Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm an toàn của người tiêu dùng trường hợp thành phố cà mau - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRỊNH QUANG PHONG

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA THỰC PHẨM
AN TOÀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRƯỜNG HỢP
THÀNH PHỐ CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRỊNH QUANG PHONG

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA THỰC PHẨM
AN TOÀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRƯỜNG HỢP
THÀNH PHỐ CÀ MAU
Chuyên ngành: Thống kê kinh tế
Mã số: 8310107
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH THÁI HOÀNG

Tp. Hồ Chí Minh - 2018



1.6. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................3
1.7. Bố cục của nghiên cứu ...................................................................................4
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ...........................................................................6
2.1. Thực phẩm an toàn ........................................................................................6
2.1.1. Khái niệm .................................................................................................6
2.1.2. Phân loại TPAT ........................................................................................7
2.1.2.1. Thực phẩm không gây hại ...................................................................8
2.1.2.2. Thực phẩm hữu cơ ...............................................................................8
2.1.2.3. Thực phẩm xanh ..................................................................................8


2.2. Thực trạng ATTP tỉnh Cà Mau ......................................................................9
2.3. Các nghiên cứu về ý định mua TPAT .........................................................10
2.3.1. Một số mô hình nghiên cứu về TPAT trong nước .................................10
2.3.2. Một số mô hình nghiên cứu về TPAT nước ngoài .................................13
2.4. Ý định mua TPAT và các mối liên hệ giữa các yếu tố ................................15
2.4.1. Ý định mua .............................................................................................15
2.4.2. Các mối liên hệ giữa các yếu tố ..............................................................17
2.4.2.1. Mối liên hệ giữa yếu tố sự quan tâm đến sức khỏe ...........................17
2.4.2.2. Mối liên hệ giữa yếu tố nhận thức về chất lượng ..............................18
2.4.2.3. Mối liên hệ giữa yếu tố sự quan tâm đến môi trường ATTP ............19
2.4.2.4. Mối liên hệ giữa yếu tố nhận thức về hệ thống bán hàng ................19
2.4.2.5. Mối liên hệ giữa yếu tố nhận thức về giá bán ...................................20
2.4.2.6. Mối liên hệ giữa nhóm tham khảo.....................................................21
2.5. Mô hình nghiên cứu .....................................................................................22
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................23
3.1. Quy trình nghiên cứu ...................................................................................23
3.2. Thang đo các khái niệm trong mô hình nghiên cứu ....................................25
3.3. Thiết kế nghiên cứu .....................................................................................26
3.3.1. Phân tích định tính các yếu tố nhận thức ................................................26


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Diễn giải

ATTP

An toàn thực phẩm

ATVSTP

An toàn vệ sinh thực phẩm

TPAT

Thực phẩm an toàn

TP

Thực phẩm

VSATTP

Vệ sinh an toàn thực phẩm


DANH MỤC BẢNG BIỂU


GIỚI THIỆU CHUNG
Chương 1 - giới thiệu sự cần thiết, mục tiêu, câu hỏi và phương pháp nghiên
cứu. Đối tượng, phạm vi và bố cục của nghiên cứu cũng được trình bày trong
chương này.
1.1. Sự cần thiết của nghiên cứu
Đất nước ta đang trong thời kì công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Kinh tế phát
triển khiến nhu cầu của người dân ngày càng cao, đặc biệt là trong nhu cầu ăn uống
không còn như câu nói “ăn no, mặc ấm nữa mà lại trở thành ăn ngon, mặc đẹp”.
Tuy vậy, việc giữ vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) vẫn chưa được nhiều người
chú ý đến, do thực phẩm (TP) là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng và tạo năng lượng
cho sự phát triển của cơ thể con người. M i người chúng ta ai cũng đều nhận thấy
tầm quan trọng của việc n uống, đó là nhu cầu hàng ngày không thể thiếu được.
Tuy nhiên, nếu như nguồn TP không đảm bảo VSATTP, thì sức khoẻ con người
ngày càng bị ảnh hưởng. Thực tế cho thấy TP nhiều khi lại là nguồn gây ra bệnh và
làm cho sức khỏe con người bị ảnh hưởng. Đó là các loại TP không an toàn từ quy
trình sản xuất các loại đồ ăn, đồ uống kém chất lượng, chất lượng không được đảm
bảo và không sản xuất đúng theo những thành phần nguyên vật liệu cũng như quy
trình sản xuất đã đăng ký với cơ quan chức năng, về quy trình quảng cáo, nhãn mác
không đúng với sự thật vẫn thường xuyên diễn ra. Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất
bảo vệ thực vật, thuốc bảo quản không theo những quy định của các cơ quan chức
năng, từ đó gây ra ô nhiễm môi trường, thiên nhiên xung quang, cũng như là các
chất tồn dư, các hóa chất này trong TP, việc bảo quản và sử dụng không hợp lý dẫn
đến ngộ độc TP, nghiêm trọng hơn là dẫn đến tử vong. Đây là vấn đề gây ra nhiều
lo lắng trong người tiêu dùng và toàn xã hội. (Tuyên truyền về VSATTP, 2016).
Hàng năm ở Việt Nam thường tổ chức các hội nghị về phòng chống các bệnh
về ung thư. Trong năm 2017 có tổ chức hội nghị khoa học quốc tế về phòng chống
ung thư được tổ chức tại Huế, hội nghị này do Hội Ung thư Việt Nam, Bệnh viện


