skkn một số biện pháp sư phạm giúp học sinh yếu kém tiến bộ trong môn thể dục lớp 10 - Pdf 50

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THCS&THPT THỐNG NHẤT

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM GIÚP HỌC SINH YẾU
KÉM
TIẾN BỘ TRONG MÔN THỂ DỤC LỚP 10

Người thực hiện: Trương Văn Đồng
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Thể dục

THANH HOÁ NĂM 2017
1


MỤC LỤC
Nội dung
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.3. Một số biện pháp sư phạm giúp học sinh yếu kém tiến bộ trong môn

Trang

Có thể nói chất lượng giáo dục nước ta đang là một vấn đề mang tính thời
sự. Hiện tượng học sinh “ngồi nhầm lớp”, tỉ lệ học sinh yếu, kém ở các trường
THPT không phải là ít, trong đó phải kể đến tỉ lệ học sinh yếu, kém môn Thể
dục. Trong khi đó, môn Thể dục có vai trò, vị trí và ý nghĩa hết sức quan trọng
trong giáo dục phổ thông. Ngoài mục đích trang bị cho học sinh hệ thống kiến
thức cơ bản, bao gồm các kiến thức về các nội dung môn học, các kĩ thuật động
tác, các phương pháp tập luyện và thi đấu, các điều luật và cách thức làm trọng
tài của môn học, ngoài ra còn rèn cho các em các kỹ năng quan sát, tổng hợp,
phân tích đánh giá, suy luận, phán đoán; kỹ năng vận dụng kiến thức vào tập
luyện, thi đấu, kỹ năng đọc tình huống. Học tốt môn Thể dục giúp các em có cơ
thể cường tráng, khỏe mạnh, có được tinh thần thoải mái để phục vụ học tập và
lao động trong cuộc sống. Việc nắm vững kiến thức cơ bản góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo ở bậc phổ thông, chuẩn bị cho học sinh tham gia các hoạt
động sản xuất và hoạt động hằng ngày.
Mỗi học sinh là một cá thể riêng biệt, tất nhiên sẽ có sự khác nhau về
năng lực học tập. Có học sinh tiếp thu bài học nhanh, nhưng cũng có những em
tiếp thu bài rất chậm, thậm chí là không tiếp thu được gì thông qua các hoạt
động trên lớp. Đặc biệt, các nội dung có nhiều động tác khó tập luyện, yêu cầu
sự hoạt động phối hợp của nhiều nhóm cơ vào vận động. Nội dung bài học sau
các em muốn vận dụng được cần phải nhớ, hiểu, vận dụng lại kiến thức đã học ở
bài trước, lớp trước. Nếu học sinh đã rỗng kiến thức về các động tác cơ bản thì
việc tiếp thu kiến thức ngày càng khó khăn, thiếu hụt dẫn đến ghi nhớ máy móc
không hiểu bản chất động tác nên chán học và học yếu, kém bộ môn.
Hiện nay việc dạy học môn thể dục ở trường THPT nói chung và trường
THCS &THPT Thống Nhất nói riêng tuy đã áp dụng nhiều phương pháp dạy
học tích cực, song việc phân loại để cung cấp “những lỗ hổng kiến thức” cho
các em học sinh yếu kém vẫn chưa được thực hiện một cách thường xuyên, GV
chưa có biện pháp tác động đến tình cảm, chưa gây được hứng thú học tập cho
học sinh.
Được tiếp xúc hàng ngày với các em, đó là điều kiện thuận lợi giúp tôi tìm

