Kinh nghiệm tổ chức các trò chơi trong môn sinh học lớp 6 ở trường THCS nga yên - Pdf 50

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM TỔ CHỨC CÁC TRÒ CHƠI TRONG
MÔN SINH HỌC LỚP 6 Ở TRƯỜNG
THCS NGA YÊN – NGA SƠN

Người thực hiện: Lưu Thị Huê
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Nga Yên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Sinh Học

THANH HÓA NĂM 2018
1


MỤC LỤC
MỤC
1

TÊN MỤC

TRANG

Mở đầu

1

1.1.


3

2.2

Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm

4

2.3

Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

7

2.4

Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

18

Kết luận và kiến nghị

20

3.1

Kết luận


Tri qua nhiu nm ging dy Trng THCS Nga Yờn, tụi thy a s hc
sinh ham hiểu biết, thích tìm tòi cái mới, muốn khẳng định
mình, rt mun c tham gia Trũ chi hc tp nhng vn cũn khụng ớt hc
sinh t ti, th ng trong t duy t duy, ớt phỏt biu xõy dng bi, ớt tranh lun
trao ụi vi bn bố, li vo cỏc bn khỏc, khụng chu tỡm tũi phỏt hin ra vn
, dn ti vic nm bt kin thc ca bi hc cũn hi ht trong hc tp, m h
cha chc chn, nhanh quờn, cha mnh dn tham gia vo cỏc hot ng.
chng li nhm chỏn trong hot ng hc tp, tng cng kớch thớch trong hot
ng hc tp thỡ ngi giỏo viờn cn vn dng sỏng to v linh hot cỏc phng
phỏp, k thut dy hc. Qua tỡm tũi nghiờn cu tụi nh ra iu. Vic lng ghộp
trũ chi trong cỏc hot ng hc tp cú vai trũ kớch thớch hng phn. Mt
khỏc, phng phỏp trũ chi hc tp cú nhiu u im, khụng nhng gõy c
hng thỳ học tập ca hc sinh, phát triển ở học sinh kỹ năng quan
sát, phân tích tổng hợp, khái quát hoá kiến thức, khả năng suy
luận phán đoán, h thng kin thc m nú cũn to cho cỏc em cú s thi ua,
tác phong nhanh nhẹn, ci m, vui v khi n trng to iu kin cho s
phỏt trin ton din hc sinh THCS. Từ đó đem lại thành công cho gi
hc núi chung hay gi sinh hc núi riờng.
Chng trỡnh sinh hc 6 giỳp hc sinh bt u lm quen vi th gii sinh
vt, trc ht l thc vt. Giỳp cỏc em tỡm hiu cu to c th mt cõy xanh t
c quan sinh dng n c quan sinh sn cựng chc nng ca chỳng phự hp
vi iu kin sng. Sinh hc 6 cũn giỳp cỏc em hiu c thc vt phong phỳ,
a dng qua cỏc nhúm cõy khỏc nhau, chỳng ó phỏt trin bin ụi ra sao t
dng n gin nht n dng phc tp. Ngoi ra sinh hc cũn giỳp cỏc em bit
c mi quan h gia thc vt vi mụi trng sng cng nh vai rũ ca chỳng
1


i vi i sng ca con ngi. Nhng iu c bn nht ca cỏc kin thc ú
c trỡnh by di dng cỏc gi ý quan sỏt (da trờn vt mu tht hoc trờn

- Gúp phn nõng cao cht lng dy hc mụn Sinh hc. Thụng qua cỏc trũ
chi giỳp hc sinh nm c cỏc kin thc c bn ca Sinh hc tim õn trong
cỏc tỡnh hung trũ chi, giỳp hc sinh bit vn dng cỏc kin thc ó hc vo
thc tin sinh ng v giỏo dc o c hc sinh.

