SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM một số BIỆN PHÁP góp PHẦN rèn CHỮ VIẾT cho hs lớp 1 - Pdf 50

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN RÈN CHỮ VIẾT
CHO HỌC SINH LỚP 1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lí do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết, một trong những hạnh phúc lớn nhất của trẻ là được đến trường, được
học đọc, học viết. Biết đọc, biết viết thì cả một thế giới mới rộng lớn mênh mông sẽ mở ra
trước mắt các em. Tiểu học là bậc học nền tảng, dạy Tiếng Việt và tập viết là chúng ta đã trao
cho các em chìa khóa để mở ra những cánh cửa bước vào tương lai, là công cụ để các em vận
dụng suốt đời.
Dạy chữ chính là dạy người.Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Chữ viết cũng là một biểu
hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện
cho học sinh tính cẩn thận, tính kỷ luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy cô và
bạn mình”.
Học chữ chính là công việc đầu tiên khi các em đến trường. Tập viết là một phân môn có tầm
phần quan trọng đặc biệt ở tiểu học , nhất là đối với các em lớp 1. Học vần , tập đọc giúp cho
học sinh đọc thông viết thạo. Viết đúng, đẹp, nhanh, rõ ràng học sinh có điều kiện ghi chép bài
học của tất cả các môn học tốt hơn. Chữ viết và dạy viết được cả xã hội quan tâm. Nhiều thế
hệ thầy cô giáo đã trăn trở, góp công, góp sức để cải tiến kiểu chữ, nội dung cũng như phương
pháp dạy học chữ viết. Tuy vậy, nhiều học sinh vẫn viết sai, viết xấu, viết chậm, điều đó ảnh
hưởng không nhỏ tới các môn học khác. Ngoài ra Tập Viết còn góp phần quan trọng vào việc
rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như: Tính cẩn thận bền bỉ, tinh thần kỉ
luật và óc thẩm mỹ bởi người xưa nói: “Nét chữ, nết người”. Nhận thức được tầm quan trọng
đó, với ý thức và lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp của giáo viên, bản thân tôi luôn suy nghĩ
và trăn trở . Trong giảng dạy, tôi đã không ngừng tích lũy kinh nghiệm về chữ viết để sớm
giúp các em viết chữ đẹp, luôn tìm ra phương pháp dạy học thích hợp viết chữ đẹp. Nhận thức
được tầm quan trọng đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp góp phần rèn chữ
viết cho học sinh lớp 1” Để nâng cao chất lượng vở sạch chữ đẹp . Trong đề tài này , tôi
không đề cập nhiều đến toàn bộ năm học mà chỉ giới hạn trọng tâm ở học kì 1 để nhằm giúp
học sinh viết chữ đẹp, kịp thời đáp ứng dạy theo chuẩn kiến thức kĩ năng . Đồng thời giúp học
sinh có vốn kĩ năng ban đầu thuận lợi cho việc phát huy viết chữ đẹp sau này.

