SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN TOÁN LỚP 1
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY - HỌC MÔN TOÁN Ở
LỚP 1
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở lý luận:
Bậc tiểu học được coi là bậc học nền tảng của cả hệ thống giáo dục, trong đó lớp
Một chính là phần móng của cái nền tảng ấy. Nền móng chắc thì mới đảm bảo cho
phần kiến trúc bên trên được bền vững. Chính vì vậy việc nâng cao chất lượng dạy và
học ở bậc tiểu học nói chung và ở lớp Một nói riêng luôn là vấn đề thời sự, nó được
các cấp giáo dục từ Trung ương đến cơ sở hết sức quan tâm và đặt lên nhiệm vụ hàng
đầu. Tuy nhiên, để nâng cao được chất lượng dạy và học thì ngoài việc áp dụng những
quan điểm lý luận, những hướng dẫn mang tính định hướng về nội dung và phương
pháp dạy - học của các nhà khoa học giáo dục, còn đòi hỏi người giáo viên trực tiếp
đứng lớp luôn phải tự tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo để không ngừng cải tiến phương
pháp dạy – học sao cho vừa phải phù hợp với đối tượng học sinh ơ ûtừng vùng miền,
từng lớp, từng thời điểm…, vừa phải đạt được những yêu cầu chung được đặt ra về
mặt kiến thức. Việc cải tiến phương pháp dạy - học càng đặc biệt cần thiết trong giai
đoạn hiện nay, khi mà bậc tiểu học vừa hoàn thành xong việc triển khai chương trình
sách giáo khoa mới và đang cần rất nhiều những đóng góp mang tính thực tiễn từ phía
giáo viên trực tiếp đứng lớp để nội dung và phương pháp dạy – học theo chương trình
mới được hoàn thiện ở mức cao nhất.
Là một người giáo viên, bản thân tôi cũng luôn mong muốn góp những kinh
nghiệm nhỏ bé của mình vào cái Đại dương mênh mông kiến thức về phương pháp
dạy – học của nền giáo dục nước nhà. Trong phạm vi nhỏ hẹp của đề tài này, tôi muốn
đưa ra để trao đổi với các đồng nghiệp một số kinh nghiệm về cải tiến phương pháp
dạy học môn Toán ở lớp Một nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở môn học này.
Trước hết, chúng ta cùng xác định một cách tổng quát về mục tiêu dạy – học môn
Toán ở lớp Một.
Theo nghiên cứu của tôi về chương trình, sách giáo khoa mới thì tôi nhận thấy việc
dạy – học Toán ở lớp Một nhằm giúp học sinh:
- Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm các số tự
- Biết so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi những
nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh.
2. Thực trạng và nguyên nhân:
Trong 1-2 năm đầu thực hiện chương trình sách giáo khoa mới, chất lượng môn
Toán ở lớp do tôi phụ trách nói riêng và trong toàn khối Một nói chung còn nhiều hạn
chế. Các em thường xuyên sai ở một số điểm sau:
- Nhầm lẫn khi sử dụng dấu <, >.
- Lúng túng trong việc so sánh giá trị các số.
- Chưa thành thạo khi tìm thành phần chưa biết của phép cộng, trừ.
- Giải toán có lời văn còn nhầm lẫn hoặc chưa viết được câu lời giải.
Chất lượng kiểm tra định kỳ cuối kỳ II môn Toán ở lớp do tôi phụ trách trong hai năm
học 2002 -2003 và 2003 -2004 như sau:
NĂM HỌC
TỈ LỆ ĐIỂM KTĐK MÔN TOÁN
9 - 10
7-8
5-6
3-4
1-2
2002 - 2003
10.2
thuận lợi sau:
2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN TOÁN LỚP 1
1. Thuận lợi:
- Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy lớp Một được 19 năm nên ít nhiều cũng đã
tích luỹ được một số kinh nghiệm dạy học, trong đó có kinh nghiệm dạy học môn Toán
ở lớp Một; có khả năng tự làm một số đồ dùng dạy học đơn giản phục vụ cho việc dạy
học.
- Hoàn cảnh gia đình có nhiều thuận lợi cho công tác giảng dạy, nghiên cứu tài
liệu: chồng tôi cũng là một đồng nghiệp và là lãnh đạo trong nhà trường nên anh đã hỗ
trợ cho tôi rất nhiều trong giảng dạy; các con tôi đã khôn lớn; kinh tế gia đình tạm ổn
định…
- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đến công tác đổi mới phương pháp dạy
– học nhằm nâng cao chất lượng mọi mặt của nhà trường.
- Đa số cha mẹ học sinh lớp do tôi phụ trách quan tâm đến việc học của con cái
nên đã mua sắm khá đầy đủ sách, vở và các đồ dùng học tập cho các em ngay từ đầu
năm học; họ thường xuyên giữ liên lạc với giáo viên chủ nhiệm để nắm bắt tình hình
học tập của con em mình.
- Nhiều học sinh học tập tích cực.