2


- Kích thích hứng thú, phát huy tính tích cực, tự giác, tư duy sáng tạo và khả
năng hợp tác cao trong học tập cũng như trong cuộc sống của học sinh.
- Tạo điều kiện để cá thể hóa hoạt động dạy học
- Giáo dục học sinh tính tự giác, trung thực, sự kiên trì, tính kỉ luật và tinh thần
đồng đội trong học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày
- Tổ chức trò chơi trong giờ dạy Sinh học phải đạt được những yêu cầu.
+ Trước hết phải lấy lý luận dạy học hiện đại làm cơ sở
Nghĩa là trò chơi phải hướng vào học sinh, lấy học sinh làm trung tâm. Giáo
viên là người tổ chức, hướng dẫn. Giáo viên phải tìm trò chơi có tác dụng phát
huy trí, tính tích cực của học sinh, nhằm tạo ra những thế hệ biết tìm tòi sáng tạo
nhanh nhẹn trên mọi lĩnh vực .
Phải chú ý đến tính vừa sức đối với học sinh, không dễ quá cũng không khó
quá. Nội dung trò chơi đưa ra phải phù hợp với tâm lí lứa tuổi thiếu niên thì học
sinh mới có thể tham gia một cách tích cực và đạt hiệu quả cao được.
+ Trò chơi phải đáp ứng được mục tiêu dạy học
- Khắc sâu được kiến thức vừa học.
- Rèn luyện kỹ năng quan sát, tư duy nhanh nhạy và khả năng phán đoán của
học sinh
- Giáo dục được đạo đức thái độ của học sinh.
+ Trò chơi phải tạo được hứng thú cho học sinh
Các trò chơi đưa ra phải được các em nhiệt tình hưởng ứng. Phải thực hiện
được chức năng dạy học thông qua trò chơi để học tập, rèn luyện.

tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập, đem lại
niềm vui, hứng thú là nhiệm vụ và trách nhiệm của mỗi giáo viên.
- Về sơ sở vật chất, thiết bị dạy học: Nhà trường đã có các phòng chức
năng, có tương đối đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị dạy học, có khuôn viên rộng và
thoáng đãng…
Được BGH quan tâm tới nhiệm vụ chuyên môn, nhất là việc thực hiện
PPDH đổi mới “Lấy học sinh làm trung tâm”, học sinh “chủ động trong quá
trình tìm tòi kiến thức” giáo viên là người “tổ chức, hướng dẫn học sinh trong
việc tìm tòi tri thức” đó là “kim chỉ nam” cho người giáo viên thực hiện tốt
nhiệm vụ dạy học của mình.
2.2.2. Thực trạng tại trường THCS Nga Yên.
a. Thuận lợi:
- Về phía học sinh:
Học sinh lớp 6 trường THCS Nga Yên năm học 2017 – 2018 có 47 em với 2
lớp,. Điều đó có thuận lợi trong quá trình học tập, nhất là trong việc giáo viên
hướng dẫn học sinh học theo nhóm, hay thực hiện theo phương pháp tự nghiên
cứu. Đặc biệt là việc lồng ghép “Trò chơi” trong các hoạt động học tập. Trong
các tiết thực hiện theo nhóm, thông thường nếu là nhóm lớn, thì mỗi nhóm
khoảng 5-6 em, điều này rất thuận lợi cho cả giáo viên và học sinh trong quá
trình thực hiện.
- Về phía giáo viên:
Giáo viên môn sinh có đủ về số lượng, trình độ 100 % được đào tạo trên
chuẩn, 100 % giáo viên được tham gia các chuyên đề về đổi mới phương pháp
dạy học, các chuyên đề về tích hợp giáo dục …
- Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, khuôn viên:
+ Nhà trường đã được công nhận chuẩn năm 2009, có 4 phòng chức
năng (phòng TH Lý- CN, phòng TH Hoá – Sinh, phòng tin, phòng nghe nhìn)
4



Lớp 6
Rất hứng thú
Hứng thú Ít hứng thú Không hứng thú
47
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
3