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

4


2. NỘI DUNG
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1.1. Quan điểm của dạy học phân hoá
Dạy học phân hoá là cách thức dạy học đòi hỏi phải tổ chức, tiến hành các
hoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của người học về năng lực, nhu cầu
nhận thức, các điều kiện nhận thức, nhằm tạo ra những kết quả học tập và sự
phát triển tốt nhất cho từng người học, đảm bảo công bằng giáo dục, tức là đảm
bảo quyền bình đẳng về cơ hội học tập cho người học
Những cấp độ và hình thức dạy học phân hoá:
Dạy học phân hoá ở cấp độ vĩ mô: là tìm kiếm các phương pháp, kĩ thuật
dạy học để mỗi học sinh nhóm học sinh, với nhịp độ học tập khác nhau trong giờ
học đều đạt kết quả mong muốn.
Dạy học phân hoá ở cấp độ vi mô bao gồm dạy học phân hoá nội tại và
dạy học phân hoá về tổ chức.
Dạy học phân hoá ở cấp độ vĩ mô là sự tổ chức quá trình dạy học thông
qua cách tổ chức các loại trường lớp khác nhau cho các đối tượng học sinh khác
nhau, xây dựng các chương trình giáo dục khác nhau.
Một số hình thức dạy học phân hoá ở cấp độ vĩ mô: Phân ban, dạy tự
chọn, phân ban kết hợp với dạy học tự chọn, phân luồng. [8]
2.1.2. Quan điểm dạy học tích cực, một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
tích cực
Thuật ngữ “Phương pháp dạy học tích cực” được dùng để chỉ những

học và quản lí giáo dục. Kiểm tra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan
sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập.
Đổi mới kiểm tra đánh giá chỉ có hiệu quả khi kết hợp đánh giá của GV
với tự đánh giá của HS. Sau mỗi kỳ kiểm tra, giáo viên cần bố trí thời gian trả
bài, hướng dẫn HS tự đánh giá kết quả bài làm, tự cho điểm bài làm của mình,
nhận xét mức độ chính xác trong chấm bài của GV. Trong quá trình dạy học và
khi tiến hành kiểm tra, đánh giá GV phải biết “ khai thác lỗi” để giúp HS tự
nhận rõ sai sót nhằm rèn luyện phương pháp học tập, phương pháp tư duy. [2].
Để có được một đề kiểm tra phù hợp thì GV phải nắm vững các quy trình
ra một đề kiểm tra.
2.2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Học sinh Trường THCS &THPT Thống Nhất chủ yếu có hộ khẩu thường
trú ở 4 huyện: Yên Định, Ngọc Lặc, Thọ Xuân, Cẩm Thuỷ. Đa số các em phải đi
học xa, hoàn cảnh kinh tế lại khó khăn, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc
học tập. Đặc biệt chất lượng đầu vào rất thấp đã gây không ít khó khăn cho việc
dạy học nói chung và dạy học môn Thể dục nói riêng.
Sự thay đổi về môi trường học tập từ THCS lên THPT ảnh hưởng không
nhỏ tới việc tiếp thu kiến thức, đặc biệt đối với các HS yếu kém. Bởi thầy cô và
bạn bè mới khiến cho những em HS yếu kém vốn đã thiếu tự tin trong học tập
càng trở nên xa lạ với những bài học mới.
Khi dạy môn Thể dục ở lớp 10 tôi nhận thấy vẫn còn tồn tại phổ biến tình
trạng HS nắm kiến thức cơ bản môn Thể dục ở lớp dưới còn mơ hồ thậm chí
không nhớ tên các môn học cơ bản, các bước, các giai đoạn kĩ thuật, các em
chỉ nắm được một môn nào đó là chính … Vì vậy việc tiếp thu kiến thức mới
của các em gặp rất nhiều khó khăn. Một số em chán nản không muốn học vì
thấy môn học khó thực hiện, số khác tích cực hơn thì quan sát, chú ý nghe giảng
thì có thể vẫn tiếp thu kiến thức ở bài chạy ngắn do lớp dưới các em được tập
luyện nhiều, đến bài thể dục nhịp điệu, bài nhảy cao nằm nghiêng, bài đá cầu
hay bài cầu lông lớp 10 các em không thể theo kịp yêu cầu chung của bài học…
Nhiều em điều kiện học tập thiếu thốn, thiếu: dụng cụ tập luyện, cầu, vợt cầu

