệnh động kinh. Cùng năm, nhà thương lớn tại Massachusetts bắt đầu sử
dụng ĐNĐ.
Sau đó, Franklin Offner - giáo sư lý sinh đại học Northwestern thiết
kế ĐNĐ với khả năng ghi nét mực của sóng trên giấy cuộn.
Năm 1947: Hội Nghiên cứu ĐNĐ Hoa Kỳ được thành lập và mở hội
nghị quốc tế về ĐNĐ.
6
Năm 1957: Aserinsky và Kleitmean trình bày sóng ĐNĐ của não người
đang mơ ngủ (cấp độ ngủ với mắt di chuyển nhanh).
Sau đó, rất nhiều nhà khoa học trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu, phát
minh cải tiến kỹ thuật và hoàn thiện dần phương pháp ghi ĐNĐ (H. Berger,
Grey, Wather, Gibbs, Jasper, Gastaut, Lennox, EA. ZhirmunsKaja. G. Durup,
F. Bremer, N. Harvey, G. D. Hobart, E. Niedermeyer, F. L. Silva...)
1.2.2. Cơ sở sinh lý của hoạt động điện não
ĐNĐ ghi lại dòng điện (sự thay đổi của điện thế) được sinh ra trong não.
Các dòng điện được ghi lại trên ĐNĐ được sinh ra bởi các tế bào tháp nằm ở
bề mặt vỏ não. Chỉ có những hoạt động điện xảy ra đồng bộ trong một nhóm
tế bào nằm ở các lớp vỏ não mới có thể ghi lại được trên ĐNĐ.
Cấu tạo của hệ thần kinh trung ương gồm hai thành phần cơ bản: Các nơ
ron thần kinh và các tế bào thần kinh đệm.
- Cấu tạo của một nơ ron thần kinh bao gồm một thân tế bào, một sợi trục
và nhiều đuôi gai. Các thành phần này tiếp xúc với nhau thông qua xi náp.
- Các tế bào thần kinh đệm nằm xen kẽ vào mạng lưới các nơ ron và tiếp
xúc với các nơ ron và cả hệ thống mạch máu trong các tổ chức thần kinh.
- Khi có một xung động thần kinh đi tới và đạt ngưỡng, xung động này
sẽ khởi phát một điện thế hoạt động của màng nơ ron. Độ tập trung của các
ion K+ tại khoảng gian bào trong quá trình khử cực nơ ron sẽ tạo ra một điện
chúng trên giấy hoặc trên màn hình vi tính. Tốc độ chạy của giấy từ 15 mm/s
- 30mm/s.
- Tùy theo số lượng của các thông tin cần phân tích mà các bản ghi có
thể đặt được từ 8, 12, 16 đến 20 chuyển đạo. Các tín hiệu được ghi bằng
các chuyển đạo đơn cực sau đó được số hóa và dự trữ trong những bộ nhớ
có dung lượng cao của các máy tính (các đĩa cứng, các đĩa quang từ). Khi
người ta đọc kết quả, các tín hiệu này sẽ được định dạng trở lại. Như vậy,
8
người đọc ĐNĐ có thể đọc lại tất cả những gì đã ghi thông qua các chuyển
đạo khác nhau.
Từ khi ra đời cho đến nay máy điện não ngày càng được cải tiến hoàn
thiện, hiện đại và nguyên lý hoạt động của máy tuân theo quy trình cơ bản:
Đầu vào – đạo trình ghi – tiền khuếch đại – lọc tần số cao – hậu khuếch
đại – bút ghi – chuẩn – ghi lên bản ghi (màn hình).
Cấu tạo của máy: Gồm 3 bộ phận chính: Điện cực, bộ khuếch đại, dao
động kế. Và một số bộ phận phụ: Ghi nhịp thở, Ghi nhịp tim, Đánh dấu thời
gian, Kích thích ánh sáng, Kích thích tiếng động.
* Các điện cực
- Có các loại: điện cực hình đĩa (điện cực dán), điện cực cầu, điện cực kim.
- Về cách ghi, có điện cực đơn cực, đa cực để ghi điện não trên bề mặt
não hoặc ghi trực tiếp vào tổ chức não trong phẫu thuật định vị não.
- Điện cực trung tính bằng các loại kẹp, để gắn vào tai, mũi của người bệnh.
* Bộ phận khuếch đại:Gồm có tiền và hậu khuếch đại, làm cho tín hiệu
điện não đủ lớn về điện thế để chuyển ra hệ thống bút ghi.
* Dao động kế (hệ thống bút ghi):Các tín hiệu qua bộ phận khuếch đại,
qua hệ thống lọc nhiễu sẽ làm dao động hệ thống bút ghi, vẽ lên giấy theo
chiều dọc lên xuống với tốc độ tùy chọn 7.5mm/s, 15mm/s, 30mm/s, 60
mm/s.
1.2.4.1. Hoạt động alpha
)
- Được giới thiệu bởi Berger năm 1929, Adrian, Mathews 1934.
- Sóng alpha có tần số 8-13 ck/s [5].
- Biên độ trung bình 20-100 microvolt, trung bình khoảng 50 microvolt [5]
- Dạng sóng: hình sin [5]
- Vị trí: người trưởng thành trong điều kiện ghi bảo đảm kỹ thuật, sóng
alpha có dạng chuỗi hình thoi tập trung nhiều ở vùng chẩm, chẩm đỉnh, thái
dương sau.
- Sóng bị ức chế khi mở mắt, kích thích xúc giác, vận động, hoạt động trí óc.
Hình 1.3 Sóng alpha
)
11
1.2.4.2. Hoạt động beta (
- Tần số 18-25 ck/s. Biên độ nhỏ hơn hoặc bằng 50% biên độ của alpha [5].