yếu là các phương pháp sau:
 Phương pháp nghiên cứu lí luận .
 Phương pháp điều tra, khảo sát , thu thập số liệu.
 Phương pháp quan sát.
 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. Cơ sở lí luận:
Học sinh lớp 1, ngay từ những ngày đầu tiên đi học ở trường Tiểu học còn nhiều bỡ ngỡ,
rụt rè. Việc giúp các em làm quen với chữ viết thật là khó khăn , bởi đôi tay cầm bút còn
vụng về lóng ngóng. Là giáo viên dạy lớp 1 , tôi luôn trăn trở suy nghĩ một câu hỏi : Ở lớp
1 có nên tiến hành dạy các em viết đẹp ngay không ? Qua việc giảng dạy sau mỗi tiết học
môn Tập Viết tôi nhận thấy rằng đối với học sinh lớp 1 nếu cùng một lúc mà đòi hỏi các
em vừa viết đúng, viết đẹp ngay là một điều khó có thể thực hiện được. Do vậy, đối với
giáo viên cần có sự dạy dỗ công phu, nhiệt tình, tập trung xây dựng biện pháp rèn chữ viết
cho phù hợp với lứa tuổi, để để các em tiếp thu được một cách vững chắc, chúng ta cần
được cần được sự kết hợp với gia đình để được sự kèm cặp sát sao của phụ huynh học sinh.
Vậy để việc rèn chữ viết đẹp của từng học sinh, của tập thể lớp 1a5 có hiệu quả, trước tiên
cần xây dựng được nề nếp và kĩ thuật viết chữ đúng đó là cơ sở để viết chữ đẹp và cũng
chính là yếu tố có tính quyết định việc rèn chữ viết đẹp của các em trong quá trình học tập.
II.2. Thực trạng:
- Là một giáo viên giảng dạy nhiều năm cho thấy.Thực tế chữ viết của học sinh lớp 1a5
hiện nay,không đồng đều, một số em viết chữ tương đối đẹp, còn lại các em viết chữ chưa
đẹp, viết cẩu thả, chưa biết cách trình bày vở, khoảng cách chưa đều , chưa đúng ,chưa ý
thức được cái đẹp điều đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em.
Tư thế ngồi , cách cầm bút sai đa số các em ngồi cúi mặt với vở , người cong vẹo , vai
thấp , vai cao rất nhiều em cầm bút bằng 4 ngón , có em cầm bút bằng 5 ngón có em cầm
bút ngả về phía truwowvs, cán bút vuông góc với mặt vở.
-2-



- Ít chú trọng việc rèn chữ viết cho học sinh, chỉ lưu ý trong giờ tập viết , học vần tiết 1, chưa
hướng dẫn kĩ càng trong tiết 2.
- Chưa có biện pháp rèn chữ viết cụ thể. Chưa giúp học sinh nắm các nét cơ bản, cấu tạo con
chữ, dòng kẻ, kĩ thuật viết….trong các tiết luyện viết mà chỉ cần nhấn mạnh về độ cac con
chữ.
- Hướng dẫn rèn chữ viết chưa theo đối tượng học sinh. Chưa dạy theo chuẩn kiến thức và kĩ
năng .
- Về đồ dùng dạy học: Bảng viết của giáo viên không có dòng ô li rõ ràng , giáo viên còn viết
nhắm chừng trên bảng.
* Về phía học sinh:
- Nguyên nhân chủ yếu do học sinh chưa nắm được các nét cơ bản cấu tạo chữ ghi âm , vần,
tiếng, dấu thanh chưa nắm vững quy trình viết chữ cái, quy trình nối các nét trong chữ cái
trong chữ ghi tiếng nên chữ viết mới sai độ cao
- Một số em chưa biết cách cầm bút và ngồi học đúng tư thế.
-Đa số học sinh không có thói quen rèn chữ viết, không có ý thức trong việc rèn chữ viết, thậm
chí không cần quan tâm đến chữ viết đẹp hay xấu.
- Vẫn còn 1 số học sinh chưa nghiêm túc nghe giảng lúc đầu, các em chưa cẩn thận khi viết,
các em muốn viết nhanh để hoàn thành bài viết nhằm nghi “ thành tích”với giáo viên và các
bạn. Một số học sinh đồ dung học tập còn thiếu , một số học sinh mắc bệnh về mắt.
- Ngoài ra còn có một số học sinh chưa ý thức được việc giữ gìn sức khỏe, đồ dùng học tập ,
bên cạnh còn có 1 số em hay ra mồ hôi tay.
Bên cạnh đó thực tế trường, lớp tôi có những thuận lợi và khó khăn sau:
2.1 Thuận lợi:
* Giáo viên:
-3-


- Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên môn . Tổ chức bồi dưỡng
giáo viên, cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, học hỏi giảng dạy.
- Được sự giúp đỡ của BGH trường; tổ chức thao giảng, dự giờ hàng tháng , tổ chức những tiết

của các em.
Căn cứ vào những khó khăn và thuận lợi với mục đích đề tài được đặt ra cùng với những
nguyên nhân nêu trên nên bản thân tôi đưa ra một số giải pháp, biện pháp và việc làm cụ thể
để góp phần giúp học sinh viết chữ đẹp như sau:
II. 3. Hướng giải quyết và biện pháp khắc phục
3.1. Phương hướng chung:
Việc đề ra những biện pháp mới của các nhân dựa trên quan điểm kế thừa , phát huy cải tiến
những biện pháp đã có và đề xuất thêm những biện pháp mới , những biện pháp này khắc phục
những hạn chế của giáo viên và học sinh , phối hợp trong việc viết chữ chưa đẹp đồng thời với
việc nâng cao ý thức của giáo viên và học sinh, phối hợp việc giáo dục ở cả nhà trường và gia
đình.
-4-


3.2. Những biện pháp cụ thể:
Việc đầu tiên mà giáo viên cần phải làm khi tiếp cận với học sinh để dạy viết chữ đẹp là khảo
sát trình đọ chữ viết của học sinh. Đây là một vấn đề quan trọng bởi vì trong thực tế chúng ta
muốn tiếp cận đối tượng của mình một cách thuận lợi thì trước hết phải hiểu được đối tượng
mà mình muốn tiếp cận . mặc dù mới vào lớp 1 nhưng cũng có 1 số em đã được học ở mẫu
giáo, trong hè, các lớp luyện chữ….Qua khảo sát này giáo viên phân loại được đối tượng để
rèn luyện vì nếu các em đã biết viết mà viết sai thì rất khó sửa chữa.
Muốn năng cao chất lượng chữ viết cho học sinh, người giáo viên cần nắm vững các yêu cầu
cơ bản của dạy tập viết ở lớp 2.
+ Kiến thức: Giúp học sinh có được những hiểu biết về đường kẻ, dòng kẻ, độ cao, cỡ chữ,
hình dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách giữa các chữ, chữ ghi tiếng, cách
viết các chữ viết thường, dấu thanh và chữ số.
+ Kỹ năng: Viết đúng quy trình - nét, viết chữ cái và liên kết các chữ cái tạo thành chữ ghi
tiếng theo yêu cầu liền mạch. Viết thẳng hàng các chữ trên dòng kẻ. Ngoài ra học sinh còn
được rèn luyện các kỹ năng như: tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở… bài kiểm tra cuối năm
là bài tập chép một đoạn trong bài tập đọc (không mắc quá 5 lỗi chính tả)