- Sau nhiều lần gặp khó khăn khi tiếp thu bài và thực hiện bài tập, hứng
thú tập luyện đối với môn học giảm sút nghiêm trọng, khiến các em mất tự tin
và rơi vào trạng thái căng thẳng, đối phó cho xong trong các giờ học.
- Học sinh không chịu giao tiếp, không có hứng thú tham gia vào các hoạt
động tập luyện, hoạt động giao lưu giữa thầy và trò, thái độ tập luyện còn thụ
động. Tính tình thì nhút nhát, rụt rè ít khi phát biểu ý kiến xây dựng bài.
- Ở HS có sức học yếu kém hoặc thiếu khả năng học tập thì thường có sức
khỏe yếu, thiếu kĩ năng vận động một cách vững chắc và sâu sắc như các bạn
khác cùng lớp.
Sự yếu kém môn thể dục được biểu hiện ở nhiều hình thức nhưng nhìn
chung HS yếu kém môn thể dục thường có các đặc điểm sau:
- Có nhiều “lỗ hổng” về kiến thức, kĩ năng vận động.
- Tiếp thu kiến thức chậm.
- Phương pháp học tập môn thể dục chưa tốt, chưa khoa học.
- Thờ ơ với giờ học thực hành, thường xuyên không luyện tập ở nhà, bỏ tiết.
Giáo viên cần nắm vững những đặc điểm này để có thể giúp đỡ học sinh
yếu kém một cách có hiệu quả.
* Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém môn thể dục
Qua thực tế tìm hiểu tôi nhận thấy có các nguyên nhân chủ yếu sau dẫn
đến học sinh học yếu kém môn Thể dục đó là
- Nguyên nhân từ học sinh
7


+ Học sinh không hứng thú học tập bộ môn: Khác với các môn khác,
môn thể dục có nhiều kĩ thuật động tác, nhiều động tác khó, học sinh lười vận
động thiếu vốn kiến thức cơ bản do đó các em tiếp thu kiến thức ngày càng khó
khăn và thiếu hụt.
+ Một số em lười tập luyện vì sợ bẩn, thiếu sự chuẩn bị chu đáo dụng cụ
tập luyện dẫn tới không nắm được các kĩ năng cần thiết trong việc tập luyện và

những HS này.
2.3.1.2. Xây dựng môi trường học tập thân thiện, cởi mở
Đối với lứa tuổi HS nói chung và HS lớp 10 nói riêng, tình cảm, việc làm,
hành động của các em còn mang tính chất cảm tính. Các em có thể không thích
học môn Thể dục chỉ vì các động tác tập luyện lặp đi, lặp lại đơn điệu và gây
nhàm trán, miệt mỏi. Chính vì vậy, muốn giúp các HS yếu kém môn Thể dục
tiến bộ trước hết phải làm cho các em nhận thức rõ ý nghĩa và tác dụng to lớn
8


của tâp luyện TDTT. Bởi vậy, GV cần phải làm mẫu kĩ thuật động tác đúng, đẹp
gây hứng thú tập luyện đối với học sinh, tạo cảm giác an toàn để các em bày tỏ
những khó khăn trong tập luyện, trong cuộc sống của bản thân mình là yếu tố rất
quan trọng. Sự khích lệ của thầy cô làm các em tự hào về mình, tự tin vào bản
thân và có hứng thú tập luyện thực sự. Để thực hiện được, GV cần:
- Tạo không khí tập luyện thoải mái, nhẹ nhàng, không mắng hoặc dùng
lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh cảm thấy sợ giáo viên mà
hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình. Ví dụ: HS không tập chung
quan sát, đừng vội quát mắng hay trách phạt mà hãy nhắc nhở nhẹ nhàng, hỏi rõ
lý do, và sẵn sàng hướng dẫn lại khi em chưa hiểu bài.
- Khen ngợi kịp thời, đúng lúc. Phải tìm ra ưu điểm để khen thành thật
tránh để các em bị tổn thương vì nghĩ thầy cô giễu cợt mình. Ví dụ: làm đúng kĩ
thuật, thực hiện động tác đẹp, khen nhãn quang quan sát tốt, khen tập trung nghe
giảng, khen sự phối hợp nhịp nhàng các động tác ...Không đợi HS làm hết kĩ
thuật rồi mới khen tốt. Các em thực hiện tốt từng bước kĩ thuật thì khen
ngay “Đúng rồi, em tực hiện tiếp đi!”. Theo dõi quá trình thực hiện kĩ thuật của
các em, nếu thấy HS bắt đầu làm sai thì phải nhắc ngay để các em không thực
hiện sai động tác tiếp theo, nếu không các em sẽ nản không tự tin để tập luyện.
2.3.1.3. Giáo dục ý thức học tập
GV cần giúp HS xác định đúng động cơ, thái độ học tập: học để có kiến

