MỞ ĐẦU
1. Tin cấp thiết của đề tài
Tổ chức Hội Nông dân có vị trí, vai trò rất quan trọng, là nơi rèn luyện,
giáo dục, kết nạp hội viên, là cầu nối giữa Đảng với nông dân; nơi tuyên truyền
vận động nông dân thực hiện các phong trào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại
địa phương. Tổ chức các hoạt động hỗ trợ, tư vấn, dịch vụ giúp nông dân phát
triển sản xuất, tuyên truyền các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới áp dụng trong sản
xuất, tạo việc làm tăng thu nhập, chăm lo đời sống vật chất tinh thần của hội viên
nông dân; nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng chính đáng của hội viên,
nông dân với Đảng, chính quyền.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, hoạt động Hội và
phong trào nông dân huyện Bảo Thắng những năm qua có những tiến bộ nhất
định, đã thu hút đông đảo nông dân vào công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội, giữ vững an ninh quốc phòng trên địa bàn huyện. Hội Nông dân từ huyện đến
cơ sở đã thực hiện chủ trương đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, hướng về
cơ sở, lấy cơ sở là trung tâm nòng cốt để thực hiện các phong trào của Hội, chú
trọng củng cố, kiện toàn Hội cả về số lượng và chất lượng, tăng cường các hoạt
động hỗ trợ để nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh như đẩy mạnh hoạt động
tư vấn, hỗ trợ, giúp đỡ nông dân về vốn, giống, vật tư nông nghiệp, khoa học kỹ
thuật, tổ chức dạy nghề, cung ứng vật tư nông nghiệp…
Các phong trào thi đua trong nông dân như phong trào nông dân SXKD
giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững, phong trào nông dân
thi đua xây dựng nông thôn mới, phong trào nông dân tham gia đảm bảo quốc
phòng an ninh đã khích lệ động viên hàng ngàn hộ nông dân tích cực, chủ động,
sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư vốn,
giống vào sản xuất kinh doanh; tích cực ủng hộ tiền, vật chất, hiến đất, đóng góp
công lao động xây dựng nông thôn mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vai trò của Hội Nông dân vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu trong việc xây dựng nông thôn, hoạt động Hội và
phong trào nông dân ở Bảo Thắng nhiều nơi còn mang tính hình thức, chất lượng
Đề tài nghiên cứu vai trò của Hội Nông dân huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
trong xây dựng nông thôn mới, từ năm 2015 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, khảo sát thực tế, tổng hợp, so sánh,
tham dự... để làm rõ nội dung trên.
5. Kết cấu của đề tài
2
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài
gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1
MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI NÔNG DÂN TRONG XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Một số khái niệm và vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội Nông
dân
1.1.1. Một số khái niệm
Hội Nông dân
Hội Nông dân Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội của giai cấp nông dân
do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được
thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôn trung
thành với Đảng và dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Hội Nông dân Việt Nam là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân và
công cuộc xây dựng nông thôn mới.
Nông thôn
Theo Thông tư số 54/TT – NNPTNT ngày 21 - 08 - 2009 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, quy định: “Nông thôn là phần lãnh thổ không
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam khẳng định: Hội
Nông dân Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội của giai cấp nông dân do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Hội Nông dân Việt Nam có vai trò tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng
giai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng tin cậy trong
khối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam xác định chức năng của Hội là: Tập hợp,
vận động, giáo dục hội viên, nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập
nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp nông dân tham gia xây
dựng Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chăm lo, bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân; tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư
vấn, hỗ trợ nông dân trong sản xuất, kinh doanh và đời sống.
4
Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam xác định nhiệm vụ của Hội là:
Tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân hiểu và tích cực thực
hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị
quyết, chỉ thị của Hội. Khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí cách
mạng, tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo của nông dân.
Vận động, tập hợp, làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; xây dựng nông thôn mới.
Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân. Trực tiếp
thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông
thôn; hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông
thôn. Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ, dạy nghề, khoa học công
nghệ giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường.
Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức Hội, phát triển và nâng
hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo
an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu”. Từ
đó, tạo điều kiện thuận lợi để sản phẩm nông nghiệp Việt Nam có đủ sức cạnh
tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.