6,4

+ Về học lực
Lớp 6
Số
Giỏi
HS SL
%

10

21,3

Khá
SL
%

5
5

20,8
21,7

6
6

25
26,1

10
10

41,7
43,6

1
1

4,2
4,3

Khối 6

47

3


các hoạt động học tập.
- Lớp 6B (Đối chứng): Giáo viên dùng phương pháp nghiên cứu xây
dựng cơ sở lý thuyết, phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin,
phương pháp thống kê, sử lý số liệu.
Sử dụng công nghệ thông tin (phần Trò chơi học tập) theo hình ảnh
trình chiếu.
2.3. Các giải pháp thực hiện.
2.3.1.Giai đoạn chuẩn bị:
- Xác định mục tiêu dạy học.
Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất có tính chất quyết định. Bởi trò chơi
được thiết kế phải đạt được các mục tiêu dạy học
- Xây dựng , lựa chọn trò chơi:
Phù hợp đáp ứng các mục tiêu dạy học đã đề ra.
- Giáo viên xác định:
Số nhóm chơi, số người trong nhóm và các đồ dùng, dụng cụ cần thiết
như : mô hình, tranh, phấn viết bảng, mảnh bìa, hệ thống câu hỏi …
Chú ý:
+ Số học sinh trong nhóm chơi phải phù hợp và có cả học sinh giỏi, khá,
trung bình, yếu. Có cả học sinh có tác phong nhanh nhẹn và học sinh có tác
phong chậm rụt rè, nhút nhát tham gia
+ Giáo viên có thể gọi học sinh xung phong tham gia, hoặc tự giáo viên
phân nhóm hoặc chỉ tên cụ thể, tất nhiên là phải giữ bí mật, chỉ công bố khi bắt
đầu trò chơi
- Địa điểm: Trong nhà, ngoài trời, nơi trống trải, nơi có cỏ, cây xanh, sân
bãi rộng hẹp, có hoặc không có giới hạn rõ ràng, xét đến ảnh hưởng qua lại của
môi trường với việc tổ chức thực hiện trò chơi.

6



người chậm hiểu nhất cũng hiểu được, dẫn dắt ngưòi chơi từng bước để tạo sự
hấp dẫn.
- Nói và cử động làm mẫu thì dễ hiểu hơn, nều cần có thể chơi thử để giảng
lại luật lệ trò chơi.
- Giáo viên phải quán triệt về sự nghiêm túc với học sinh khi tham gia trò
chơi.
b/ Điều khiển trò chơi:
- Giáo viên hoặc học sinh do giáo viên cử ra điều khiển trò chơi từ chậm
đến nhanh để tạo sự căng thẳng, hấp dẫn.
- Khai thác sự dí dỏm của người chơi, hay chế biến trò chơi sao cho vui vẻ,
thoải mái mà lại có tác dụng khắc sâu kiến thức.

7


- Đề cao tinh thần tự giác, thẳng thắn trung thực, dành cho người phát huy sáng
kiến trong phạm vi luật lệ trò chơi.
- Phải đổi người chơi sao cho ai cũng có dịp thắng cuộc.
- Khi bắt lỗi phải khách quan, chính xác, dứt khoát, công bằng.
- Phải biết dừng trò chơi đúng lúc, khi mọi người có dấu hiệu mệt mỏi, chán
nản hay khi trò chơi đã có kết quả thắng thua rõ ràng và đặc biệt phải đảm bảo
thời gian như dự kiến.
2.3.3. Giai đoạn kết thúc:
- Phạt những người thua bằng những hình phạt nhẹ nhàng, thoải mái nhưng
tránh những hình phạt thô bạo hay kéo dài thời gian phạt.
- Đánh giá ưu khuyết điểm của trò chơi cần thêm bớt gì không? Về luật lệ,
cách chơi và tính hấp dẫn, sự giáo dục của trò chơi đến đâu?
2.3.4. Kỹ năng tổ chức trò chơi của giáo viên
a/ Giáo viên là người quan trọng nhất trong việc tổ chức cho học sinh
chơi trò chơi:

- Giáo viên phải di chuyển sao cho có thể quan sát được toàn bộ cuộc
chơi, nhanh chóng phát hiện ra những người lanh lợi, hoạt bát, dí dỏm làm nòng
cốt cho cuộc chơi, đôi khi vận động cả những em nhút nhát tham gia để các em
trở lên bạo dạn hơn.
- Nghiêm túc tuân thủ luật chơi đảm bảo thực sự công bằng, bình đẳng,
song vẫn vui vẻ, thoải mái và hào hứng.
- Biết dùng những trò chơi phụ làm "hình phạt" tạo điều kiện cho tất cả
học sinh được thư giãn và biết chấm dứt cuộc chơi đúng thời điểm (tốt nhất là
vào lúc cao điểm) hay đã phân định thắng thua rõ ràng dựa vào mức độ chính
xác của kiến thức có liên quan trong trò chơi. Cố gắng duy trì một bầu không khí
hoàn toàn thoải mái, thư giãn thật sự, không kể gì thắng hay thua.
e/ Tác phong của người điều khiển phải phù hợp với trò chơi.
- Dáng điệu, cử chỉ của người giáo viên phải gây được thiện cảm, tạo sự
chú ý ban đầu, tạo nên sự gần gũi thân quen cho học sinh trong suốt cuộc chơi.
- Giáo viên hành động, nhận xét đúng lúc, đúng đối tượng, khích lệ tán
dương sự cố gắng của học sinh nhằm bảo đảm hiệu quả giáo dục sâu sắc trong
và sau cuộc chơi cuộc chơi.
f/ Giáo viên luôn tích lũy kiến thức và kinh nghiệm về việc tổ chức trò
chơi.
- Qua quan sát những học sinh chơi giáo viên cần rút ra những kinh
nghiệm bổ ích cho bản thân về vốn trò chơi, kỹ năng tổ chức chơi và phong cách
của người quản trò. Đồng thời chú ý lắng nghe ý kiến nhận xét quan sát thái độ
của người chơi để điều chỉnh những gì chưa hợp lí.
- Nên cần có cuốn sổ để sưu tầm, sáng tác trò chơi, những bài hát cộng
đồng…
g/ Những điều nên tránh khi tổ chức trò chơi.
- Đưa ra trò chơi học tập không phù hợp với đối tượng học sinh với các
kiến thức sinh học mà các em được học. học sinh tham gia chơi chưa nắm vững
luật chơi, chưa có sự chuẩn bị chu đáo.
- Những trò chơi xúc phạm đến nhân cách của người chơi, trò chơi thiếu

chơi khác (là hệ quả của nó) mà người chơi không cảm thấy bị trùng lặp. Bí
quyết chính là ở chỗ tìm thấy nguyên tắc của nó rồi dựa vào từng hoàn cảnh,
từng đối tượng cụ thể để hình thành các trò chơi khác.
2.3.5. Quy trình tổ chức trò chơi học tập trong dạy học sinh học.
Bước 1:. Ổn định.
Để tập trung sự chú ý của cả lớp (sau khi học một nội dung nào
đó hoặc đã học song kiến thức trọng tâm của bài ).
Bước 2: Giới thiệu trò chơi.
Giáo viên trình bày ngắn gọn, xúc tích để học sinh thấy được sự
hấp dẫn và hứng thú của trò chơi.
Bước 3: Hướng dẫn phổ biến cách chơi, luật chơi.
Tuỳ theo mỗi trò chơi mà hướng dẫn.
- Những trò chơi phức tạp giáo viên linh động hướng dẫn đầy đủ
trước rồi mới chơi
- Những trò chơi đơn giản thì có thể chơi ngay, (vừa chơi vừa
giải thích), làm sao cho học sinh dễ hiểu, dễ nắm bắt.
Bước 4: Chơi thử (chơi nháp).
Rất quan trọng nhưng cần lưu ý :
- Nếu thử nhiều: khi chơi thật sẽ nhàm chán.
- Nếu không chơi thử hoặc chơi thử quá ít thì người chơi chưa
nắm được cách chơi sẽ gây khó khăn cho người điều khiển khi hướng dẫn chơi.
Bước 5: Chơi.
- Học sinh tham gia trò chơi với sự giám sát, điều khiển của
giáo viên hoặc học sinh do giáo viên hoặc lớp bầu ra.
10