2


3

giả quyết định lựa chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua thực phẩm
an toàn của người tiêu dùng” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình để nghiên cứu.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nhận biết các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua TPAT của người tiêu dùng.
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến ý định mua TPAT của
người tiêu dùng.
- Đưa ra các ý kiến đóng góp cho nhà sản xuất, kinh doanh trong ngành thực
phẩm tại Cà Mau. Từ đó cải thiện tình hình ATVSTP tại Cà Mau, nâng cao chất
lượng cuộc sống người tiêu dùng và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngành sản
xuất và kinh doanh TPAT tại Cà Mau nói riêng và Việt Nam nói chung.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
(1) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định mua TPAT của người tiêu dùng
TP. Cà Mau?
(2) Chiều hướng tác động của các yếu tố đến ý định mua TPAT như thế nào?
(3) Mức độ tác động của những yếu tố đến ý định mua TPAT như thế nào?
(4) Những hàm ý có thể đưa ra để nâng cao ý định mua TPAT của người tiêu
dùng tại TP. Cà Mau?
1.4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua TPAT của
người tiêu dùng thành phố Cà Mau.
1.5. Phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Phạm vi khảo sát: Người tiêu dùng TPAT tại thành phố Cà Mau.
- Dữ liệu được thu thập tại thành phố Cà Mau theo từng giai đoạn: nghiên cứu
định tính từ 01/7/2017 – 15/7/2017, nghiên cứu định lượng sơ bộ 01/8/2017 –
15/8/2017, nghiên cứu chính thức thời gian 1 tháng từ 1/9/2017 đến hết tháng
9/2017.
1.6. Phương pháp nghiên cứu

pháp xử lý dữ liệu.


5

Chương 4: Kết quả nghiên cứu: chương này trình bày các kết quả thực hiện
nghiên cứu bao gồm: phân tích thống kê mẫu và các biến trong nghiên cứu, kiểm
định và đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA từ đó
điều chỉnh lại mô hình nghiên cứu, phân tích tương quan Pearson cuối cùng là phân
tích hồi quy bội.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: trình bày tổng hợp lại kết quả nghiên cứu đã
đạt được và đưa ra một số đề xuất kiến nghị. Ý nghĩa, hạn chế của nghiên cứu và
hướng nghiên cứu trong tương lai của đề tài cũng được nêu rõ trong chương này.


6

Chương 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 - trình bày cơ sở lý thuyết của nghiên cứu: một số khái niệm, thực
trạng ATTP tại Cà Mau, các nghiên cứu trước, ý định mua và các mối liện hệ giữa
các yếu tố. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu sẽ được hình thành.
2.1. Thực phẩm an toàn
2.1.1. Khái niệm
Thực phẩm là “sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua
sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các
chất sử dụng như dược phẩm” (Luật ATTP Việt Nam số 55/2010/QH12, 2010).
Thực phẩm an toàn là “thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con
người” (Luật ATTP Việt Nam số 55/2010/QH12, 2010).
Trên thị trường thực phẩm, có nhiều cách gọi khác nhau về TPAT như: “Thực

biến, tiêu thụ trong điều kiện đảm bảo TP không gây mất an toàn về sức khỏe, tính
mạng, tài sản cho người sử dụng.
TPAT được phân thành các loại khác nhau. Theo Rongduo Liu, Zuzanna
Pieniak, Wim Verbeke (2013) “Thái độ và hành vi của người tiêu dùng đối với
TPAT tại Trung Quốc”, TPAT bao gồm TP không gây hại, TP xanh và TP hữu cơ.
Nguyên Phó Thủ Tướng Nguyễn Công Tạn (2010) “Sản xuất nông phẩm, TP theo
công nghệ sạch” cho rằng TP sạch được chia làm ba loại gồm: TP không gây hại;
TP sinh thái (hay còn gọi là TP xanh) và TP hữu cơ.
2.1.2. Phân loại TPAT
Tác giả đồng ý với quan điểm của Rongduo Liu, Zuzanna Pieniak, Wim
Verbeke (2013), nghĩa là, TPAT bao gồm TP không gây hại, TP xanh và TP hữu cơ.
Một số quan điểm về TP không gây hại, TP hữu cơ, TP xanh như sau:


8

2.1.2.1. Thực phẩm không gây hại
Theo Huang, Wu, Rong, You, & Jiang (1999) “Thẩm định chất lượng môi
trường cho vùng sản xuất rau không gây hại”, TP không gây hại là TP có chất
lượng tốt, bổ dưỡng và an toàn, có tồn dư các hóa chất độc hại như phân bón, thuốc
trừ sâu, kim loại nặng, nitrat ở dưới mức giới hạn cho phép, được thiết lập bởi các
tiêu chuẩn quốc gia.
2.1.2.2. Thực phẩm hữu cơ
Theo tổ chức nông nghiệp và TP thế giới (FAO) “TP hữu cơ là những TP
được nuôi trồng trong điều kiện tự nhiên không có hóa chất, kháng sinh, công nghệ
biến đổi gen hay bất kỳ hóa chất tổng hợp nào”. Mặc dù vậy, hiện nay vẫn còn có
những tranh luận về thuật ngữ “Thực phẩm hữu cơ”.
2.1.2.3. Thực phẩm xanh
Theo Zhang và cộng sự (2002) “Đánh giá thị trường nông sản không gây hại
và các chính sách có liên quan” cho rằng, TP xanh được hiểu theo khái niệm về bảo

chênh lệch nhiều so với TP thông thường, nên các doanh nghiệp bán lẻ kinh doanh
loại TPAT này là chủ yếu, những mặt hàng TPAT mà các doanh nghiệp thương mại
bán lẻ kinh doanh phải được các cơ quan chứng nhận đảm bảo VSATTP. Loại
TPAT này sẽ khác với loại TPAT do các hộ gia đình tự trồng trọt, chăn nuôi, cung
ứng ra thị trường nhưng không được các cơ quan chức năng chứng nhận ATTP.
2.2. Thực trạng ATTP tỉnh Cà Mau
“Hoạt động sản xuất, buôn bán thực phẩm cũng như tiêu dùng thực phẩm tại
tỉnh Cà Mau hiện đang phát triển khá mạnh. Theo thống kê của Ủy ban Nhân dân
tỉnh Cà Mau, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 5.388 cơ sở chế biến, kinh doanh thực
phẩm (có 615 cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm, 1.418 cơ sở kinh doanh thực
phẩm, 3.355 cơ sở dịch vụ ăn uống). Trong đó, các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn
uống cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP, tuyến tỉnh quản lý 100%. Tuy nhiên,
đối với tuyến huyện còn khá ít, chỉ khoảng 40%, trong thời gian qua, qua kiểm tra,
đã phát hiện và xử lý nhiều trường hợp vi phạm như: cơ sở không đảm bảo


10

ATVSTP, vệ sinh cơ sở không đạt, trang thiết bị dùng để chế biến thực phẩm không
đảm bảo, tại các khu chợ tình trạng bán thức ăn sống, chín được bày bán xen lẫn,
không có dụng cụ che đậy rất mất vệ sinh, nhiều loại rau, củ, quả, cá, thịt,…được
bày bán trên những tấm ni - lông hay những mảnh ván kê tạm bợ dưới nền đất ẩm
ướt. Một số cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm cạnh cống rãnh, ao tù,… hoặc sử
dụng dụng cụ chế biến, bảo quản thô sơ, cũ kỹ rất mất vệ sinh. Người tiêu dùng lựa
chọn thực phẩm chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm và cảm quan, chưa có một tiêu
chuẩn cụ thể nào để đánh giá TPAT, không bị nhiễm thuốc trừ sâu, chất độc hại.
Mặc dù biết nguy cơ mất ATVSTP là rất cao, nhưng do nhu cầu hằng ngày người
tiêu dùng đành phải chấp nhận sử dụng.”
2.3. Các mô hình nghiên cứu về ý định mua TPAT trong và ngoài nước
2.3.1. Một số mô hình nghiên cứu về TPAT trong nước


Ý ĐỊNH MUA
THỰC PHẨM
AN TOÀN

Nhận thức về
sự sẵn có

Nhận thức
về giá bán
Chuẩn mực
chủ quan

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền (2016)
(Nguồn: mô hình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền, 2016)
Nghiên cứu của Ngô Phạm Ý Uyên (2017) “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý
định mua TPAT của người tiêu dùng thành phố Nha Trang”.
“Nghiên cứu này với 5 thành phần nhân tố ban đầu mà tác giả đề xuất gồm:
nhận thức về giá bán, nhận thức về chất lượng, sự quan tâm đến sức khỏe, lòng tin
đối với truyền thông, nhận thức về sự sẵn có TPAT. Sau quá trình phân tích nhân tố
khám phá EFA từ kết quả khảo sát với 200 người tiêu dùng đã hình thành được 6
nhân tố, trong đó có một nhân tố mới được đề xuất, đó là nhân tố sự quan tâm đến
an toàn thực phẩm tách từ nhân tố sự quan tâm đến sức khỏe, tuy nhiên nhân tố sự
quan tâm đến an toàn thực phẩm đã bị loại sau khi chạy hồi quy. Kết quả nghiên cứu
đã cho thấy, cả 5 nhân tố nhận thức về giá bán, nhận thức về chất lượng, sự quan tâm