hội để làm lại, còn “đi làm kiếm tiền” thì sau này sẽ có cả cuộc đời phía trước
để thực hiện.
* Với những HS bị tổn thương, mất cân bằng về mặt tình cảm
Một số em có bố mẹ đi làm ăn xa, ở cùng ông bà hoặc anh em họ hàng
nên thiếu đi sự quan tâm, chăm sóc của bố mẹ. Hay có những em sống trong gia
đình bố mẹ bất hoà, thường xuyên cãi vã, hoặc đã li hôn. Điều này ảnh hưởng
rất lớn đến kết quả học tập của các em vì tâm lý chán nản và bản thân không có
người thường xuyên nhắc nhở, quan tâm. Với đối tượng này, GV nên tìm cách
thường xuyên trò chuyện gần gũi với các em (có thể nói chuyện giờ ra chơi, gọi
điện thoại, kết bạn trên mạng xã hội facebook ) nhằm động viên an ủi để các em
có thể vượt qua cơn khủng hoảng về tinh thần, giúp các em trở lại trạng thái cân
bằng về tình cảm và tập trung vào việc học tốt hơn.
Một số em nảy sinh tình yêu nam nữ quá sớm gây sa sút trong học tập.
Với đối tượng này, GV cần nói chuyện riêng với các em nhằm giúp các em hiểu
được việc cần làm bây giờ là học tập giúp các em có được một nền tảng kiến
thức cơ bản vững chắc, một công việc phù hợp. Đó chính là cơ sở vững chắc để
các em có một tình yêu chân chính.
Đồng thời cùng với GV chủ nhiệm kết hợp liên lạc với phụ huynh phối
hợp uốn nắn, động viên các em.
* Với đối tượng học sinh yếu kém do lười biếng, ham chơi.
Một số HS thường xuyên bỏ giờ ham mê trò chơi điện tử. Một số khác
vẫn đến lớp nhưng không tập luyện, thờ ơ, không chú ý vào bài học. Với đối
tượng này, GV cần:
- Trực tiếp trò chuyện riêng với các em, phân tích cho các em hiểu mặt
tốt, mặt xấu và sự liên quan đến tương lai của các em. Động viên những em học
khá trong lớp kết bạn thân để kéo những HS này khỏi sự “ham chơi”. Đồng thời,
phối hợp với phụ huynh để kiểm soát giờ giấc đi học và không cho các em tiền
tiêu vặt.
- Yêu cầu các em tập chung tập luyện và kiểm tra đột xuất để lấy điểm
miệng. Trong các giờ học nên khuyến khích cho các em lên làm mẫu động tác,

