ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐẶNG THỊ BÍCH TRÂM
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN
ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đà Nẵng - Năm 2018
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐẶNG THỊ BÍCH TRÂM
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN
ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60.31.01.05
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. Võ Xuân Tiến
Đà Nẵng - Năm 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi.
1.3.1. Nhân tố phi kinh tế tác động đến công tác BTXH: ....................... 29
1.3.2. Nhân tố phi kinh tế tác động đến công tác BTXH: ....................... 30
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BTXH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ
XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM THỜI GIAN QUA ....................... 31
2.1. ĐIỂM CỦA THỊ XÃ ĐIỆN BÀN ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC
BTXH ............................................................................................................. 31
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên: ........................................................................ 31
2.1.2. Đặc điểm xã hội: ........................................................................... 32
2.1.3. Đặc điểm kinh tế: .......................................................................... 34
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BTXH TRÊN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH
QUẢNG NAM ................................................................................................ 36
2.2.1. Thực trạng về đối tượng được thụ hưởng chính sách BTXH ............ 36
2.2.2. Thực trạng về mức BTXH: ........................................................... 52
2.2.3. Thực trạng về các phương thức BTXH: ....................................... 57
2.2.4. Thực trạng về chất lượng công tác BTXH:................................... 59
2.2.5. Thực trạng về mạng lưới công tác BTXH .................................... 60
2.2.6. Thực trạng về nguồn BTXH: ........................................................ 61
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC BTXH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ
ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM ................................................................ 63
2.3.1. Thành công và hạn chế: ................................................................ 63
2.3.2. Nguyên nhân những hạn chế trong công tác BTXH ..................... 67
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BTXH TRÊN
ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM ............................. 70
3.1. CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
BTXH .............................................................................................................. 70
3.1.1. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác BTXH ............... 70
3.1.2. Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Điện Bàn trong thời gian tới ....... 71
3.1.3. Yêu cầu khi xây dựng giải pháp.................................................... 72
TGXH
Trợ giúp xã hội
3
CTTX
Cứu trợ xã hội
4
BHXH
Bảo hiểm xã hội
5
BHYT
Bảo hiểm y tế
6
TGTX
Trợ giúp thường xuyên
7
gian qua
Trang
31
33
34
35
36
Thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ
2.6.
cấp thường xuyên ở thị xã Điện Bàn giai đoạn năm
38
2012-2014
2.7.
Tỷ lệ từng nhóm đối tượng BTXH tại thị xã Điện Bàn
trong giai đoạn năm 2012 – 2014
40
Thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ
2.12.
2.13.
Đối tượng bảo trợ xã hội ở từng xã, phường trên địa
bàn thị xã Điện Bàn thời gian qua
Thực trạng đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng cứu
trợ đột xuất ở thị xã Điện Bàn thời gian qua
Thực trạng hệ số trợ cấp thường xuyên ở thị xã Điện
Bàn giai đoạn 2012 - 2014
Trang
48
50
52
Thực trạng nguồn kinh phí BTXH chi cho đối tượng được
2.14.
hưởng trợ cấp thường xuyên ở thị xã Điện Bàn giai đoạn
53
năm 2012 – 2014
Thực trạng nguồn bảo trợ chi cho đối tượng bảo trợ xã
2.15.
hình
2.1.
Tên hình
Trang
Tháp dân số thị xã Điện Bàn ước tính đến năm 2016
33
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nước ta là một đất nước đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc, bên cạnh đó lại thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ,
biến đổi khí hậu,…gây ra nhiều thiệt hại to lớn về người và của nên số người
cần bảo trợ xã hội (BTXH) của Việt Nam rất lớn. Cùng với đó, trong giai
đoạn hiện nay nước ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nhanh làm tăng đội ngũ người làm công ăn lương, cuộc sống của họ phụ
thuộc chủ yếu vào nguồn thu nhập từ việc làm thuê. Khi có các trường hợp bị
ốm đau, tai nạn, thất nghiệp, … xảy ra sẽ khiến cho cuộc sống của những
người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương trở nên bất lợi, khó
khăn.
Cuộc sống của chúng ta không phải lúc nào cũng gặp những thuận lợi,
may mắn mà ngược lại luôn bị đe dọa trước những biến cố, rủi ro, bất hạnh,…
vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi rơi vào những tình huống như vậy, nhu
cầu khắc phục khó khăn, đảm bảo cuộc sống, vươn lên hòa nhập cộng đồng
thời trong công tác bảo trở xã hội tại địa phương để có thể đáp ứng được yêu
cầu mới.