Đồng thời “đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông
nghiệp sinh thái phát triển toàn diện cả về nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hiện
đại, bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy
ứng dụng sâu rộng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ
thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức
cạnh tranh, bảo đảm chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm vững chắc
an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và đời
sống của nông dân. Chú trọng đầu tư vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp. Có
chính sách phù hợp để tích tụ, tập trung ruộng đất, thu hút mạnh các nguồn lực
đầu tư phát triển nông nghiệp; từng bước hình thành các tổ hợp nông nghiệp công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao”.
Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, nhiệm vụ của ngành nông
nghiệp và phát triển nông thôn là: phát triển nông nghiệp bền vững; thực hiện tái
cơ cấu, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, giá trị gia tăng và hiệu quả cao; xây
dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống của dân cư nông
thôn; phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao năng lực phòng, chống, giảm nhẹ thiên
6
tai; bảo vệ và sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi
trường.
Đảng chỉ rõ nhiệm vụ và giải pháp cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây
dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2016 – 2020 là: “tập trung thực hiện đồng
bộ, hiệu quả các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững, xây dựng nông thôn
mới và cải thiện đời sống của nông dân”. Đây là nhiệm vụ hết sức khó khăn, bởi
quá trình sản xuất nông nghiệp những năm gần đây tuy đã đạt được nhiều thành
673/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc Hội Nông dân
trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển
kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011-2020,
- Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam khóa VI, nhiệm kỳ 2013 – 2018.
- Chương trình hành động số 74-CTr/TU ngày 30/9/2008 của tỉnh ủy Lào
Cai khóa XIII về việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Bảo Thắng lần thứ XXVII (nhiệm kỳ
2015-2020) ( với 5 chương trình, với 16 đề án phát triển kinh tế - xã hội của
huyện; trong đó có Đề án số 05 về chương trình xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2016 - 2020, ban hành Quyết định phê duyệt Đề án thực hiện chương trình
mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện giai đoạn 20162020.)
Chương 2
THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA HỘI NÔNG DÂN HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
2.1. Khái quát về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và công tác Hội
Huyện Bảo Thắng là một huyện biên giới phía Bắc của Việt Nam, thuộc
tỉnhLào Cai.Huyện nằm ở trung tâm tỉnh Lào Cai, phía Bắc giáp với huyện Hà
Khẩu (Vân Nam - Trung Quốc) với 7 km đường biên và huyện Mường Khương,
phía Đông và Đông Bắc giáp với huyện Bắc Hà và Mường Khương, phía tây giáp
huyện Sa Pa, tây bắc tiếp giáp thành phố Lào Cai, phía nam là huyện Bảo Yên và
Bảo Thắng.
Huyện có diện tích 691,55 km² và dân số 100.577 người (đông nhất tỉnh
Lào Cai). Huyện lỵ là thị trấn Phố Lu nằm cách thành phố Lào Cai khoảng 40 km
về hướng đông nam. Huyện lị là thị trấn Phố Lu. Trên địa bàn huyện có Quốc lộ
8
70, có đường sắt Côn Minh-Hà Nội, quốc lộ 4E, sông Hồng đi qua. Ngoài ra còn
có nhiều tỉnh lộ và đường liên xã tới các thôn bản.
huyện Bảo Thắng yên tâm phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế NLN.
