A: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề xuất Sáng kiến kinh nghiệm:
Xuất phát từ đặc điểm tình hình chung của học sinh lớp 1: Các em chuyển từ
hoạt động vui chơi là chính sang hoạt động học tập, sẽ gò bó hơn về thời gian, bị
ràng buộc chặt chẽ bởi các nội quy – quy định của lớp học; đặc biệt các em hoàn
toàn lạ lẫm với trường lớp, bạn bè và thầy cô giáo.
Lần đầu tiên cắp sách đến trường với bao bỡ ngỡ, chắc chắn rằng cả cha mẹ,
thầy cô cũng như chính bản thân các em đều rất mong mình học được nhiều, biết
được nhiều. Dù người lớn chúng ta mong mỏi ở trẻ những điều hết sức sơ đẳng:
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan”
Nhưng những cái “biết” ấy luôn phải nằm trong khuôn khổ được xã hội cho
phép. Tất cả chúng ta không ai có thể tự ý đi ra ngoài những nguyên tắc, chuẩn
mực cơ bản của cuộc sống. Trẻ em lại càng không thể. Tương lai, sự trường tồn và
phát triển của mỗi đất nước, mỗi dân tộc luôn phụ thuộc vào thế hệ trẻ: “ Con trẻ
là cái mầm, cái búp của cả dân tộc. Con trẻ có được nuôi dưỡng, giáo dục hẳn hoi
thì dân tộc mới có thể tự cường tự lập.”
(Trích “Trẻ em Việt Nam”- Hồ Chí Minh 1942 ).
Chính vì lý do đó, ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, Đảng và Nhà nước ta
đều giành sự quan tâm đặc biệt chu đáo cho trẻ thơ.
Với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thấm nhuần lời dạy của chủ tịch Hồ
Chí Minh:
“Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người”
Nhà nước và nhân dân ta luôn quan tâm việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em, coi
đây là sự nghiệp cao quý, là trách nhiệm to lớn đối với thế hệ tương lai, là tiền đề
của dân tộc, của đất nước.
Hơn ai hết, người Giáo viên chủ nhiệm nói riêng, và nhà giáo nói chung
phải thấy được trọng trách của mình trong sự nghiệp trồng người. Làm sao cho học
sinh yêu thích học tập và hăng hái tham gia các hoạt động tập thể; làm cho các em
cảm thấy trường học là ngôi nhà thứ hai của mình và mỗi ngày đến trường của các
nếu không có giáo dục sớm, trẻ cũng tiếp thu một cái gì đó ngoài dự kiến của chúng
ta. Những cái đó nếu là điều sai trái, việc giáo dục lại sẽ là khó khăn gấp bội.
Với hào hứng được tiếp thu cái mới lạ trong hoạt động học tập giúp các em
có thể tiếp thu các chuẩn mực đạo đức và kiến thức ở dạng hành vi cụ thể không
quá khó khăn, từ đó làm nẩy nở những tình cảm, thói quen đạo đức và những tư
duy của các em. Và nếu chúng ta không quan tâm giáo dục ở thời điểm này thì đó
là điều sai lầm mà chính chúng ta là người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả đó .
4. Phạm vi thực hiện:
- Năm học 2013 – 2014.
Trong khuôn khổ của sáng kiến này, tôi xin báo cáo các kinh nghiệm đã được
đúc kết và vận dụng từ những năm học trước vào lớp 1A (năm học 2013-2014).
B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Quá trình thực hiện:
a. Khảo sát thực tế:
a.1.Tình trạng thực tế khi chưa thực hiện.
Năm học 2013 – 2014, lớp 1A do tôi chủ nhiệm, ở thời điểm đầu năm học có
31 HS, trong đó: Nam 19 – Nữ 12. Đến tháng 12/2013 chuyển đến 01 em, đưa sĩ
số lên 32 HS: Nam 20, nữ 12. Phần lớn các em cùng độ tuổi đã qua lớp mẫu giáo 5
tuổi nên đa số đã nhận được mặt chữ cái và chữ số. Song bên cạnh đó vẫn còn một
số em tiếp thu chậm chưa thuộc hết 29 chữ cái và đều xuất thân là con em nông
dân. Các em còn quá nhỏ, mải chơi, nhiều em rất hiếu động chưa ý thức được việc
học tập của mình nên lớp học chưa có nề nếp.
a.2. Số liệu điều tra trước khi thực hiện.