Từ những điều đó, có thể thấy rằng công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn
thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam là một trong những công tác quan trọng
hàng đầu của địa phương.
Trên cơ sở các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn thực
hiện của các Bộ, ngành và văn bản chỉ đạo hướng dẫn của các cấp, các ngành
cấp trên, trong thời gian quan UBND thị xã đã có văn bản chỉ đạo các ban,
ngành, địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các chính sách BTXH
đến với người dân, đồng thời chỉ đạo tiếp tục rà soát, lập hồ sơ kịp thời giải
quyết trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ cấp đột xuất cho những đối tượng phát
sinh.
3
Tuy nhiên, công tác BTXH trên địa bàn thị xã vẫn còn tồn tại nhiều bất
cập như xác định sai đối tượng được bảo trợ, chi trả sai đối tượng, mức chi trả
chưa đúng quy định, …một số chính sách trợ giúp chưa được triển khai kịp
thời, một bộ phận đời sống người dân vẫn còn khó khăn,…Vì vậy tôi đã chọn
đề tài “Hoàn thiện công tác BTXH trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến BTXH.
- Phân tích thực trạng công tác BTXH tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam trong những năm qua. Chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những
mặt hạn chế, tồn tại của công tác BTXH.
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác BTXH trên địa bàn
thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo;
Luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về BTXH
Chương 2: Thực trạng công tác BTXH trên địa bàn thị xã Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác BTXH trên địa bàn thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
- “Bảo trợ xã hội ở Việt Nam: khái niệm, thực trạng và giải pháp” của
Đặng Nguyên Anh [2] cho rằng đối với Việt Nam, BTXH như một lưới an
toàn nhằm bảo đảm sự an toàn về đời sống của người dân khi họ bị rơi vào
hoàn cảnh rủi ro và tự bản thân không khắc phục được. Các hoạt động cứu trợ
5
xã hội (CTXH), giảm nghèo nhằm hạn chế nguy cơ dễ bị tổn thương ở những
đối tượng yếu thế, mất nguồn thu nhập và sinh kế, và không có điều kiện tiếp
cận được các dịch vụ xã hội cơ bản. Đồng thời tác giả cũng đưa ra khái niệm:
“Bảo trợ xã hội là những giải pháp, sáng kiến nhằm đem lại thu nhập và dịch
vụ cơ bản cho các cá nhân và nhóm yếu thế, bảo vệ họ khỏi các nguy cơ đe
dọa sinh kế, đói nghèo, giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương, thúc đẩy công bằng
xã hội”. Bên cạnh đó, BTXH xem xét sự trợ giúp dưới ba hình thức: hỗ trợ
thu nhập, trợ cấp xã hội và dịch vụ xã hội.
- Theo quan điểm của Lê Bạch Dương và các tác giả (2005), [16] cho
rằng, BTXH bao gồm ba chức năng chính là: các biện pháp nhằm nâng cao
năng lực, bao gồm chủ yếu là những chính sách vĩ mô, chiến lược phát triển
và các biện pháp thể chế hỗ trợ; các biện pháp phòng ngừa nhằm giúp cho
người dân khỏi rơi vào tình trạng khủng hoảng và cần đến sự bảo trợ; các biện
pháp bảo vệ, bao gồm lưới an toàn theo nghĩa hẹp dành cho những đối tượng
bị tổn thương thông qua các khoản quyên góp bằng tiền mặt, hiện vật hoặc
Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế như thiếu tính hệ thống, thiếu tính liên
kết hỗ trợ lẫn nhau, tỷ lệ bao phủ còn thấp,…
- “Xây dựng và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” của
Mai Ngọc Cường [11] đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của chính sách an
sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường; thực trạng hệ thống chính sách an
sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay; phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn
thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam. Cuốn sách đã chỉ rõ tác
động mặt trái của kinh tế thị trường: tình trạng phân hóa giàu nghèo, sự bất
bình đẳng trong thu nhập, nguy cơ thất nghiệp và bệnh tật, đói nghèo.
- “Chính sách an sinh xã hội – thực trạng và giải pháp” của Lê Quốc Lý
[10] đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về những trở ngại trong thực thi
chính sách anh sinh xã hội; những trở ngại trong thực thi chính sách an sinh
xã hội ở Việt Nam gần đây thông qua việc đánh giá nhóm cán bộ thực thi và
7
đối tượng thụ hưởng chính sách; trên cơ sở mục tiêu, quan điểm thực thi
chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020 cuốn sách đã nêu lên 5
nhóm khắc phục những trở ngại trong thực thi chính sách an sinh xã hội ở
nước ta: thiết kế và thực thi chính sách an xã hội, xây dựng và hoàn thiện hệ
thống luật pháp, hoàn thiện bộ máy thực thi chính sách an sinh xã hội, nâng
cao nhận thức của đối tượng thụ hưởng về chính sách an sinh xã hội.