Cơ cấu nội ngành nông nghiệp chuyển biến rõ nét theo hướng tăng tỷ trọng chăng
nuôi và dịch vụ; phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị
trường tiêu thụ. Nhiều chương trình, dự án đã được triển khai thực hiện như:
Chương trình xây dựng vùng lúa thâm canh cao sản, ngô hàng hoá, đậu tương
hàng hoá, chương trình trồng chè, chăn nuôi đại gia súc, thâm canh nuôi trồng
thuỷ sản, trồng cây vụ đông, trên đất 2 vụ lúa. Nông dân đã tiếp thu và ứng dụng
các tiến bộ KHKT vào sản xuất, hàng năm trên 98% diện tích lúa ruộng được gieo
cấy bằng các giống lúa lai, giống kỹ thuật có năng xuất cao, chất lượng gạo ngon
có giá trị hàng hoá cao; tổng sản lượng có hạt năm 2018 ước đạt 39.433,9 tấn
( tăng 3.052 tấn so với năm 2012); giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha đất trồng
trọt và chăn nuôi thủy sản ước đạt 72,5 triệu đồng. Trong đó chăn nuôi phát triển
theo hàng hóa, nông dân quan tâm sử dụng con giống mới ( Bò lai sin, lợn hướng
nạc, cá rô phi đơn tính; cá chép dòng; mô hình nuôi gà lạnh, gà thả đồi vv ...) hình
thành các trại chăn nuôi gà, lợn tập trung với quy mô lớn theo hướng công
nghiệp; tăng cường phòng, chống dịch bệnh trong chăn nuôi đã góp phần tăng sản
lượng và chất lượng vật nuôi hàng năm. Lâm nghiệp được coi trọng và phát triển
bền vững với nhiều thành phần kinh tế tham gia, độ che phủ đạt 53,2%. Hoàn
thành xong quy hoạch và hình thành vùng cây công nghiệp dài ngày như: Chè cao
sản, vùng cây ăn quả nhãn chín muộn, na, chanh tứ mùa, Bưởi Múc...và vùng cây
ngắn ngày như: Chối mô, dứa, rau, hoa, củ, quả...Áp dụng giống mới thâm canh
tăng vụ, sản xuất vụ 3, trồng rau, mầu và chăn nuôi gia súc, gia cầm đang là thế
mạnh của huyện trong thời gian vừa qua. Gắn với phát triển nông, lâm nghiệp với
xây dựng nông thôn mới.
2. Về nông dân: Nông dân là lực lượng chủ yếu trong lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn. Toàn huyện có 12 xã và 3 thị trấn, trong đó 5 xã vùng III và 1
xã biên giới ( năm 2016 xã Phố Lu đã thoát khỏi xã vùng III); có 25.359 hộ,
108.501 nhân khẩu; 53.247 lao động; có 17 dân tộc anh em cùng chung sống ở
260 thôn, tổ dân phố; trong đó hộ sản xuất nông nghiệp, nông dân, nông thôn có
4. Về công tác Hội: Công tác xây dựng tổ chức Hội từ huyện đến cơ sở
thường xuyên được củng cố, kiện toàn, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
trong thời kỳ mới đến nay, toàn huyện có 264 chi hội, trong nhiệm kỳ rút gọn 04
chi Hội (do việc sát nhập thôn, tổ dân phố) đến nay toàn huyện có 260 chi hội/
260 thôn, tổ dân phố, đảm bảo 100% thôn, tổ dân phố đều có tổ chức Hội. Chỉ
11
đạo 251 chi hội Đại hội theo Điều lệ và bầu ủy viên BCH chi Hội từ 3- 5 đ/c, toàn
huyện có 260 đ/c chi hội trưởng gắn với Bí thư chi bộ, trưởng thôn hoặc các chức
danh đoàn thể, chính trị xã hội khác.
Kết nạp hội viên: Trong nhiệm kỳ đã kết nạp mới 1.308 hội viên, xoá tên
534 hội viên (do chết, chuyển đi, bỏ sinh hoạt...). Đến nay toàn huyện có 17.112
hội viên, chiếm 86,02 % số hộ nông dân.
Trong đó: Hội viên là nữ : 3.802 HV chiếm 24,06%/ tổng số hội viên, tăng
1.178 HV so với đầu nhiệm kỳ. Hội viên là người dân tộc thiểu số: 4.986 HV
chiếm 31,55%/ tổng số hội viên, tăng 749 HV so với đầu nhiệm kỳ. Hội viên là
Đảng viên: 1.128 HV chiếm 7,14 %/ tổng số hội viên, tăng 143 HV so với đầu
nhiệm kỳ.
Số hội viên được phát thẻ đến cuối nhiệm kỳ: 15.750 thẻ chiếm 92,04%
hội viên tăng 1.730 thẻ so với đầu nhiệm kỳ.
Ban Chấp hành, Ban Thường vụ từ huyện đến cơ sở duy trì sinh hoạt định
kỳ, thực hiện có hiệu quả chương trình công tác và quy chế hoạt động của BCH;
Tổ chức học tập Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân các cấp.