Để nắm vững nội dung cơ bản của từng môn học thì tôi yêu cầu các em
lập sơ đồ để các em dễ nhớ.
VD:
TT Môn học
Nội dung cơ bản
Ghi chú
1
Lý thuyết
- Phương pháp tự tập luyện TDTT
- Sư dụng các yếu tố thiên nhiên và vệ sinh để
rèn luyện sức khỏe
2
Thể dục NĐ Bài tập gồm 16 động tác
3
Chạy ngắn
- Một số trò chơi, Đt bổ trợ KT và PT sức mạnh
- Tâp hoàn chỉnh các giai đoạn KT chạy nhanh
- Một số điểm trong luật điền kinh( Chạy ngắn)
4
Chạy bền
- Một số trò chơi luyệ cách thở và ĐT bổ trợ KT
- Chạy trên địa hình tự nhiên theo nhóm SK, GT
- Một số động tác hồi tỉnh sau khi chạy
5
Nhảy cao
- Một số trò chơi, Đt bổ trợ KT và PT sức mạnh
chân
- Hoàn chỉnh KT các giai đoạn KT nhảy cao kiểu
“Nằm nghiêng”
- Một số điểm trong luật điền kinh( Nhảy cao)

- Chuyền bóng cao tay bằng hai tay.
- Đệm bóng – phát bóng chính diện.
- Một số điểm trong Luật bóng chuyền

Bước 3: Ôn tập lại các kĩ thuật đã học động tác sau đó áp dụng để vào
thi đấu tập
Việc đầu tiên HS phải xác định được các kĩ thuật động tác ở từng môn
trong chương trình thể dục 10
Lượng kiến thức ôn lại cho các em nhiều động tác nên không thể nóng
vội tập luyện cùng một lúc thì các em HS đã học yếu sẽ nản thay vào đó tôi chia
nhỏ khối lượng kiến thức ra ôn tập và luyện tập thường xuyên vừa sức. Sau đó
tăng đần độ khó và phối hợp nhiều động tác→ cho các em đấu tập sử dụng các
động tác đơn giản.
2.3.2.2. Đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học
Điều 24.2 của Luật Giáo dục đã ghi: “Phương pháp giáo phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm
của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập của HS ” [ 3, Tr 56]
Mỗi tiết dạy GV có thể sử dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
tích cực chính vì thế trong phạm vi của đề tài tôi chỉ giới thiệu một số phương
pháp đã sử dụng có hiệu quả đối với học sinh học yếu môn thể dục.
* Sử dụng tốt kĩ thuật đặt câu hỏi trong mỗi bài dạy
Kĩ thuật đặt câu hỏi trong mỗi bài dạy đối với người GV rất quan trọng
mức độ câu hỏi đưa ra vừa làm nổi bật trọng tâm của bài dạy vừa phải bám sát
đối tượng HS trong một lớp để các em đều có thể tham gia xây dựng bài kể cả
HS yếu kém. Ví dụ: Khi dạy phần Xuất phát trong chạy ngắn. ( tiết 3 PPCT)
trang (50, 51 SGV Thể dục 10)

12

chuyền bóng cao tay, phát bóng thấp, cao tay, đập bóng trên lưới (Tìm hiểu về
độ chính xác kĩ thuật của các thành viên trong hai nhóm thi đấu trên sân sau đó
đánh giá vào phiếu học tập và thống nhất ý nghĩa của các thông số kĩ thuật và kí
hiệu ghi trong ô ); Tìm hiểu về sự phối hợp hài hòa giữa các thành viên trong
nhóm trong quá trình thi đấu.
* Sử dụng có hiệu quả dạy học bằng sơ đồ tư duy.
Tôi đã sử dụng phương pháp này để hướng dẫn HS ôn tập lại kiến thức cơ
bản phân loại các môn tập luyện; kiến thức sau khi học hết một môn học. Hoặc
phần củng cố sau một bài.
* Sử dụng phương pháp trực quan, gắn bài học với việc giải thích các
hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống. Tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin vào soạn giảng.
- Chúng ta đã biết đặc điểm của thể dục vừa mang tính định lượng, vừa
mang tính định tính. Vì vậy GV thực hiện các kĩ thuật động tác phải chính xác,
động tác đẹp, cho HS được thực hiện lại các kĩ thuật sẽ gây hứng thú cho học
13