Ngay từ đầu năm học phải rèn cho các em ngồi học đúng tư thế, thoải mái, tránh gò bó .
Hướng dẫn kĩ càng và cho học sinh nắm chắc cầm bút, kĩ thuật rê bút (Là trường hợp viết đè
lên theo hướng ngược laị với nét chữ vừa viết. Trong trường hợp này cần viết nhẹ tay, nếu viết
nặng tay nét chữ sẽ viết nhòe ra ), lia bút ( Kĩ thuật lia bút là thao tác đứ bút trên không , được
dùng khi viết một chữ cái hay viết nối các chữ cái với nhau để đảm bảo tốc độ trong quá trình
viết , nét bút vẫn thể hiện liên tục nhưng không chạm vào giấy hoặc bảng) Hướng dẫn học sinh
nắm chắc quy ước , kí hiệu của giáo viên trong việc xác định tọa độ dòng kẻ ô li để khi dạy
học giáo viên sẽ dễ dạy và học sinh dễ tiếp thu . Với bản thân tôi quy định như sau; Với vở 5
ô li mmooix đơn vị ô li lớn có 6 dòng kẻ, vở tập viết có 5 dòng kẻ. Dòng kẻ dưới cùng là dòng
kẻ thứ nhất, các dòng kẻ khác là 2,3,4,5,6 theo thứ tự tiếp theo. Tương tự cũng quy định với
đường kẻ dọc như vậy, đường kẻ thứ nhất là đường kẻ đậm , các đường kẻ dọc tương tự được
tính như vậy. Ở giữa 2 dòng kể ( đường kẻ) là 1 ô li được tính theo chiều cao ( chiều rộng) và
đơn vị gọi là ô li nhỏ. Cách xác định tọa độ phaair dựa vào đường kẻ dọc , dòng kẻ ngang, các
ô li làm định hướng. Đây là trong những điều kiện để dạy chữ viết thành một quá trình được
thực hiện lần lượt bởi các thao tác mà hành vi ngòi bút đi qua. Qua quy ước này giáo viên
phân tích cách viết viết các con chữ, hướng dẫn các em xác định điểm đặt bút( điểm bắt đầu),
xác định điểm kết thúc, độ cao, rộng của các con chữ
Ví dụ: Hướng dẫn viết nét khuyết trên được hướng dẫn như sau: Điểm đặt bút( điểm bắt đầu)
từ dòng kẻ ngang thứ hai, trước đường kẻ dọc thứ nhất nửa ô li nhỏ, đưa bút lên dòng kẻ
ngang thứ ba( ngay tại vị trí dòng kẻ ngang thứ ba cát với đường kẻ dọc thứ nhất ) đi qua rộng
1 ô li lên đến dòng kẻ ngang thứ ba cắt với đường kẻ dọc thứ nhất và kéo xuống theo đường kẻ
dọc thứ nhất đến điểm kết thúc là dòng kẻ ngang t6huws nhất.
Giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh: Nét khuyết trên cao mấy ô li và rộng mấy ô?( cao 5 ô và
rộng 1 ô) Lưu ý: Cần lưu ý ở đây là tất cả các con chữ có nét móc hoặc nét xiên chiều rộng của
nó không tính vào nhằm để học sinh xác định được chiều rộng ô li một cách dễ dàng.
Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo nét và mỗi quan hệ về cách viết các chữ, sau khi học xong các
âm(chữ cái) giáo viên cần phải phân nhóm chung để luyện tập cho học sinh
Nhóm1: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong: c, o, ô, ơ, e, ê, x. Trọng tâm rèn luyện là nét
cong . Đây là nhóm chữ khó viết đẹp vì rất dễ méo, khó tròn , trên to dưới nhỏ.Trong nhóm

theo mẫu chữ, tìm sự giống nhau và khác nhau của chữ cái đã học trước đó trong cùng một
nhóm bằng thao tác so sánh tương đồng.
Chữ viết mẫu là hình thức trực quan ở tất cả các bài tập viết. Đây là điều kiện đầu tiên để các
em viết đúng. Có các hình thức chữ mẫu: chữ mẫu in sẵn, chữ phóng to trên bảng hoặc trên
máy chiếu hắt, chữ mẫu trong vở tập viết, hộp chữ mẫu… Tiêu chuẩn cơ bản của chữ mẫu là
phải đúng mẫu quy định, rõ ràng và đẹp.
Chữ mẫu có tác dụng:
- Chữ mẫu phóng to trên bảng hoặc trên máy chiếu sẽ giúp học sinh dễ quan sát, từ đó tạo điều
kiện để các em phân tích hình dáng và các nét chữ cơ bản, cấu tạo chữ cái cần viết trong bài
học.
- Chữ mẫu của giáo viên viết trên bảng sẽ giúp học sinh nắm được thứ tự các nét chữ của từng
chữ cái, cách nối các chữ cái trong 1 chữ nhằm đảm bảo yêu cầu viết liền mạch, viết nhanh.
- Chữ của giáo viên khi chữa bài, chấm bài cũng được quan sát như một loại chữ mẫu, vì thế
giáo viên cần ý thức viết chữ đẹp, đúng mẫu, rõ ràng.
Ngoài ra, để việc dạy chữ không đơn điệu, giáo viên cần coi trọng việc xử lý quan hệ giữa âm
và chữ, tức là giữa đọc và viết. Do đó trong tiến trình dạy tập viết, nhất là những âm mà địa
phương hay lẫn, giáo viên cần đọc mẫu. Việc viết đúng củng cố việc đọc đúng và đọc đúng
đóng góp vai trò quan trọng để đảm bảo viết đúng.
Phương pháp đàm thoại gợi mở:
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của tiết học. Giáo viên dẫn dắt học
sinh tiếp xúc với các chữ cái sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi, từ việc hỏi về các nét cấu tạo
chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến
việc so sánh nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với chữ cái đã phân tích.
Ví dụ: Khi dạy chữ a, giáo viên có thể đặt câu hỏi: chữ A gồm có bao nhiêu nét? là những nét
nào? chữ A cao mấy ô? độ rộng của chữ là bao nhiêu?…
Với những câu hỏi khó, giáo viên cần định hướng cách trả lời cho các em. Vai trò của giáo
viên ở đây là người tổ chức hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo chữ cái chuẩn bị cho giai
đoạn luyện tập viết ở phần sau.
Phương pháp luyện tập:
Giáo viên cần chú ý đến các giai đoạn của quá trình tập viết chữ. Việc hướng dẫn học sinh