Công tác cán bộ là nhân tố quyết định đến chất lượng công tác Hội, trong
nhiệm kỳ Hội đã chủ động tham mưu với cấp ủy Đảng về công tác quy hoạch đạo
tạo cán bộ từng bước nâng cao, trình độ uy tín trách nhiệm của cán bộ Hội cơ sở
nhất là người đứng đầu đã cử 1.461 đồng chí cán bộ Hội tham gia các lớp tập
huấn công tác Hội, trong đó: 01 đ/c Lãnh đạo HND huyện, 07 Đ/c Chủ tịch, phó
chủ Hội cơ sở tham gia các lớp do TW HND Việt Nam mở; 257 Đ/c cán bộ Hội
Tuyên truyền, vận động hội viên nông dân tích cực tham gia cuộc vận động
" Học tập và làm theo tấm gương tư tưởng,đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh";
Nghị quyết số 11 của Chính Phủ về " những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội" gắn với cuộc vận động
"người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam".Nhằm đa dạng hóa các hình thức
tuyên truyền, Hội đã phát động cuộc thi " Nhà nông đua tài; Hội thị Nông dân
tìm hiểu pháp luật” nhân Kỷ niệm 86 năm, ngày thành lập HND Việt Nam
(14/10/1930 - 14/10/2016); cuộc thi viết về "Chương trình xây dựng nông thôn
mới"; " tìm hiểu 70 thành lập Đảng bộ tỉnh Lào Cai" với hàng nghìn bài dự thi,
trong đó có nhiều bài đạt giải cao.
Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, nhận thức
của hội viên, nông dân ngày càng được nâng cao trong sự nghiệp đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thể hiện vai trò là trung tâm nòng cốt của tổ
13
chức Hội, của giai cấp Nông dân trong phong trào tham gia xây dựng nông thôn
mới; nâng cao ý thức chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước, xây dựng Đảng, chính quyền và tổ chức Hội trong sạch, vững
mạnh.
2.2.2. Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, giúp nhau
làm giàu và giảm nghèo bền vững, góp phần xây dựng nông thôn mới
HND các cấp đã tích cực đề xuất, tham mưu với chính quyền tổ chức phát
động phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi đến toàn thể hội viên, nông dân
tích cực tham gia hưởng ứng, tập chung tuyên tuyền mở rộng các mô hình sản
xuất nông nghiệp hàng hóa, đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp sản xuất nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tập trung thâm canh tăng vụ, tăng hiệu quả sử
dụng đất, nâng cao năng xuất, sản lượng cây trồng, đẩy mạnh áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật, quy trình sản xuất an toàn, sản xuất nông nghiệp tốt gắn với
lựa chọn chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có tiềm năng để tăng giá trị trên
các doanh nghiệp...xúc tiến các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nông dân phát triển kinh
tế theo định hướng của huyện, các lĩnh vực tác động đó là:
Dịch vụ hỗ trợ vốn được triển khai tốt, các cấp Hội triển khai hỗ trợ vốn
thuộc 3 kênh vốn chủ yếu . Đối với kênh vốn nhận ủy thác từ Ngân hàng Chính
sách xã hội cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác đã có
100% cơ sở Hội tham gia nhận làm ủy thác, thành lập 92 tổ tiết kiệm và vay vốn,
dư nợ bình quân hàng năm đạt trên 95 tỷ đồng với trên 16.053 lượt hộ vay; tỷ lện
nợ quá hạn thấp chiếm 0,02% tổng số dư nợ hàng năm.
Thực hiện Nghị định 55 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ
phát triển nông nghiệp nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Hội Nông dân
huyện ký chương trình phối hợp liên ngành với Ngân hàng NN&PTNT chi nhánh
huyện Bảo Thắng, chỉ đạo Hội cơ sở ký kết liên ngành, đứng ra tín chấp, bảo
lãnh, thành lập tổ vay vốn, tổ liên kết cho nông dân vay vốn phát triển kinh tế,
nâng cao thu nhập hiện nay 100% số xã, trên 70% số thôn tổ dân phố, trên 80 hộ
sản xuất kinh doanh giỏi đã có quan hệ vay vốn với Ngân hàng Nông nghiệp,
nâng dự nợ qua tổ chức Hội từ 185 tỷ năm 2012 lên trên 414 tỷ đồng năm 2017,
thành lập 138 tổ với trên 12.729 lượt hộ đang có dư nợ. Nợ xấu, nợ quá hạn luôn
ở mức cho phép.