- Dạng sóng hình sin, xuất hiện chủ yếu ở trán và trung tâm.
- Sóng beta được tăng cường trong lao động trí óc, trong tình trạng hưng
phấn hoặc lo âu. Sóng Beta bị ức chế khi có kích thích vận động và xúc giác.
- Ngoài ra Beta chiếm ưu thế trong phản ứng Berger.
Hình 1.4 Sóng beta ( )
1.2.4.3. Nhịp Muy Rolando (
- Tần số, biên độ giống sóng alpha.
- Dạng sóng có hình răng cưa [5].
của tổn thương lan toả.
- Theo lứa tuổi sự xuất hiện của delta có ý nghĩa khác nhau. Dưới 3 tuổi
delta là sóng sinh lý, trên 3 tuổi delta xuất hiện mang ý nghĩa bệnh lý.
Hình 1.7 Sóng delta (
13
1.2.4.6. Hoạt động nhọn
- Gai nhọn: là những sóng đơn độc, đỉnh nhọn, độ dài từ 20-70 mm/s,
biên độ thay đổi. Nếu đỉnh nhọn trên đường đẳng điện là gai âm, dưới đường
đẳng điện là gai dương.
- Gai nhọn thường bắt nguồn từ sự phóng điện đột ngột của neuron bệnh
lý, phản ánh tình trạng kích thích.
- Khi nhiều gai đơn độc xuất hiện liền nhau trong một thời khoảng ngắn
gọi là đa gai nhọn. Có khi gai nhọn đi liền theo sau các sóng chậm thành phức
hợp gai nhọn - sóng. Đa gai nhọn hay ghi được trong cơn động kinh, giai
đoạn co cứng và giật cơ.
- Sóng nhọn là sóng đơn lẻ đỉnh nhọn, bước sóng 70-200 mm/s tần số
5-14 ck/s. Biên độ thường cao. Hình dạng có thể đơn pha, 2 pha, hoặc 3 pha.
Sóng nhọn phản ánh trạng thái kích thích, thường có trong các hoạt động
kịch phát của động kinh hoặc bệnh lý có triệu chứng kích thích tổ chức não.
- Gai vertex: dạng đơn sóng giữa các kênh, ở trong giai đoạn 2, 3 của
giấc ngủ. Gai vertex có hai pha, pha dương nhọn nhanh còn pha âm rộng
(chậm hơn).
1.2.4.7. Phức hợp gai nhọn – sóng
- Khởi đầu bằng một gai nhọn tiếp theo một sóng chậm hoặc ngược lại.
- Tần số của phức hợp tuỳ theo từng trường hợp, có thể từ 1-2.5 ck/s:
chậm, hoặc từ 4-5 ck/s: nhanh, hoặc từ 3-3.5 ck/s trong các cơn vắng ý thức
điển hình
hướng khá dần lên.
Hình 1.9 Sóng PLEDS (bán cầu não phải )
1.2.5. Vai trò của ĐNĐ trong TBMMN
1.2.5.1. Biến đổi ĐNĐ trong thể NMN
Theo L Murri và CS, sự xuất hiện các bất thường trên ĐNĐ được biết
đến trên các bệnh nhân Thiếu máu cục bộ. Các phát hiện thường xuyên nhất
là các hoạt động sóng chậm delta và theta hoặc sự giảm nhịp alpha nền [46].
Theo tổng hợp và đánh giá của Đinh Văn Bền về những biến đổi ĐNĐ
trên bệnh nhân nhồi máu não [5], những biến đổi đó là:
1.2.5.1.1. Huyết khối động mạch cảnh trong (Internal carotid artery
thrombosis)
- Lâm sàng: hay gặp ở nơi phân chia của động mạch cảnh gốc. Biểu hiện
bằng giảm hoặc mất mạch đập ở động mạch cảnh trong. Liệt nửa người khác
bên và có hoặc không có thất vận ngôn.
- Điện não:
+ Sóng cơ bản alpha giảm.
16
+ Sóng delta chậm và đa dạng, điện thế thấp cùng bên với huyết khối,
ưu thế vùng trán thái dương và có thể ở trán 2 bên. Các dạng sóng này tồn tại
hàng tuần hoặc vài tháng. Quan điểm khác nhau về vai trò của sóng chậm và
biên độ thấp phản ánh khác nhau liên quan đến nhu mô não tổn thương. Các
sóng chậm ảnh hưởng bán cầu não với giảm biên độ chứng tỏ nhồi máu rộng
và nặng.
+ Ghi điện não khi ngủ, sóng chậm hơn và không ổn định.
1.2.5.1.2. Huyết khối động mạch não giữa (Middle cerebral artery
thrombosis)
- Lâm sàng: liệt nửa người, thất vận ngôn, lú lẫn hay bán mê ở giai đoạn
18
Hình 1.11 Điện não đồ ở bệnh nhân huyết khối động mạch não trước
Mô tả: Điện não alpha ổn định, sóng theta và delta không liên tục ở trán hai
bên ưu thế trái. CLVT sọ nhồi máu 2 bên trán, trái hơn phải.
1.2.5.1.4. Huyết khối động mạch não sau (Thrombosis of the posterior
cerebral artery)
- Lâm sàng: bán manh cùng bên, mất cảm giác khác bên, đau kiểu đồi thị
có thể kết hợp trong thiếu máu lan rộng nhiều.
- Điện não:
+ Sóng chậm nổi bật ở vùng đỉnh chẩm cùng bên.
+ Sóng cơ bản mất cân xứng giữa 2 bán cầu, ở bán cầu có tổn thương
sóng cơ bản không ổn định hoặc rối loạn.