3
Học tập
Tốt
Kỉ luật
%
SL
%
12
38,7
19
61,3
15
48,4
16
51,
6
20
64,
5
11
từng môn học tôi hướng dẫn kỹ càng về cách chuẩn bị, sắp xếp sách vở, đồ dùng
học tập cho từng môn. Các em có thể nhận biết các loại sách vở qua màu sắc, hình
ảnh ở ngoài bìa và nội dung bài học của từng ngày. Đồ dùng học tập của các em
tôi yêu cầu ngay từ đầu năm học mỗi em có hai bút chì đã gọt đầu, tẩy, chuốt,
4
thước, bộ đồ dùng học Toán và Tiếng Việt, đến đầu HK II học sinh phải có thêm
bút mực nữa.
Đồng thời qua buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi nêu yêu cầu kết hợp giữa
giáo viên ở lớp và phụ huynh ở nhà trong việc hướng dẫn các em chuẩn bị sách vở,
dụng cụ học tập cho buổi học hôm sau.
Những công việc này học sinh cần thực hiện một cách cụ thể và đều đặn. Để
học sinh không quên việc chuẩn bị sách vở cho ngày hôm sau, bao giờ tôi cũng
giao việc về nhà: đọc lại phần bài vừa học, sau đó các em sẽ phải chuẩn bị sách vở
(cùng với sự giúp đỡ của cha mẹ học sinh). Hàng ngày các em đều qua sự kiểm tra
của Cán sự lớp trong 15 phút sinh hoạt đầu buổi về việc chuẩn bị sách vở đồ dùng
học tập, từ đó giáo viên chủ nhiệm nắm được cụ thể từng ngày thực hiện của các
em. Như vậy việc đọc lại bài đã trở thành việc nhắc nhở các em phải chuẩn bị sách
vở cho hôm sau mà các em không quên được.
- Việc học sinh ôn lại bài học ở nhà và chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học
tập, rất cần thiết cho việc xây dựng nề nếp học tập của các em. Việc này cần trở
thành một thói quen, một phần không thể thiếu của ngày đi học. Có như vậy mới
phát huy tác dụng trong việc rèn các em vào nề nếp trong học tập. Công tác này
giáo viên cũng cần kiểm tra thường xuyên (thông qua các Cán sự lớp) để các em ý
thức được việc học tập của mình. Đồng thời tôi cũng luôn rèn luyện tác phong giờ
nào việc ấy tạo ấn tượng tốt cho học sinh; luôn trau dồi kiến thức, xây dựng các giờ
học mẫu mực, vui vẻ nhẹ nhàng mà hiệu quả giúp học sinh thêm hứng thú trong
học tập.
Trong từng tiết học, mục đích của giáo viên là đảm bảo chất lượng dạy và
- Việc sắp xếp sách vở, đồ dùng học tập cũng ảnh hưởng tới chất lượng học
tập của các em. Vì thế ngay trong từng tiết học tôi đã hướng dẫn các em cách sắp
xếp đồ dùng sách vở cho khoa học để thao tác cho thuận tiện theo yêu cầu của GV
trong tiết học.
- Kỹ thuật cầm viết, cách để tay khi viết, khoảng cách giữa mắt với sách vở
khi đọc, viết; cách cầm sách khi đọc và tư thế ngồi học cũng ảnh hưởng rất lớn đến
thói quen, sức khỏe và kết quả học tập của học sinh. Vì nếu giáo viên không quan
tâm và thường xuyên nhắc nhở uốn nắn, lâu ngày các em sẽ có thói quen không
đúng dẫn đến các bệnh học đường. Chính vì thế tôi đã thường xuyên nhắc nhở các
em ngồi học đúng tư thế để góp phần tránh các bệnh học đường.