- “An sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam” của Mai Ngọc Anh [1] đã đề cập đến một số vấn đề thực tiễn và cấp
bách đang được đặt ra trong thực tiễn nước ta: tác giả đã phân tích và làm rõ
các hình thức ASXH truyền thống sẽ tồn tại và phát triển ra sao trong bối
cảnh xuất hiện những hình thức ASXH hiện đại? Những hình thức hiện đại có
thể thay thế các hình thức truyền thống của ASXH trong nông thôn hay
không? Nếu có, thì mức độ thay thế sẽ như thế nào? Với tình trạng thu nhập
thấp như hiện nay, Việt Nam có thể xây dựng được các chính sách ASXH
công tác BTXH trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, để từ đó đề ra
giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện công tác bảo trợ trong thời gian tới.
Từ đó cho thấy rằng việc lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác bảo trợ
xã hội trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” để làm đề tài nghiên
cứu là cần thiết.
9
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BTXH
1.1. KHÁI QUÁT VỀ BTXH
1.1.1. Một số khái niệm
a. Bảo trợ xã hội
Có thể thấy trong những năm gần đây thuật ngữ “bảo trợ xã hội” thường
xuyên xuất hiện trong các tài liệu nghiên cứu và các thảo luận chính sách
trong nhiều hội thảo. BTXH là một thuật ngữ được dịch ra từ cụm từ social
protection. Tuy nhiên khái niệm này còn phụ thuộc vào cách sử dụng và cách
đặt vấn đề ở mỗi quốc gia.
Theo Ngân hàng Thế Giới (WB) định nghĩa: “BTXH là những biện pháp
công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó và kiềm
chế được nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tốn thương
và những bấp bênh thu nhập.” [2]
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì : “BTXH là việc cung cấp
phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập
thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức
sống thấp. ”[2]
Theo Viện nghiên cứu Phát triển Hải ngoại (ODI): “BTXH là những
hành động công ích nhằm giảm thiểu tính tổn thương, nguy cơ gây sốc và sự
bần cùng hóa, là những điều không thể chấp nhận được về mặt xã hội.”[2]
những đặc điểm chung là sự bảo đảm an toàn thu nhập ở mức tối thiểu thông
qua hệ thống các chính sách can thiệp nhằm hạn chế các rủi ro liên quan đến
nhu cầu cơ bản nhất của con người: rủi ro về sức khỏe, thiếu hoặc mất việc
làm, tuổi già, trẻ em, tàn tật,… dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh
viễn so với mức sống tối thiểu.
Trong phạm vi bài nghiên cứu này, tác giả chọn khái niệm theo quan
11
điểm Thuật ngữ Lao động Thương binh Xã hội của Bộ Lao động – Thương
binh và xã hội (1999) [6] làm định hướng chính.
b. Cơ sở của công tác BTXH
- Công bằng xã hội
Công bằng xã hội là một nguyên tắc phân phối lợi ích, thước đo của nó
là sự bình đẳng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, được thực hiện
dựa trên sự tự nguyện của các cá nhân. Đó là một giá trị cơ bản trong các mối
quan hệ xã hội như: quan hệ giữa mức độ lao động và mức độ thu nhập, quan
hệ giữa các thành viên xã hội với hoàn cảnh kinh tế, mức độ phát triển trí lực
khác nhau và cơ hội tham gia vào quá trình giáo dục, y tế, hưởng thụ các sản
phẩm văn hóa, thể thao,…
Các nhà kinh tế sử dụng hai khái niệm để bàn về vấn đề công bằng xã
hội. Đó là công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc.[36]
Công bằng theo chiều ngang là sự đối xử như nhau đối với những người
như nhau. Có nghĩa là không phân biệt giới tính, dân tộc, độ tuổi,… những
người có kết quả hoạt động kinh tế như nhau thì được đối xử như nhau.
Công bằng theo chiều dọc là sự đối xử khác nhau đối với những người
có những khác biệt bẩm sinh hoặc có các điều kiện xã hội khác nhau do có
khả năng và kỷ năng lao động khác nhau, cường độ làm việc khác nhau, sự
khác nhau về giáo dục – đào tạo, thừa kế và chiếm hữu tài sản khác nhau,
gánh chịu rủi ro khác nhau,.. Thực chất ở đây là lấy của người giàu, chia cho
xã hội (TGXH).