- Khi chơi người giáo viên phải quan sát học sinh chơi để biết được thái
độ, cử chỉ, phong cách ... từ đó giáo dục điều chỉnh phong cách của mình cho
phù hợp.

* Chuẩn bị :
+ Bảng ô chữ, câu hỏi, đáp án.
+ Nếu nhà trường có đủ cơ sở vật chất thì thiết kế trò chơi trên máy vi tính
và chiếu lên màn hình qua máy chiếu đa năng thì trò chơi này sẽ rất hấp dẫn và
thu hút nhiều học sinh tham gia.
* Cách xây dựng ô chữ:

11


- Trong mỗi tiết, chương, phần học đều có kiến thức trọng tâm hoặc các nội
dung cần giáo dục thái độ cho học sinh. Ta lấy kiến thức đó làm chủ đề, từ hàng
dọc hay chùm chìa khóa.
- Chọn các từ, các thuật ngữ, các nhân tố để lấy làm từ hàng ngang .Các từ
hàng ngang phải cô đọng, xúc tích, phải thể hiện được nội dung của bài trong
vòng từ 5-7 phút, thường số hàng ngang bằng số nhóm để mỗi nhóm có thể được
trả lời ít nhất một lần hoặc có thể không chia nhóm và cho cả lớp cùng tham gia
- Các ô chữ phải rõ ràng, chính xác, gợi ý phải đúng nội dung
- Các chữ cái trong các hàng ngang được sắp xếp theo một trật tự nhất định
để làm xuất hiện từ hàng dọc hoặc lựa chọn các chữ cái trong từ hàng ngang, để
tìm ra từ chủ đề ( hay chùm chìa khóa)
* Tiến hành:
+ Giáo viên là người nêu các gợi ý và tổ chức trò chơi
+ Mỗi nhóm được trả lời một lần và lựa chọn từ hàng ngang, sau đó thảo
luận 30 giây, nếu không có câu trả lời thì quyền trả lời dành cho nhóm khác ,
nếu trả lời đúng thì giáo viên bóc ô chữ đó ra ( hoặc cho xuất hiện trên màn
hình)
+ Mỗi từ hàng ngang giải đúng được tính 10 điểm, giải được từ hàng dọc
hoặc từ chủ đề (hay chùm chìa khóa) thì được 20 điểm. Nếu giải từ chìa khóa
khi chưa mở hết các ô chữ thì nhóm đó được cộng 40 điểm ( nhóm nào đưa ra