- Rèn thói quen học tập ở nhà cũng là một việc rất quan trọng trong việc hình
thành nề nếp học tập cho học sinh lớp 1. Tuy các em đã được học 2 buổi trên ngày,
kiến thức của các môn học đã được hoàn thành ngay trên lớp nhưng chúng ta vẫn
cần rèn cho các em thói quen tự học và soạn sách vở, đồ dùng học tập. Điều này tôi
đã trao đổi và thống nhất với cha mẹ học sinh qua buổi họp đầu năm.
Hằng ngày đến lớp tôi thường xuyên gần gũi, chuyện trò ân cần với các em.
Tôi dạy cho các em biết ăn ở sạch sẽ, biết đoàn kết giúp đỡ bạn, biết sống trung
thực, thật thà. Trong lớp, tôi xây dựng các mô hình đôi bạn học tập như: "Đôi bạn
cùng tiến", "Đôi bạn vượt khó" ...tôi xếp những em hiếu động ngồi cạnh những em
ngoan để các em dễ noi gương và học tập bạn mình. Đối với những em học kém tôi
tranh thủ thời gian để kèm riêng trong những giờ giải lao, giờ sinh hoạt đầu
buổi..... Đối với những em giỏi, tôi có kế hoạch bồi dưỡng và tăng cường lượng bài
tập khó, giúp các em phát huy hết khả năng của mình, góp phần đưa chất lượng
giáo dục của Nhà trường ngày một cao hơn.
Song song với các hoạt động học tập, tôi còn tổ chức cho các em vui chơi
giải trí, rèn luyện sức khoẻ qua các tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp. Hoạt động này
6
giúp các em sảng khoái tinh thần, mở mang trí tuệ, tăng cường sức khoẻ, làm cho
*. Kết hợp với giáo viên bộ môn:
Ngay từ khi học sinh bước vào lớp 1, ngoài cô giáo chủ nhiệm lớp, các em
còn được học các thầy, cô giáo bộ môn như: Hát nhạc, Mỹ thuật, Thể dục…nên
việc rèn nếp cho học sinh là rất cần thiết. Giáo viên chủ nhiệm kết hợp với giáo
viên bộ môn để cùng rèn nề nếp cho học sinh từ tư thế ngồi, cách cầm bút, cách
7
phát biểu…Nếp này phải được rèn thường xuyên nhắc nhở để các em tạo thói quen
và trở thành điều kiện thuận lợi cho việc học tập ở những lớp trên.
Thời gian đầu, giáo viên bộ môn còn rất ngại và sợ mất thời gian, tôi đã phân
tích với các đồng chí giáo viên bộ môn và đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của họ
cho nên nề nếp học tập của các em ở lớp tôi được xuyên suốt và trở thành thói quen
hàng ngày. Các đồng chí giáo viên bộ môn cũng rất hài lòng và rất vui khi các em
đã thật sự vào nề nếp, giáo viên chỉ việc giảng dạy và không phải tốn quá nhiều
thời gian trong việc ổn định tổ chức trước mỗi tiết học.
*Kết hợp với phụ huynh học sinh: Buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã đề ra
yêu cầu để phụ huynh cùng phối hợp rèn nề nếp cho con em họ, như:
- Hằng ngày, kiểm tra sách vở của các em.
- Nhắc nhở con học và làm bài tập cô giao.
- Chuẩn bị sách vở và đồ dùng học tập cho con theo thời khoá biểu.
- Giáo dục con ý thức gọn gàng, ngăn nắp khi học tập, vui chơi.
- Sinh hoạt điều độ, đúng thời gian biểu, tránh tình trạng vừa học vừa chơi.
- Thường xuyên trao đổi với giáo viên chủ nhiệm về tình hình học tập của
con qua điện thoại hoặc qua sổ liên lạc.
b.5. Nêu gương, khích nệ và khen thưởng:
Nắm được tâm lý của học sinh tiểu học rất thích được khen, thích được động
viên, nên tôi hướng dẫn tổ trưởng lập bảng chấm thi đua theo các mặt sau:
THEO DÕI THI ĐUA, TUẦN: …………..