2. Khó khăn:
- Một số gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn, làm nghề lao động phổ thông
vất vả cả ngày nên ít có thời gian và sức lực để chăm sóc con cái về mọi mặt.
- Một số học sinh gia đình có hoàn cảnh khó khăn phải phụ giúp công việc gia
đình như: trông em, mót điều, mót mủ cao su… không có thời gian chuẩn bị bài ở nhà
nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập, trong đó có môn Toán.
- Địa bàn xã rộng, học sinh ở rải rác trong nhiều thôn; thậm chí có những em
nhà ở trong rẫy, trong bưng, đường đi lại khó khăn nên việc gặp gỡ trực tiếp giữa giáo
viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh còn hạn chế.
học tập tất cả các môn học. Riêng môn Toán, ngoài các dụng cụ, đồ dùng học tập cần
thiết như sách giáo khoa, bộ ghép Toán…, tôi yêu cầu phụ huynh học sinh trang bị
thêm cho mỗi em 1 cuốn vở ô li để học sinh làm lại các bài tập bị sai hoặc làm thêm
một số bài mà các em chưa thông thạo về kiến thức (bài tập do giáo viên biên soạn).
Việc làm này sẽ có tác dụng củng cố kiến thức cho học sinh và giúp các em nhớ lâu
hơn kiến thức mình vừa phát hiêïn được, đồng thời đây cũng là cách để rèn kỹ năng
viết cho học sinh.
Khi học sinh đã có đủ các dụng cụ, đồ dùng học tập cần thiết, tôi bắt đầu áp dụng
đề tài cụ thể cho từng dạng Toán như sau:
1. Dạy toán về nhiều hơn, ít hơn:
Với dạng toán về nhiều hơn, ít hơn học sinh phải nắm thật kỹ để các em chuyển
sang học về dấu lớn hơn, bé hơn được dễ dàng. Đối vơí học sinh khá, giỏi, các em tiếp
thu bài rất nhanh vì đó chỉ là những kiến thức đơn giản các em nhận biết trong giao
tiếp hàng ngày với cha mẹ, với những người xung quanh. Đối với những học sinh
trung bình, yếu, kém; kiến thức về nhiều hơn, ít hơn các em chỉ được nghe khi vào học
lớp Một vì những học sinh này thường ít được sự quan tâm, hướng dẫn của cha mẹ từ
những sinh hoạt, vui chơi hàng ngày; hơn nữa, cha, mẹ của các em cũng vì lo bươn
chải làm lụng để mưu sinh nên cũng ít chăm lo đến học tập của con cái mình. Vì vậy,
khi dạy dạng toán này, tôi chú ý để các học sinh trung bình trở xuống được thực hành
nhiều hơn.
Để các em dễ nhận biết kiến thức, tôi áp dụng triệt để phương pháp trực quan. Từ
việc cho các em quan sát cụ thể để các em phát hiện và ghi nhớ nội dung kiến thức.
Ví dụ: - Gọi hai nhóm học sinh đứng trước lớp, nhóm một có 4 học sinh, nhóm hai
có 3 học sinh.
4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN TOÁN LỚP 1
- Giáo viên yêu cầu cả lớp quan sát, sau đó gọi những học sinh thuộc nhóm đối
5
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN TOÁN LỚP 1
- Hướng dẫn học sinh quan sát (khoảng 10 giây) và thi đua lên bảng điền dấu thích
hợp vào giữa hai nhóm trên bảng bằng cách đứng quay mặt vào bảng rồi chống tay
phải (trái) vào hông để biểu thị dấu > ( và dấu
+ Em dùng bút chì ghi số 6 phía trên (hoặc dưới) phép tính 2 + 4.
+ 7 như thế nào so với 6? (7 lớn hơn 6).
+ Em điền: 7 > 2 + 4.
Ví dụ 2: 8 - 2…3 + 4.
Tương tự ví dụ 1, giáo viên cũng nêu câu hỏi gợi ý để học sinh nhận biết được bài
toán này có hai phần. Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh tính từng phần, ghi kết quả
bằng bút chì phía trên (hoặc dưới) mỗi phần; so sánh hai kết quả rồi từ đó kết luận và
điền dấu thích hợp (8 – 2 < 3 + 4).
Ví dụ 3: Bài tập số 2; 3 sách giáo khoa Toán lớp 1 trang 143.
Bài 2: Khoanh tròn vào số lớn nhất:
a) 72; 68; 80.
b) 91; 87; 69.
c) 97; 94; 92.
d) 45; 40; 48.
Bài 3: Khoanh tròn vào số bé nhất:
a) 38; 48; 18.
b) 76; 78; 75.
c) 60; 79; 61.
d) 79; 60; 81.
Các bài tập này rất khó đối với học sinh trung bình trở xuống, do đó tôi phải
hướng dẫn kỹ từng mục của mỗi bài.