- Tạo một môi trường công bằng cho các tầng lớp dân cư, cho người
nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi ro tham gia.
Ngoài việc giảm bớt, hạn chế những khó khăn cho đối tượng nghèo đói, hoạt
động BTXH còn phải đa dạng hóa các hình thức hoạt động khác nhau để góp
phần thúc đẩy xã hội phát triển.
13
- Hoạt động BTXH mang tính chất nhân đạo, thể hiện truyền thống
tương thân tương ái, đoàn kết giúp đỡ nhau của cộng đồng. Trên cơ sở sự liên
kết, hợp tác của cộng đồng những rủi ro, hoạn nạn được chia sẻ, đây là yếu tố
phát huy sức mạnh của cộng đồng, phát huy giá trị truyền thống của dân tộc
ta.
- Hoạt động BTXH góp phần phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp
dân cư, giữa những người lao động làm công ăn lương, giữa những người gặp
khó khăn, biến cố rủi ro, giữa những người nghèo, người già cô đơn không
nơi nương tựa …
- BTXH không nhằm mục đích lợi nhuận mà chủ yếu thực hiện mục đích
xã hội vì cộng đồng.
- Thực hiện các chế độ trợ giúp tại hộ gia đình, cộng đồng nơi đối tượng
thụ hưởng sinh sống và do cấp xã quản lý, tổ chức thực hiện. Đồng thời thực
hiện chăm sóc, nuôi dưỡng tập trung trong các trung tâm BTXH.
- Các chính sách BTXH được cung cấp dựa vào nhu cầu của đối tượng
thụ hưởng, không yêu cầu sự đóng góp của đối tượng thụ hưởng. Nguồn tài
chính chủ yếu lấy từ thuế (trong khi các chính sách an sinh xã hội khác, đặc
biệt các chính sách về BHXH, BHYT được thực hiện thông qua nguyên tắc
đóng hưởng với sự tham gia của doanh nghiệp, người lao động và nhà nước).
1.1.3. Ý nghĩa của công tác BTXH
- BTXH thể hiện đầy đủ và sâu sắc tính nhân đạo, tương ái cộng đồng
mỗi người và đem lại lợi ích cho mọi người.
1.2. NỘI DUNG CỦA HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BTXH
1.2.1. Mở rộng đối tƣợng đƣợc thụ hƣởng BTXH
Đối tượng được BTXH là mọi thành viên trong xã hội khi có các sự cố
xảy ra do nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau làm họ không đủ
khả năng hoặc không tự lo được cuộc sống của bản thân và gia đình, cần có
15
sự trợ giúp, cứu tế từ Nhà nước và cộng đồng để đảm bảo mức sống tối thiểu.
Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng ngày càng rộng. Nhiều văn
bản pháp luật ra đời đã không ngừng mở rộng diện bao phủ đến các nhóm xã
hội yếu thế cần trợ giúp; tiêu biểu là Nghị định số 07 của Chính phủ về chính
sách CTXH, Nghị định số 168 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
07, Nghị định số 67 về chính sách trợ giúp các đối tượng BTXH, Nghị định số
13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67. Nhìn chung, các nghị
định này tập trung vào cá nhân, nhóm yếu thế trong xã hội đang gặp khó khăn
về sức khỏe, bệnh tật, trẻ mồ côi, người khuyết tật, người già không nơi
nương tựa. Điểm nổi bật là các nghị định đã từng bước mở rộng, cập nhật đối
tượng thụ hưởng nảy sinh do các biến cố kinh tế - xã hội. Nếu Nghị định
07/2000 chỉ có 4 nhóm đối tượng thụ hưởng là trẻ em mồ côi, người già cô
đơn, người tàn tật nặng, người tâm thần mãn tính thì Nghị định 67/2007 đã
tăng lên đến 9 nhóm đối tượng, trong đó nhiều nhóm đối tượng mới được bổ
sung như: người cao tuổi (85 tuổi trở lên); người nhiễm HIV/AIDS; hộ gia
đình có từ 02 người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ; gia
đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi,... Điều đáng
lưu ý là hai Nghị định này sau khi ban hành 3 - 4 năm đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều nhằm tiếp tục điểu chỉnh tiêu chí xét đối tượng hưởng lợi.
Chẳng hạn, Nghị định 168/2004 bổ sung nhóm trẻ em nhiễm HIV dương tính,
Nghị định 13/2010 mở rộng tới các đối tượng tàn tật nặng không có khả năng