Từ:
Chấm hàng ngày:
Cách chấm :
Làm tốt:
ghi dấu +
8
Làm chưa tốt:
ghi dấu -
Từ đầu năm học, giáo viên kết hợp cùng với hội cha mẹ học sinh của lớp,
lập bảng thi đua hàng ngày và gắn hoa hàng tuần cho mỗi học sinh về 3 mặt: Học
tập, Kỷ luật, Vệ sinh. Nếu học sinh thực hiện tốt mặt nào thì được cắm hoa mặt đó.
Cuối tuần, mỗi học sinh được 5 hoa xanh sẽ được gắn hoa vàng. Học sinh nào đạt
được từ 3 hoa màu vàng trở lên trong tháng thì được gắn hoa đỏ. Hình thức thi đua
đó giúp cho học sinh vui thích, phấn khởi để học tập tốt. Sau 4 tuần thi đua, học
sinh đạt cả 3 mặt đều tốt sẽ được nhận quà thưởng. Cũng chính có hình thức thi
đua, các em càng phấn khởi và nỗ lực thi đua học tập tốt, kỷ luật tốt và giữ gìn vệ
sinh tốt.
- Trong lớp tôi có một số học sinh thường thích mình là nhân vật trung tâm,
muốn được làm mẫu để các bạn chú ý tán thưởng và đề cao mình. Nắm được đặc
điểm tâm lý đó tôi thường tranh thủ cho các em có dịp thể hiện mình. Trong giờ
học toán, một số học sinh thông minh nhanh nhẹn thường làm toán xong trước các
bạn, mỗi khi làm bài xong số em đó thường ngoảnh đi ngoảnh lại khoe với các bạn,
nhưng bài làm thường trình bày rất ẩu. Để chấn chỉnh điều đó, tôi cho các em thi
đua trình bày bài trong bảng nhóm, kèm theo điều kiện “Nếu trình bày đúng và đẹp
cô sẽ thưởng một bông hoa xanh, ghi thành tích để xét thưởng vào cuối tuần”. Vì
chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập ở nhà đến việc lấy vở, cất vở khi chuyển tiết,
nếp giơ tay phát biểu, chú ý nghe giảng, giữ gìn sách vở đồ dùng học tập, làm bài,
viết bài sao cho theo kịp lớp, đảm bảo thời gian học. Giáo viên là người mẹ thứ hai
của các em ở trường, vì vậy trong các giờ học trên lớp, tôi uốn nắn các em từ
những động tác ngồi ngay ngắn, không tì ngực vào cạnh bàn, hay ngả ngốn trên bàn
học, vừa ảnh hưởng tới sức khoẻ, vừa gây không khí uể oải trong lớp học. Trong
từng tiết học, từng công việc cụ thể các em đều được rèn tính ngăn nắp, tính khoa
học, nhanh nhẹn, khẩn trương để các em chủ động trong việc tiếp thu kiến thức
mới.
2. Kết quả đạt được:
Qua một thời gian vận dụng các biện pháp nêu trên, tôi thấy lớp tôi có
chuyển biến rõ rệt về nề nếp cũng như chất lượng học tập. Trong giờ học sự kết hợp
của cô giáo và học sinh rất nhịp nhàng, các em tiếp thu bài tốt, không khí học tập
sôi nổi, thực sự “ học mà vui, vui mà học”. Các em rất hứng thú say mê trong học
tập. Như vậy rõ ràng việc làm tốt công tác chủ nhiệm lớp không những làm cho các
em luôn có thói quen chuẩn bị tốt, đầy đủ đồ dùng học tập, có ý thức nề nếp trong
từng môn học mà còn giúp các em chủ động sáng tạo hơn khi học tập.