Hưởng)
* Đổi mới phương pháp dạy học:
Muốn cải tiến quy trình dạy tập viết, điều không thể thiếu được là phải đổi mới phương pháp
dạy học, tiết tập viết càng cần phải tạo điều kiện để học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức (tự
quan sát, nhận xét, ghi nhớ), tự giác luyện tập và rút kinh nghiệm qua thực hành luyện viết
dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Có thể thực hiện những yêu cầu trên theo quy trình tiết tập
viết như sau:
A. Bài cũ: Kiểm tra (hoặc nhận xét bài cũ dùng ở tiết tập viết)
- Kiểm tra học sinh viết bảng con (1 - 2 em viết bảng lớp) chữ cái và từ ứng dụng ngắn gọn ở
bài trước. Giáo viên hướng dẫn chữa bài trên bảng (dùng phấn màu sửa chữ viết sai hoặc chưa
đúng mẫu), sau đó gợi ý để học sinh tự sửa chữ đã viết trên bảng con và giơ bảng cho giáo
viên kiểm tra, uốn nắn thêm (chú ý động viên kịp thời những học sinh viết đẹp tiến bộ.
B. Bài mới:
1- Giới thiệu bài: - Nêu nội dung và yêu cầu tiết dạy.
2- Hướng dẫn học sinh viết chữ:
- Giáo viên đưa chữ mẫu cho học sinh quan sát.
- Giáo viên gợi ý cho học sinh nhận biết, so sánh: Chữ gì? Gồm mấy nét? Nét nào đã học,
giống chữ nào đã học, phần nào khác?… (Có thể cho học sinh chỉ vào chữ mẫu trên bảng)
- Giáo viên hướng dẫn quy trình viết chữ:
-8-


+ Sử dụng chữ mẫu để học sinh quan sát.
+ Viết mẫu trên khung chữ thật thong thả cho học sinh theo dõi (ghi nhớ thứ tự các nét).
+ Viết mẫu trên dòng kẻ ở bảng lớp (hoặc trên bảng con) để học sinh nắm vững quy trình viết
chữ caí. Giáo viên viết mẫu sau đó dùng que chỉ lại để mô tả quy trình.
- Học sinh tập viết trên bảng con, giơ bảng để giáo viên kiểm tra uốn nắn, nhận xét kết quả
(chú ý về hình dáng, quy trình).
3- Hướng dẫn học sinh viết ứng dụng:
- Giáo viên giới thiệu nội dung viết ứng dụng và viết nội dung từ ứng dụng; sau đó gợi ý học

Qua một thời gian áp dụng những biện pháp trên, kết quả giữ vở và rèn viết chữ đẹp của tập
thể lớp 1A5 đã đạt được những kết quả cao như sau:
- Học sinh rất chăm và có ý thức trong việc rèn chữ viết và trình bày vở sạch đẹp, chữ viết của
các em có tiến bộ hơn hẳn so bới đầu năm học.
- Đa số các em nắm được cấu tạo chữ, mẫu chữ và kĩ thuật viết chũ.
- Học sinh viết chữ thành thạo, đẹp, chữ viết đúng quy định, chữ đứng nét đều.
-9-