Đối với vốn Quỹ hỗ trợ nông dân tại thời điểm tháng 01/2018 toàn huyện
dư nợ 6.257 triệu động hiện đang thực hiện tại 10 dự án với 110 hộ nông dân
đang hưởng lợi từ các dự án; nhiều mô hình kinh tế vay vốn từ quỹ có hiệu quả
15
như: Chăn nuôi trâu, bó, lợn nái sinh sản, gà thả đồi, cây ăn quả, nuôi thủy sản
hàng năm tạo việc làm, thu nhập ổn định cho trên 230 lao động, nâng cao thu
nhập mỗi hộ từ 25-40 triệu đồng/năm.
2.2.3. Vận động, hướng dẫn nông dân tham gia phát triển các hình
thức kinh tế tập thể
Công tác vận động, hướng dẫn nông dân tham gia phát triển các hình thức
tạo vệ sinh môi trường nông thôn, gắn với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây
dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, thông qua hội thi như hội thi “nhà nông
đua tài” về xây dựng nông thôn mới...
Tổ chức các lớp tập huấn, tuyên truyền, vận động, tình hình sản xuất nông
– lâm nghiệp đã có những bước tiến rõ rệt cả về diện tích, năng suất, chất lương
và hiệu quả kinh tế, nhiều hộ nông dân hiến đất làm đường nông thôn trên 48.560
m2. Tham gia làm đường giao thông nông thôn được trên 51.156 ngày công
tương đương 3,041 tỷ đồng, 10.000 ngày công làm công trình xã hội hóa trường,
lớp học. Một số doanh nghiệp ũng hộ vật liệu trị giá trên 1 tỷ 560 triệu đồng ...
Có: 7.955 hộ đào hố xử lý rác thải, 6.734 hộ có chuồng trại nuôi nhốt gia súc,
8.716 hộ/17.075 hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh; đổ bê tông, tu sửa và làm mới được
316 km đường giao thông nông thôn, đường đổ bê tông 197 km, cấp phối 68,37
km, mở mới 49, 88 km; nạo vét, sửa chữa kênh mương, 66,7 km đóng góp hàng
ngàn m3cát phục vụ xây dựng các công trình phúc lợi xã hội; hàng trăm hộ nông
dân sản xuất kinh doanh giỏi đã tự hiến đất, di chuyển tài sản để ủng hộ xây dựng
các công trình hạ tầng nông thôn, cải tạo phong tục tập quán lạc hậu, vệ sinh môi
trường nông thôn. Năm 2015 có 11.777/18.179 hộ đạt gia đình văn hoá, chiếm
64,7% tổng số hộ trên địa bàn; có 198/271 thôn bản đạt chuẩn thôn bản văn hóa
chiếm 73,6 %. Điển hình đi đầu trong phong trào nông dân thi đua xây dựng nông
thôn mới như các xã Văn Sơn, Hòa Mạc, Khánh Yên Thượng, Khánh Yên Trung,
Khánh Yên Hạ và xã Võ Lao... Năm 2014 xã Văn Sơn được công nhận xã đạt
chuẩn nông thôn mới, đến cuối năm 2015 thêm 01 xã đạt chuẩn về xây dựng nông
thôn mới đó là: xã Hòa Mạc. Chất lượng cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây
dựng nông thôn mới, đô thị văn minh được nâng lên. Vận động nông dân khai
thác tốt thế mạnh trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông, lâm sản cung cấp cho
thị trường trong và ngoài huyện; đồng thời tích cực tham gia xây dựng hệ thống
chính trị ở khu vực nông thôn thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng thế trận
17
làm, đẩy mạnh sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống, xây dựng
18
gia đình văn hoá, thôn bản văn hoá, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp
của dân tộc.