- Giáo viên chia lớp thành 5 nhóm, các nhóm tự bầu nhóm trưởng và thư
ký.
- Các nhóm từ 1-5, lần lượt tùy chọn hàng ngang từ 1-5
- Lưu ý: Các nhóm có quyền đưa đáp án về từ chủ đề hoặc chùm chìa khóa
khi chưa giải hết các ô chữ theo hàng ngang. Nếu nhóm đưa ra từ chìa khóa là
đúng thì được cộng 40 điểm, các nhóm lại tiếp tục chơi để mở các ô chữ còn lại.
Còn nếu nhóm trả lời từ chìa khóa bị sai thì nhóm đó mất quyền chơi, các nhóm
đó vẫn tiếp tục chơi tiếp.
Các hàng ngang cụ thể như sau:
- Hàng ngang số 1: Gồm 7 chữ cái
Đây là nhóm sinh vật lớn nhất có khã năng tạo ra chất hữu cơ ngoài ánh sáng
Đáp án : THỰC VẬT
Học sinh tìm thấy chữ T trong từ chủ đề
Hàng ngang số 2 : Có 9 chữ cái
Đây là một thành phần của tế bào, có chức năng điều khiển mọi hoạt động sống
của tế bào.
Đáp án : NHÂN TẾ BÀO
Học sinh tìm thấy chữ C trong từ chủ đề
Hàng ngang số 3: Có 8 chữ cái
Đây là một thành phần của tế bào, chứa dịch tế bào
Đáp án : KHÔNG BÀO
Học sinh tìm thấy chữ cái B trong từ chủ đề
Hàng ngang số 4: Gốm 12 chữ cái
Đây là chất Bao bọc chất tế bào
Đáp án: MÀNG SINH CHẤT
Học sinh tìm thấy chữ cái A trong từ chủ đề
Hàng ngang số 5: Gốm 9 chữ cái
Đây là chất keo lỏng có chứa nhân, không bào và các thành phần khác
Đáp án: CHẤT TẾ BÀO.
Học sinh tìm thấy chữ cái O trong từ chủ đề

+ Mỗi đội giáo viên gọi 1 đại diện bất kỳ.
+ Đội A (dãy bàn bên phải) ghi những tên cây có rễ cọc.
+ Đội B (dãy bàn bên trái) ghi những tên cây có rễ chùm.
Các thành viên khác của đội chơi sẽ hỗ trợ đại diện của đội mình bằng cách ghi tên
các loại cây có rễ phù hợp với phần thi của đội mình vào phiếu học tập đã xếp từ
trước và mang lên cho người chơi. Kết thúc phần thi giáo viên tổng kết, nhận xét và
cho điểm, điểm của người chơi sẽ là điểm cộng của cả đội.
* Kết quả:
- Các em khắc sâu nhớ lâu được các loại rễ, các miềm của rễ
- Tạo không khí sôi nổi và thi đua trong lớp
- Nâng cao năng lực tư duy nhanh nhạy, tác phong nhanh nhẹn
Bài 10: Cấu tạo miền hút của rễ
* Mục đích:
- Dùng trò chơi tiếp sức trong phần củng cố của tiết học để củng cố kiến
thức giúp học sinh khắc sâu được các kiến thức trong bài: Cấu tạo miền hút
của rễ
14


* Thời gian: 5 phút
* Néi dung:
+ Mỗi đội giáo viên gọi 1 đại diện bất kỳ (đại diện sẽ được thay đổi thường
xuyên và luân phiên giữa những thành viên trong nhóm)
+ Đại diện của mỗi đội sẽ ghi những thông tin về cấu tạo và chức năng các bộ
phận miền hút của rễ vào các tấm bìa cattoong giáo viên đã chuẩn bị sẵn, tìm vị
trí trên tranh câm (Cấu tạo miền hút của rễ) ghép cho phù hợp.
+ Các thành viên khác hỗ trợ bằng cách ghi thông tin về cấu tạo và chức năng các
bộ phận miền hút của rễ vào các tấm bìa cattoong đã chuẩn bị tìm vị trí trên tranh
câm ( Cấu tạo miền hút của rễ) ghép cho phù hợp . Cứ như vậy tất cả các thành
viên trong đội ai cũng được lên bảng để thể hiện đáp án.

+ Kết thúc phần thi giáo viên nhận xét,ghi điểm cho các đội. Đội nào có điểm cao
hơn thì đội đó thắng cuộc đội thắng cuộc.
+ Đáp án:
N
H