Xếp loại các mặt : Học tập, Kỷ luật, Vệ sinh qua các tháng như sau:
(Sĩ số lớp: 32 học sinh)
Học tập
Tháng
Kỉ luật
Chưa
Vệ sinh
Chưa
Tốt
7
Tháng 1 + 2
25
7
27
5
28
4
tốt
Kết quả hai mặt hạnh kiểm và học lực của lớp như sau:
(Sĩ số lớp: Giữa HKI: 31 HS, cuối HKI: 32 HS)
10
Tốt
tốt
Hạnh kiểm
Giai
NX giỏi: 12
38, 7
A: 18
58,1
NX Khá: 14
45,2
B: 13
41,9
NX TB: 5
Thực hiện đầy đủ: 32
Số
lượng
16,1
NX giỏi: 14
43,7
A: 19
của cả chín môn học trong chương trình. Học sinh có điều kiện để học tập tốt và
thấy được niềm vui khi đến trường học, được bộc lộ những suy nghĩ và việc làm
của mình trước cô giáo và các bạn. Tình bạn, tính cộng đồng trong tập thể lớp 1A
được xây dựng và củng cố bền vững để các em có điều kiện nuôi dưỡng những ước
mơ tốt đẹp về mái trường, về thầy cô và bạn bè.
11
2. Kiến nghị về việc áp dụng, triển khai SKKN :
2.1. Trong việc giáo dục nề nếp cho học sinh hiện nay, ngoài việc giáo viên
cần làm gương tốt : ‘‘Mỗi thầy cô là một tấm gương sáng về đạo đức cho học sinh
noi theo’’ thì việc nêu gương – khen thưởng những học sinh thực hiện tốt nề nếp là
rất cần thiết. Tôi thiết nghĩ việc này BGH Nhà trường và TPT Đội cần quan tâm
nhiều hơn để có kế hoạch tuyên dương những cá nhân, những tập thể lớp có nề nếp
học tập tốt trong những buổi sinh hoạt ngoại khóa toàn trường. Vì đặc thù của địa
phương, của trường, các lớp ở điểm lẻ như lớp 1A tôi phụ trách, không có điều
kiện tham dự chào cờ đầu tuần, nên còn hạn chế trong việc học sinh được biết
những tấm gương điển hình ở ngay trong trường mình để học tập, noi theo. Có như
vậy hiệu quả giáo dục nề nếp mới tăng cao, học sinh chắc chắn sẽ vui vẻ thực hiện,
đua nhau thực hiện tốt các quy định mà Ban thi đua Nhà trường đưa ra.
2.2. Về phía đội ngũ thầy cô giáo chủ nhiệm: cần tỉ mỉ - quan tâm hơn nữa
để xây dựng những quy định – nội quy cho lớp mình phụ trách với tất cả trách
nhiệm và tình thương đối với học sinh, để công tác chủ nhiệm lớp đạt hiệu quả cao,
góp phần đưa chất lượng giảng dạy – học tập của trường ngày một cao hơn. .
Trên đây tôi đã trình bày một số việc làm trong công tác chủ nhiệm của mình
để giúp học sinh có nhiều niềm vui khi đến trường. Những việc đó thành hình khó
đặt tên, càng không thể diễn ra trong khoảng thời gian nhất định. Tôi thực hiện nó
lúc có thể được, khi tiếp xúc với học sinh. “Học sinh đến trường trong niềm vui” là
một khái niệm rộng, do tác động của nhiều yếu tố: Con người, môi trường, hoàn
Ngô Thị Bích Thủy
Chủ tịch hội đồng
(Ký tên, đóng dấu)
13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Trẻ em Việt Nam - HỒ CHÍ MINH - 1942 - NXB Chính trị Quốc gia.
2. Tâm lý học – Phạm Minh Hạc (Chủ biên) - NXB giáo dục (1993)
4. Phương pháp Giảng dạy TNXH - (Dự án phát triển giáo viên tiểu học –
NXB GD năm 2004)
4. Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học Sư Phạm – Nguyễn Kế Hào (Chủ biên)
– NXB ĐHSP (2009)
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU :
Trang
1. Lý do đề xuất SKKN ............................................................: 01
2. Mục đích của SKKN.............................................................: 02
3. Cơ sở và đối tượng của SKKN.............................................: 03
14
4. Phạm vi thực hiện..................................................................: 04
B : NỘI DUNG ĐỀ TÀI :
1. Quá trình thực hiện:............................................................: 04