12

đến sức khỏe, lòng tin đối với truyền thông, nhận thức về sữ sẵn có của TPAT đều có

H1
Sự quan tâm đến ATTP
H2
Nhận thức về giá bán

Nhận thức về chất lượng

H3

H4

Ý ĐỊNH
MUA THỰC
PHẨM AN
TOÀN

H5
Nhận thức về sự sẵn có
H6
Lòng tin đối với truyền thông
Hình 2.2. Mô hình nghiên cứu của Ngô Phạm Ý Uyên (2017)
(Nguồn: mô hình nghiên cứu của Ngô Phạm Ý Uyên, 2017)
2.3.2. Một số mô hình nghiên cứu về TPAT ở nước ngoài
Nghiên cứu của A.H. Aman và cộng sự ( 2012)
Nghiên“cứu được thực hiện để tìm hiểu ảnh hưởng của sự hiểu biết về môi
trường và sự quan tâm tới môi trường tới thái độ từ đó ảnh hưởng tới ý định mua
TPAT của người tiêu dùng Malaysia. Tác giả đã phỏng vấn 384 người tiêu dùng ở
các loại TPAT khác nhau và phân tích bằng phương pháp định lượng. Nghiên cứu
đã tìm ra rằng sự hiểu biết về môi trường và sự quan tâm tới môi trường ảnh hưởng


văn hóa cao và vị trí cao có xu hướng mua TPAT nhiều hơn. Lợi ích về sức khỏe
đóng một vai trò quan trọng trong quyết định mua TPAT. Và sự không sẵn có của
TPAT là rào cản chính cho ý định mua TPAT. Ý định mua TPAT lại dẫn đến sự


15

thỏa mãn về TPAT. Và sự thỏa mãn này được quyết định bởi các nhân tố như lợi
ích về sức khỏe, chất lượng, vị ngon của thực phẩm, độ tươi mới của thực phẩm, sự
đa dạng của TPAT... Đây là một nghiên cứu sâu sắc và có giá trị tuy nhiên xét riêng
với việc nghiên cứu ý định mua TPAT thì mô hình chưa có được nhiều nhân tố.”
Mô hình của nghiên cứu:

Ý ĐỊNH
MUA THỰC
PHẨM AN
TOÀN

Nhân khẩu,
lợi ích sức
khỏe, sự sẵn


Sự thỏa mãn
về thực phẩm
an toàn

Lợi ích về sức
khỏe, chất lượng,
vị ngon, độ tươi,

sản phẩm. Nó là một phản ứng mang tính chất nhận thức xuất phát từ thái độ của
một người nào đó đối với một đối tượng. Như vậy, ý định mua hàng hóa sẽ được
hình thành từ những đánh giá của người tiêu dùng đối với sản phẩm hoặc thái độ
của họ đối với một thương hiệu kết hợp với các yếu tố kích thích bên ngoài.”
Ý định mua hàng của người tiêu dùng thường thì rất phức tạp. Thông thường,
ý định mua nó có liên quan chặt chẽ tới hành vi mua sắm, thái độ cũng như nhận
thức của họ. Hành vi mua chính là một trong những chìa khóa hết sức là quan trọng
trong quá trình mà người mua xem xét, đánh giá một sản phẩm nhất định nào đó
Keller (2001).
“Gorsh (1990) cho rằng nghiên cứu ý định mua hàng sẽ là một chìa khóa đặc
biệt hiệu quả trong việc dự đoán quá trình mua. Một khi người tiêu dùng đã quyết
định mua một sản phẩm ở một cửa hàng nào đó thì họ thường bị ý định đó chi phối
và thúc đẩy họ thực hiện đúng ý định của mình. Tuy nhiên, ý định mua hàng hoàn
toàn có thể thay đổi do tác động nhận thức về giá cả, chất lượng hay cảm nhận về
giá trị Zeithaml (1980) và Grewal (1998). Ngoài ra, người mua hàng còn có thể bị
ảnh hưởng bởi sự chi phối từ các yếu tố kích thích của môi trường bên trong và môi
trường bên ngoài trong quá trình mua. Hành vi của họ thông thường được dẫn dắt



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status