- Học sinh còn biết tự mình thể hiện bài viết sang tạo như bài viết chữ nghiêng, có nét thanh,
nét đậm.
- 100% học sinh giữ vở sạch sẽ.
Kết quả Giáo viên rèn chữ cụ thể như sau:
TSHS
29

KẾT QUẢ XẾP LOẠI THÁNG 9
Loại A
Loại B
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
9
31,0%
11
37,9%

Loại C
SL

Loại B
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
17
48,27%
7
24,13%

Loại C
SL
Tỉ lệ %
5
17,2%

TSHS
29

KẾT QUẢ XẾP LOẠI THÁNG 12
Loại A
Loại B
SL
Tỉ lệ %
SL
Tỉ lệ %
19
65,51%
6
20,68%

Lớp có nhiều học sinh viết đẹp nhất tổ;

-10-


Không những các em chỉ hoạt động tốt trong phong trào rèn chữ viết, bên cạnh đó các em đã
thực hiện tốt được nề nếp, đẩy mạnh được chất lượng học tập của mình.
KẾT QUẢ XẾP LOẠI HAI MẶT GIÁO DỤC HỌC KÌ I ( Năm 2012 – 2013)
TSHS
29

HSĐXL
29

Hạnh kiểm

Học lực ( Học sinh khen thưởng)

THĐủ

THCĐủ

Học sinh giỏi

Học sinh tiên tiến

SL

Tỉ lệ


- Thường xuyên tổ chức các buổi chuyên đề đánh giá và rút kinh nghiệm để nâng cao chất
lượng vở sạch chữ đẹp của trường của từng khối lớp.
- Duy trì các phong trào thi đua “ Giữ vở sạch- viết chữ đẹp”. Hội thi viết chữ đẹp cấp trường.
- Trưng bày các bài viết đẹp , tập vở sạch cho học sinh toàn trường tham khảo.
- Đưa tiêu chuẩn “Giữ vở sạch- viết chữ đẹp” vào đánh giá thi đua của thầy và trò.
- Nhà trường tạo điều kiện về thiết bị dạy học: như chuẩn bị bảng dành cho giờ học Tập Viết
có kẻ ô đúng theo quy định.
- Cung cấp mẫu chữ viết Tập Viết đầy đủ trên mỗi giáo viên / lớp.
- Mua sắm 1 số tài liệu về luật pháp để những tiết dạy trống, giờ ra chơi giáo viên đọc.
-11-


* Đối với giáo viên:
- Cần thấy được vị trí, tầm quan trọng của phân môn Tập Viết ở các lớp. Mỗi giáo viên phải là
tấm gương sang cho học sinh noi theo, từ tư thế ngồi viết , cách cầm bút đến chữ viết bảng,
cách trình bày bảng, cách chấm bài, nhận xét cho học sinh.
Sáng kiến kinh nghiệm mà bản thân đã thực hiện tuy mang lại hiệu quả, song phạm vi nghiên
cứu còn hạn hẹp và thời lượng nghiên cứu còn ít, rất mong được sự đóng góp chân thành của
đồng nghiệp, các cấp lãnh đạo để đề tài được hoàn thiện hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO.
-

NhỮNG điểm đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học Tiểu học.

-

Phương pháp dạy học, chữ viết Tiếng Việt – Giáo trình sư phạm

-

2.1. Thuận lợi………………………………………………………………… Trang 04
2.2. Khó khăn………………………………………………………………… ...Trang 05
I.3. Hướng giải pháp và biện pháp khắc phục…………………………………..Trang 05
-13-


3.1. Phương hướng chung……………………………………………………….Trang 05
3.2 Những biện pháp cụ thể………………………………………………… …Trang 05
I.4. Kết quả đạt được…………………………………………………………….Trang 11
III Phần kết luận, kiến nghị…………………………………………………….Trang 13
III.1. Kết luận………………………………………………………………… . Trang 13
III.2. Kiến nghị đè xuât………………………………………………………. Trang 13

-14-




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status