sinh và tăng khả năng ghi nhớ và tiếp thu kiến thức được tốt hơn và chắc chắn
những HS học yếu bộ môn vẫn có thể trả lời tốt hiện tượng các em quan sát
được là gì. Để học sinh thực hành đạt kết quả tốt trước khi làm mẫu kĩ thuật
động tác ở trên lớp tôi nghiên cứu kĩ các kĩ thuật từ sách giáo viên, từ bài giảng
mẫu của đồng nghiệp.
- Khi dạy những bài cần vận dụng kiến thức môn thể dục và liên môn kiến
thức môn sinh học vào giải thích các hiện tượng trong tự nhiên và cuộc sống GV
hướng dẫn cho HS giải thích từ đó tạo hứng thú và yêu thích bộ Thể dục. Ví dụ
1: Khi dạy bài chạy bền SGV [70]
GV hướng dẫn cho HS giải thích hiện tượng:
+ Tại sao hiện tượng “cực điểm” và cách khắc phục?
+ Vì sao xuất hiện trạng thái “ hô hấp lần hai”?


14


Cùng thầy cô giáo dạy nhưng có em kết quả học tập cao, có em kết kết
quả học tập chưa cao, thậm chí còn yếu, kém. Nhiều em vẫn đổ lỗi tại mình
không có năng khiếu. Nhưng một trong những nguyên nhân mà các em chưa
nhận thấy đó là các em chưa có phương pháp tập luyện hiệu quả dẫn đến kết
quả tập luyện còn yếu, kém. Chính vì thế hướng dẫn HS cách học rất quan trọng.
Trước hết, GV cần yêu cầu HS:
Dù học ở trường hay ở nhà khi vào tập luyện phải tập trung, không làm
việc riêng, kiên trì.
- Ghi chép bài cẩn thận, đầy đủ kết hợp với việc nghe giảng trên lớp
(Khuyến khích bằng cách chấm vở lấy điểm miệng với bài lý thuyết).
- GV yêu cầu học sinh phải có vở, dụng cụ tập luyện để tham gia học tập
trên lớp cũng như ở nhà không ngại làm sai. GV giải thích cho HS dù có làm sai
thì lần sau các em mới rút được kinh nghiệm, khắc sâu được kiến thức.
- Không hiểu phải hỏi thầy, hỏi bạn, không nhớ chắc chắn phần nào, động
tác nào thì tự mình phải xem lại sách vở hoặc kiểm tra trên mạng.
- Đối với bài tập về nhà đối với học sinh yếu các em không cần phải thực
hiện các động tác phức tạp.
- GV tổ chức nhóm học tập ở nhà (nhóm 2 em HS trở lên tùy thuộc vào
địa bàn các em ở gần) để giao bài tập về nhà phù hợp với các em.
- Sau khi học xong một bài cần giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức đã
học bằng sơ đồ tư duy, hoặc ôn tập một cách có hệ thống để các em rễ nhớ nhất.
2.3.3. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
2.3.3.1. Chọn lớp thực nghiệm
Đầu năm học 2017-2018, tôi được phân công dạy môn thể dục lớp 10A1,
10A2, 10A3 và 10A4 Trường THCS&THPT Thống Nhất. Qua tìm hiểu học bạ
lớp 9 tôi nhận thấy trình độ chung về môn Thể dục của bốn lớp 10A1, 10A2,

34,9
33,3

Trên cơ sở đó, tôi tổ chức thực nghiệm tại lớp 10A2 và lấy lớp 10A1 làm
đối chứng. Việc dạy thực nghiệm và đối chứng thực hiện theo đúng kế hoạch
giảng dạy của nhà trường.
Thời gian thực nghiệm được tiến hành từ ngày 20/9/2017 đến ngày
15/5/2018.
- Lớp thực nghiệm: 10A2 với số lượng HS là 45 em.
15