- Mục a, b: Hướng dẫn học sinh so sánh từng chục để tìm được số lớn nhất (bé nhất).
học sinh yếu, kém, tôi sử dụng các hình thức dạy học trực quan, gợi mở, dạy học theo
nhóm ở lớp, nhóm ở nhà và thường xuyên kiểm tra để các em có thể thuộc và nhớ
được các phép tính theo yêu cầu đã nêu.
5. Dạng điền số vào ô trống:
Để tất cả học sinh có thể làm được và làm đúng dạng toán này, tôi phát huy tối đa
ưu thế của phương pháp gợi mở, phân tích – tổng hợp. Cụ thể như sau:
Ví dụ: 3 + 5 = 6 + …
- GV hỏi:
+ Bài toán này có mấy phần? Đó là những phần nào? ( Bài toán có hai phần,
phần đứng trước dấu bằng và phần đứng sau dấu bằng).
+ Chúng ta có thể tính được phần nào trước? (Tính phần đứng trước dấu bằng).
+ Phần đứng trước dấu bằng được tính như thế nào? (3 + 5 = 8).
9
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN TOÁN LỚP 1
+ Phần đứng sau dấu bằng đã có 6, vậy chúng ta cộng thêm mấy nữa để bằng 8?
(Cộng thêm 2).
+ Vậy 3 + 5 = 6 + mấy? ( 3 + 5 = 6 + 2).
Trong các tiết Toán tự soạn sau đó, tôi sẽ đưa thêm một số bài tập tự soạn ở dạng
này vào bài để các em được luyện tập nhằm rèn luyện kỹ năng và củng cố, khắc sâu
kiến thức.
Các dạng toán tương tự như: 5 + … < 9; 7 >…>3; 30 < …< 70, tôi cũng sử dụng
các phương pháp dạy học như vừa nêu để hướng dẫn học sinh phát hiện kiến thức.
6. Dạy toán có lời văn:
Khi học dạng toán này, rất nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc đặt câu lời giải,
thậm chí ngay cả một số học sinh khá cũng lúng túng trong việc này. Các em thường
đặt sai câu lời giải hoặc chép lại nguyên văn câu hỏi trong bài toán. Để tháo gỡ những
khó khăn trên cho học sinh, tôi phải sử dụng những qui ước theo kiểu “luật bất thành
văn”. Ngay từ những bài toán đầu tiên ở dạng này, tôi qui ước đối với học sinh những
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN TOÁN LỚP 1
NĂM HỌC
TỈ LỆ ĐIỂM KTĐK MÔN TOÁN
9 - 10
7-8
5-6
3-4
1-2
2005 - 2006
43.7
23.0
21.8
5.1
6.3
2006 - 2007
58.6
0
V - BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Sau quá trình 6 năm thai nghén và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình về cải tiến
nội dung và phương pháp dạy học môn Toán cùng với việc nghiên cứu, thực hiện
những đề tài khác, tôi đã tự kiểm nghiệm và đúc rút ra được bài học kinh nghiệm cho
bản thân như sau:
- Muốn một đề tài thành công, người nghiên cứu phải luôn tìm tòi, khám phá và có
những bước đột phá trong quá trình giảng dạy.
- Phải thực sự thương yêu học sinh, xem sự tiến bộ của học sinh chính là sự tiến bộ của
bản thân mình.
- Ngay từ đầu mỗi năm học, người giáo viên phải tìm hiểu để nắm bắt những kiến thức
còn yếu của học sinh. Từ đó phân loại học sinh theo từng đối tượng để có những điều
chỉnh thích hợp về nội dung và phương pháp dạy học cho phù hợp vơi mỗi loại đối
tượng.
- Trong quá trình giảng dạy, phải biết em nào còn yếu ở nội dung kiến thức nào, kịp
thời có kế hoạch và tiến hành phụ đạo cho những học sinh này để trình độ kiến thức
của học sinh không bị chênh lệch quá xa gây khó khăn cho giáo viên trong quá trình
giảng dạy.
- Khi chấm bài, giáo viên nên thống kê những em còn sai sót ở từng dạng kiến thức để
soạn bài tập thích hợp cho các em luyện tập nhằm củng cố, khắc sâu kiến thức và rèn
kỹ năng cho học sinh.
- Luôn động viên, khen thưởng kịp thời những học sinh có tiến bộ, khuyến khích và
tạo điều kiện thuận lợi cho những học sinh còn nhút nhát, chưa thể hiện sự tiến bộ.
- Tạo không khí học tập vui tươi, thoải mái; áp dụng và khai thác tối đa ưu thế của kiểu
dạy học “ học mà chơi, chơi mà học” là điều kiện tiên quyết để tất cả học sinh đều
được tham gia vào quá trình tìm tòi, phát hiện kiến thức; đặc biệt là những học sinh
yếu kém, vì những em này thường nhút nhát, thiếu tự tin.
- Người giáo viên phải thường xuyên giữ liên lạc với cha mẹ học sinh dưới
nhiều hình thức để tạo sự tác động qua lại trong việc nâng cao chất lượng học tập của