T
N
Ư

C
N

H

T

A

T



Ì

P

H

Â

+ Tác phong nhanh nhẹn của học sinh
* Chuẩn bị:
+ Tranh, về các cơ quan của cây có hoa
+ Các mảnh bìa nhỏ ghi chú thích tên các cơ quan của cây có hoa có dán
băng dính 2 mặt ở đăng sau.
+ Hai đội chơi mỗi đội có 3-5 học sinh (tùy vào nội dung của tranh hoặc mô
hình nhiều hay ít). Mỗi đội xếp thành 1 hàng đứng lên phía trước lớp. Một đội
gắn chú thích trên mô hình, một đội gắn chú thích trên tranh hoặc cùng gắn vào
hai bên của tranh nếu không có mô hình.
+ Thời gian chơi: 2-3 phút.
* Tiến hành:
Khi giáo viên hô bắt đầu lần lượt học sinh số 1 của mỗi đội lên gắn chú thích
cho một cơ quan, sau đó về chỗ đưa lại các mảnh bìa để học sinh số 2 lên gắn
tiếp… Cứ như vậy cho đến hết thời gian qui định. Nhóm nào hoàn thành nhanh,
chính xác thì nhóm đó thắng và được thưởng bằng một tràng pháo tay…
Ví dụ: Tiết 43: Tổng kết về cây có hoa
* Mục đích:

16


- Dựng trũ chi gn chỳ thớch cho tranh, mụ hỡnh nhanh nht trong phn cng
c ca tit hc cng c, khc sõu kin thc cỏc c quan ca cõy cú hoa.
* Thi gian: 5 phỳt
* Ni dung: Giỏo viờn tụ chc cho hc sinh chi trũ chi
+ Giỏo viờn phụ bin lut chi v hỡnh thc chi, cỏch tớnh im.
Khi giỏo viờn hụ bt u ln lt hc sinh s 1 ca mi i lờn gn chỳ thớch
cho mt c quan, sau ú v ch a li cỏc mnh bỡa hc sinh s 2 lờn gn
tip C nh vy cho n ht thi gian qui nh. Nhúm no hon thnh nhanh,
chớnh xỏc thỡ nhúm ú thng v c thng bng mt trng phỏo tay

* Tin hnh:
17


+ Giáo viên phổ biến cách học thông qua trò chơi này: Học sinh lựa chọn câu
hỏi của mình đã được gài trên các cành cây, học sinh có thể trả lời ngay hoặc về
chỗ chuẩn bị trong 2 phút (không được sử dụng tài liệu). Học sinh cũng có thể
đổi câu hỏi nếu câu đó không trả lời được (chỉ một lần). Nhưng đổi câu hỏi phải
bị trừ đi một điểm trong kết quả cuối cùng.
+ Sau khi chọn xong câu hỏi học sinh đọc to câu hỏi cho các bạn phía dưới lớp
biết và có thời gian 2 phút để chuẩn bị (có thể trả lời ngay).
+ Sau 2 phút giáo viên gọi học sinh đã bốc câu hỏi trả lời và cho một học sinh
chuẩn bị bằng việc bốc một câu hỏi khác.
+ Học sinh rả lời xong giáo viên gọi học sinh phía dưới nhận xét, giáo viên
tổng hợp và cho điểm
+ Với học sinh trả lời tốt cho điểm tương ứng với mức độ đó đồng thời tán
thưởng bằng một tràng pháo tay. Đối với học sinh trả lời chưa tốt hoặc chưa trả
lời được cần phê bình nhưng mang tính chất động viên để các em tiếp tục phấn
đấu không bị chán nản.
Có thể áp dụng trò chơi này vào các tiết bài tập hoặc phần cuối tiết ôn tập học
kỳ môn sinh học 6
Ví dụ: Tiết 19
Câu 1: Rễ, thân, lá thuộc loại cơ quan nào của cây?
Câu 2: Cây cải, cây cà phê, cây mít, cây phượng có rễ gì?
Câu 3: Miền nào làm cho rễ dài ra?
Câu 4: Chồi lá sẽ phát triển thành bộ phận nào của cây?
Câu 5: Củ khoai lang do rễ hay thân biến đổi thành?
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
* Đối với giáo viên:
- Không mất nhiều thời gian, công chuẩn bị và không tốn nhiều thời gian

ngày càng tiến bộ hơn trước thể hiện qua các số liệu sau.
- Kết quả khảo sát sau khi áp dụng đề tài:
- Về mức độ hứng thú:
Số HS
Lớp 6
47