- Lớp đối chứng: 10A1 với số lượng HS là 43 em.
2.3.3.2. Tiến hành thực nghiệm
* Phân loại các đối tượng HS yếu kém môn Thể dục
Nhóm 1 (gồm 5 em: Nguyễn Khắc Đại, Lê Trung Hậu, Lê Thị Diệu,
Nguyễn Hữu Dương, Đỗ Văn Đức) với đặc điểm: hay bỏ tiết, vào muộn, ít nói,
trong lớp thường không nghe giảng, không ghi bài, không chịu tập luyện, tỏ thái
độ bất cần, hỏi gì cũng không biết.
Nhóm 2 ( gồm 6 em: Nguyễn Thúy Hiền, Đỗ Thị Huyền, Nguyễn Thị
Huyền, Nguyễn Văn Nam, Trịnh Hằng Nga, Lê Trung Nghĩa) với đặc điểm
chung: không nhớ các kiến thức cơ bản môn Thể dục ở lớp dưới, thường xuyên
không thuộc bài và không thực hiện bài tập, rụt rè, sợ hãi mỗi khi GV kiểm tra
bài cũ, không tham gia ý kiến vào bài học.
Nhóm 3 (gồm 5 em: Phạm Thị Nhung, Hoàng Thị Phượng, Lê Văn Tuấn,
Phạm Văn Vũ , Trần Văn Xuân ) với đặc điểm: chăm chú nghe giảng, thỉnh
thoảng cũng tham gia xây dựng bài những kiến cơ bản môn Thể dục ở lớp dưới
có nhớ nhưng không được nhiều, ngại thực hiện các bài tập cho dù chỉ làm lại
động tác vừa thực hiện, có tâm lí chông chờ vào thầy cô và bạn bè làm thì mới
làm theo. Chính vì thế khi bắt tay vào làm bài hay bị nhẫm lẫn động tác nọ với

HS thành lập các nhóm học sau giờ học phụ đạo buổi chiều để ôn lại kiến thức
cơ bản cử mỗi nhóm một đến hai em học tốt bộ môn tham gia kèm cặp, bản thân
tôi cũng thường xuyên ở lai trao đổi cùng các em … Đối với bài học mới trên
lớp tôi luôn nhấn mạnh các mấu chốt kĩ thuật và nêu lên các sai sót thường gặp
để các em tập luyện đạt kết quả cao hơn.
Nhóm 2: Trong tiết học trên lớp, tôi nhấn mạnh những nội dung chính của
bài, chia nhỏ các giai đoạn, các động tác khó thành các bước nhỏ lẻ, vận dụng
các động tác bổ trợ cho các em luyện tập vừa sức, những bài tập cùng loại.
Thường xuyên gọi các tham gia xây dựng bài có khi không cần hoàn chỉnh một
một động tác ví dụ: Tại chỗ thực hiện động tác lăng chân đánh tay trong nhảy
cao… tôi cũng không ngừng nhắc lại những kiến thức liên quan tới bài học, tốc
độ làm mẫu động tác, lúc đầu chậm sau đó vừa phải, tập trung vào những kiến
thức trọng tâm của bài. Thường xuyên kiểm tra kiến thức bài mới tập và cho
điểm nếu các em làm tốt. Động viên các em tham gia học nhóm sau giờ học phụ
đạo buổi chiều.
Nhóm 3: Tôi tiến hành cho các em luyện tập vừa sức, những bài tập
phối hợp và liên kết dần hoàn thiện, mỗi khi các em phối hợp sai, tôi đều chỉ ra
lỗi mắc phải và chỉnh sửa lại cho đúng, không quên động viên các em “ không
sao cả, sai thì sửa , lần sau các em nhớ đừng phạm phải lỗi này nữa là được”.
Lỗi sai chủ yếu là ngại làm cứ nghĩ đơn giản mình thực hiện được nhưng khi
thực hiện thì lại lẫn lộn, không đúng kĩ thuật động tác. Để khắc phục lỗi này các
em phải chuẩn bị đầy đủ dụng cụ liên quan đến tiết dạy, các em có thể nghiên
cứu thêm qua tài liệu, tranh ảnh, nếu không hiểu phải hỏi ngay ... Hướng dẫn các
em cách học hiệu quả ở nhà, tự bổ sung những kiến thức cũ mà các em đã quên.
Động viên các em tham gia học nhóm cùng các bạn.
* Ôn tập thường xuyên những kiến thức cơ bản.
Để HS học yếu môn thể dục có thể học tốt lên việc đầu tiên là phải ôn tập
lại các kiến thức cơ bản tưởng chừng như rất đơn giản cho các em. Đó là xác
định được nội dung môn học, một số trò chơi, động tác bổ trợ kỹ thuật, phát
triển và sự khéo léo, các kĩ thuật cơ bản, một số điểm cơ bản trong luật điền