2.2.6. Công tác thi đua khen, thưởng
Phát huy sức mạnh đoàn kết, sáng tạo trong cán bộ, hội viên và nông dân góp
phần thúc đẩy thực hiện tốt các phong trào của Hội. Nhiệm kỳ qua BCH Hội
Nông dân các cấp trong huyện tiếp tục đẩy mạnh việc phát động và triển khai các
phong trào thi đua yêu nước sâu rộng đến cán bộ, hội viên và nông dân. Các
phong trào thi đua do UBND huyện và Hội cấp trên phát động được cụ thể hóa
thành các đợt thi đua trong hệ thống tổ chức Hội bằng các chỉ tiêu thi đua, kế
hoạch hành động cụ thể.
Xây dựng quy chế hoạt động về công tác thi đua khen thưởng, hướng dẫn cơ
sở tuyên truyền về mục tiêu, ý nghĩa của từng phong trào đến từng chi Hội để các
tập thể, cá nhân đăng ký tham gia. Đồng thời hướng dẫn việc chấm điểm thi đua,
bình xét, đánh giá, đề nghị Hội cấp trên và UBND các cấp xét khen thưởng, Các
điển hình tiên tiến được phát hiện kịp thời và bồi dưỡng nhân rộng, từ đó góp phần
huy động được sức mạnh tập thể, tinh thần sáng tạo trong cán bộ hội viên và nông
dân, thúc đẩy các phong trào thi đua trong nông thôn ngày càng phát triển sâu rộng.
Với những nỗ lực đóng góp trong thực hiện công tác Hội và thực hiện các nhiệm
vụ chính trị của địa phương trong những năm qua các phong trào đã tác động
mạnh mẽ vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hoá, được các cấp ủy, chính quyền ghi nhận thành tích kịp thờì, Tại kỳ tổng
kết phong trào sản xuất kinh doanh giỏi năm 2015, UBND các xã đã biểu dương
khen, thưởng cho các hộ đạt tiêu chuẩn hộ SXKD giỏi các cấp là 179 hộ trong đó
tặng giấy khen là 158 Hộ tặng quà 21 hộ, UBND huyện tặng giấy khen cho 60 hộ
SXKD giỏi, 9 hộ nghèo vượt khó. Đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen
cho 08 hộ nông dân SXKD giỏi cấp tỉnh. Đề nghị Chính phủ phong tặng anh
dân phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, hăng hái thi đua
lao động sản xuất, đẩy mạnh thực hiện 3 phong trào lớn của Hội, nhất là phong
trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi và phong trào xây dựng nông thôn
mới đã làm dấy lên sự đoàn kết, khuyến khích nhiều gia đình hội viên, nông dân
mạnh dạn đầu tư sản xuất, kinh doanh; ngày càng xuất hiện những mô hình làm
ăn có hiệu quả kinh tế- xã hội cao, không những nâng cao mức sống của hội viên,
nông dân mà còn góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, làm thay
đổi bộ mặt nông thôn, góp phần đưa nông nghiệp, nông thôn của huyện phát triển
20
toàn diện, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định xã hội, nâng cao đời sống của
nông dân.
2.3.2. Một số hạn chế
Công tác tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng cho nông dân một số ít
cơ sở còn mang tính hình thức, tính trông chờ ỷ lại vào các chính sách của nhà
nước cho hộ nghèo, chưa chịu khó vươn lên, tình trạng một số nông dân bị lôi kéo
tụ tập đông người, khiếu kiện vẫn còn xảy ra, gây mất an ninh trật tự tại một số
địa phương như khai thác vàng trái phép ở xã Nậm Xây, Nậm Xé; ý thức bảo vệ
môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội của người dân chưa cao.
Một số cơ sở Hội chưa làm tốt chức năng đại diện cho quyền và lợi ích
chính đáng của nông dân, nhất là tham gia thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở;
tham gia xây dựng và phản biện các cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến
nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chưa thật sự tạo được
các vùng sản xuất hàng hoá, quy mô chưa tập trung và bền vững. Nhiều lợi thế
tiềm năng từng vùng, từng địa phương chưa được khai thác hết để phát triển. Sản
xuất cơ bản vẫn manh mún, nhỏ lẻ, giá trị thấp, chưa tương xứng với tiềm năng.