Rất hứng
thú
SL
%
20

42,6

- Về học lực
Lớp 6
Số
Giỏi
HS
SL
%
6A
24
11 45,8
6B
23
9
39,1
Khối 6


0

Khá
SL
9
8
17

%
37,5
34,8
36,1

TB
SL
4
6
10

%
16,7
26,1
21,3

Yếu
SL
0
0
0



+ 95% học sinh cho rằng học tập theo hình thức trò chơi sẽ giúp tình bạn
được củng cố và có thái độ ứng xử linh hoạt trong hoạt động tập thể.
+ Đa số các em cho rằng các em thích có hình thức học tập dưới dạng tổ
chức trò chơi vì nó làm tăng sự đa dạng trong các hình thức học tập và học tập
dưới hình thức này các em cảm thấy nhẹ nhàng, hiệu quả hơn và đỡ nhàm chán.
Từ những những kết quả trên tôi có thể khẳng định rằng việc tổ chức trò
chơi trong dạy học sinh học đã góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học, taoh
hứng thú học tập, phát triển năng lực tư duy, tinh thần đoàn kết và khả năng hợp
tác của học sinh. Qui trình tổ chức trò chơi trong dạy học sinh học mà tôi nêu ra
ở trên là có tính khả thi.
* Bài học kinh nghiệm.
+ Đối với giáo viên.
- Để một giờ dạy sinh học đạt kết quả tốt giáo viên phải chịu khó tìm tòi
nghiên cứu, thiết kế giáo án mà trong đó sử dụng linh hoạt cac sphương pháp
dạy học tích cực. Tổ chức trò chơi trong giờ dạy sinh học cũng là một trong
những cách thức để nâng cao hiệu quả dạy học.
- Cần vận dụng các trò chơi một cách sáng tạo, hợp lý về nội dung và có tác
dụng giáo dục học sinh.
- Kinh nghiệm của tôi là chỉ nên sử dụng trò chơi học tập vào dạy một
phần nội dung trong bài hoặc sử dụng vào cuối tiết học thay cho việc củng cố
kiến thức, kỹ năng đã học. Trò chơi học tập tạo sự hưng phấn về môn học vừa để
kết thúc tiết học vừa tạo sự thư giãn cho học sinhtrước khi bước vào tiết học tiếp
theo.
- Khi tổ chức các trò chơi, thưởng phạt chỉ là hình thức khích lệ động viên
học sinh, giáo viên không nên lấy điểm kém vì như vạy làm học sinh sợ điểm
thấp mà rụt rè không dám tham gia. Sau tiết học, khi hướng dẫn về nhà giáo
viênyêu cầu học sinh làm lại bài tập vào vở và thông báo chuẩn bị trò chơi ở tiết
sau (nếu có)

XÁC NHẬN CỦA THỦ

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình

TRƯỞNG ĐƠN VỊ viết, viết, không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện

Lưu Thị Huê

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
1

2

3

4
5
6
7
8
9
10

Tên tài liệu



1.

2.

3.

4.

5.

6

7

Tên đề tài SKKN
Kinh nghiệm dạy “Sinh học
8 Trường THCS Nga Thanh
Kinh nghiệm giải Bài tập
“phần Nồng độ dung dịch”
Hóa 8 Trường THCS Thị
Trấn
Kinh nghiệm giải Bài tập
“phần Nồng độ dung dịch”
Hóa 8 Trường THCS Chu
Văn An
Kinh nghiệm “Lồng ghép
phòng chống ma túy trong
chương trình sinh học 8”
Trường THCS Nga Yên

B

2007 -2008

Cấp huyện

B

2009 -2010

Cấp huyện

C

2010 -2011

Cấp huyện

A

2011 -2012

Cấp huyện

B

2012- 2013

Cấp tỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status