- Ở lớp 10A2 (Lớp thực nghiệm): Tôi đã phối hợp một cách phù hợp, linh
hoạt các biện pháp nêu trên để giúp đỡ HS yếu kém. Vì vậy, các giờ học môn thể
dục đối với các em rất nhẹ nhàng, thoải mái, các em hào hứng tham gia vào bài
học, các em tích cực tập trung quan sát, suy nghĩ trước sự hướng dẫn của GV,
không còn hiện tượng trốn học đi chơi điện tử, nói chuyện riêng trên lớp. Mức
độ tích cực của HS yếu kém ngày càng được tăng từ giờ học trước đến giờ học
sau, đặc biệt các em không còn quên các kiến thức cơ bản ở lớp dưới, biết vận
dụng kiến thức để thực hiện đúng bài tập bổ trợ, làm đúng kĩ thuật, … Đặc biệt,
các em mạnh dạn trình bày ý kiến của mình trong nhóm cũng như trước tập thể
lớp, hăng hái thực hiện và đưa ra các nhận xét đánh giá khi GV yêu cầu.
2.4.2. Đánh giá định lượng
- Tôi đã cho HS lớp 10A1 và 10A2 làm bài kiểm tra theo đúng phân phối
chương trình, phù hợp với yêu cầu của môn thể dục kết hợp với việc kiểm tra
miệng đến thời điểm cuối năm học kết quả trung bình cả năm môn Thể dục của
hai lớp được thể hiện trong bảng sau :
Lớp
Tổng
Khá, giỏi, TB (Đ)
Yếu, Kém (CĐ)
số
Số
Tỷ lệ(%)
Số
Tỷ lệ(%)
lượng
lượng
10A2
45
43
95,6

hoàn thiện hơn trong công tác giảng dạy của mình.
3.2. KIẾN NGHỊ
Đối với nhà trường: Nên tổ chức khảo sát chất lượng đầu năm học để phân
loại đối tượng HS yếu kém nhằm phụ đạo riêng ngay từ đầu năm giúp các em theo
kịp chương trình chuẩn trên lớp. Thường xuyên nhắc nhở giáo viên khi lên lớp cần
tạo không khí vui vẻ, thân thiện với HS giúp các em tiếp thu bài học đạt hiệu quả
hơn. Đồng thời, cần tránh miệt thị, chê bai các HS yếu kém, tích cực sưu tầm tài
liệu và học hỏi từ đồng nghiệp về phương pháp dạy HS yếu kém.
Đề tài mới chỉ đặt vấn đề nghiên cứu một số biện pháp trong dạy HS yếu
kém môn Thể dục lớp 10. Tôi nhận thấy đề tài này có thể mở rộng nghiên
cứu và cụ thể hóa các biện pháp nhằm giúp đỡ HS yếu kém trong toàn bộ nội
dung chương trình thể dục phổ thông.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Vũ Văn Thành

Thanh Hóa, ngày 28 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết

Trương Văn Đồng

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dạy và học tích cực (Bộ giáo dục và đào tạo – Dự án Việt Bỉ- NXB ĐH
Sư Phạm).

Tỉnh...)

Kết quả
đánh giá
xếp loại (A,
B, hoặc C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

1
2
3

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status