Việc chuyển giao KHKT và áp dụng những tiến bộ KHKT mới của hội viên,
nông dân vào thực tế sản xuất, chăn nuôi còn chậm.
gia tổ chức Hội tại một số cơ sở gặp rất nhiều khó khăn.
Cơ sở vật chất, phương tiện, kinh phí phục vụ cho các hoạt động của Hội còn
nhiều khó khăn, chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Ở một số địa phương, cấp ủy Đảng, chính quyền, chưa quan tâm đúng mức
đối với hoạt động của Hội Nông dân, nhất là công tác cán bộ.
* Nguyên nhân chủ quan:
Năng lực, trình độ của một số cán bộ Hội, nhất là ở cơ sở chưa đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ; tính chủ động, sáng tạo, gương mẫu, nhiệt tình, trách nhiệm
trong công tác chưa cao.
Phương thức hoạt động của Hội Nông dân các cấp, nhất là cấp cơ sở chậm
đổi mới, chưa nắm chắc về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đặc biệt là vai trò
của tổ chức Hội trong công cuộc xây dựng nông thôn mới để tham mưu với cấp
ủy Đảng.
Trình độ dân trí còn thấp và không đồng đều, vẫn còn tư tưởng trông chờ
vào sự hỗ trợ của Nhà nước; tập quán sản xuất, cách nghĩ, cách làm chậm đổi
22
mới, chưa chủ động nhất là việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất nông, lâm nghiệp.
Một số cấp uỷ cơ sở chưa thật sự quan tâm đến hoạt động của Hội, thiếu
chủ động trong công tác xây dựng, quy hoạch cán bộ Hội, do vậy còn có sự hụt
hẫng, lúng túng trong việc bố trí lựa chọn cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt ở cơ sở
sau mỗi kỳ Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Nhiều
cán bộ chủ chốt Hội cơ sở không có trong quy hoạch, ít hoặc chưa có kinh
nghiệm trong hoạt động của Hội Nông dân vẫn được bố trí, dẫn đến chất lượng
hoạt động ở một số cơ sở Hội chưa cao.
Chương 3
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CỦA HỘI NÔNG DÂN HUYỆN
BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-pacific partnership- TPP) và các
hiệp định thương mại liên quan đến nông nghiệp, nông dân gắn với việc thực hiện
4 chương trình và 19 đề án của Đảng bộ tinh Lào Cai lần thứ XV, 4 chương trình 13
đề án và 5 kế hoạch của Huyện ủy Bảo Thắng khóa XX, nhiệm kỳ 2015-2020.
Nâng cao chất lượng phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh
giỏi, giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bề vững; phong trào nông dân thi đua xây
dựng nông thôn mới; phong trào nông dân thi đua tham gai đảm bảo quốc phòng,
an ninh.
Hội Nông dân từ huyện đến cơ sở phải làm tốt công tác tham mưu, phối
hợp với cấp ủy đảng, chính quyền, làm tốt vai trò là cầu nối liên kết giữa các
doanh nghiệp, nhà khoa học với các hộ sản xuất, kinh doanh giỏi xây dựng các
mô hình kinh tế hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm để tuyên truyền nhân
rộng. Vận động nông dân tham gia các hình thức tập trung đất đai để tăng quy
mô sản xuất, phát triển nhanh các mô hình trang trại, gia trại, hợp tác xã; tích cực
trồng rừng sản xuất, chăm sóc và bảo vệ rừng. Chủ động phối hợp với các ngành
để đào tạo nghề cho nông dân.
Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, làm
chuyển biến nhận thức của đông đảo cán bộ, hội viên nông dân về phát triển kinh
tế; khích lệ, động viên nông dân thay đổi nếp nghĩ, quyết tâm vượt khó, tập trung
24
khai thác tiềm năng, thế mạnh về vốn, lao động, đất đai để đầu tư phát triển sản
xuất.
Tập trung xây dựng, nhân rộng những mô hình điển hình tiến tiến, xuất sắc
phù hợp với từng địa phương. Nêu gương những tổ chức, cá nhân điển hình tiên
tiến xuất sắc trong sản xuất, kinh doanh dịch vụ phục vụ nông nghiệp và giúp đỡ
có hiệu quả đối với các hộ nghèo.
Gắn phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi với việc đẩy mạnh củng