1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của nhân loại, phụ nữ bao giờ
cũng giữ một vị trí quan trọng trong gia đình và xã hội, trên tất cả các mặt
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, nghệ thuật... Hơn thế nữa, về mặt
số lượng, phụ nữ chiếm nửa tổng dân số, tài năng và trí tuệ của họ cũng
không kém gì nam giới. Phụ nữ luôn luôn tự vươn lên và đã từng đấu tranh
bằng mọi hình thức và mức độ khác nhau để được bình đẳng với nam giới.
Tuy nhiên, cuộc đấu tranh đó thật khó khăn, phức tạp, dai dẳng, có lúc quyết
liệt và đến nay vẫn chưa kết thúc. Hiện nay, ở Việt Nam, nhất là vùng sâu,
vùng xa và vùng nghèo vẫn còn tồn tại tư tưởng gia trưởng "trọng nam khinh
nữ", coi phụ nữ chỉ là cái bóng của đàn ông, bị cột chặt vào cái gia đình bé
nhỏ, công việc của họ chỉ là sinh con, nuôi con và xoay quanh xó bếp. Thực
chất một số phụ nữ không được tôn trọng, bình đẳng ngay chính trong gia
đình của mình, họ, bị chà đạp về thể xác và tinh thần; họ không được đi học,
không có quyền tham gia các công việc xã hội... Điều này đã làm ảnh hưởng
đến sự phát triển toàn diện của xã hội và ngay chính bản thân người phụ nữ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề giải phóng
phụ nữ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ là hệ thống các vấn đề
thể hiện nhãn quan chính trị, tâm hồn dân tộc và tình yêu thương con người
bao la, thể hiện tầm triết học nhân văn sâu sắc của Người. Trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, phụ nữ là lực lượng quan trọng trong cách mạng, trong xã hội và
đặc biệt là trong gia đình.
Thực tế, trong gia đình, phụ nữ là người đóng vai trò quan trọng, trách
nhiệm của họ cũng thật lớn lao. Nhưng trong gia đình Việt Nam trước đây,
phụ nữ thường bị coi khinh, bị ngược đãi. Vì vậy, khi nước nhà giành được
độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp 1946, trong đó
vẫn là nạn nhân của bạo lực gia đình. Chính vì vậy, phòng, chống bạo lực gia
3
đình đối với phụ nữ ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói
riêng là vấn đề cấp bách hiện nay.
Là một giảng viên, trực tiếp giảng dạy bộ môn Dân vận ở Trường
Chính trị Nguyễn Văn Linh tỉnh Hưng Yên, tôi nhận thức được sự mất bình
đẳng giữa nam và nữ, sự thiệt thòi của phụ nữ sống trong gia đình có bạo lực;
từ thực tiễn trên, với mong muốn góp phần xây dựng gia đình, xã hội Việt
Nam thật sự công bằng, dân chủ, văn minh như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí
Minh.Vì vậy, tôi chọn vấn đề: "Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải
phóng phụ nữ vào việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở
Việt Nam hiện nay" làm đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học Chính trị, chuyên
ngành Hồ Chí Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giải
phóng phụ nữ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ là vấn đề rất quan trọng,
do vậy nhiều cơ quan, tổ chức và nhiều nhà khoa học quan tâm thực hiện và
đã có nhiều công trình được công bố.
* Một số công trình, đề tài nghiên cứu khoa học:
- "Hồ Chủ tịch với vấn đề giải phóng phụ nữ", Nxb Phụ nữ, Hà Nội,
1970.
- "Lênin với vấn đề giải phóng phụ nữ", Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1970.
- "Một số quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề giải phóng
phụ nữ", Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1967.
- "Vấn đề giải phóng phụ nữ", Nxb Sự thật, Hà Nội, 1974, khẳng định
vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Trong các xã hội có giai cấp đối kháng,
5
về giải phóng phụ nữ. Chưa có luận văn nào vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về giải phóng phụ nữ vào việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Những công trình nghiên cứu về phòng, chống bạo lực gia
đình
Bạo lực gia đình là hành vi vi phạm quyền con người. Mức độ về bạo
lực là một trong những thước đo sự mất bình đẳng về giới và cũng là một
trong những chỉ số thể hiện vai trò và địa vị của người phụ nữ trong gia đình
và xã hội.
Trên thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bạo lực gia đình.
Nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này đã
được công bố.
* Một số công trình, đề tài nghiên cứu khoa học:
- "Bạo lực trên cơ sở giới tính ở Việt Nam" của Ngân hàng Thế giới, 2009.
- "Bạo lực trên cơ sở giới" của TS. Vũ Mạnh Lợi, Vũ Huy Tuấn, Nguyễn
Hữu Minh và Jennifer Clement, 1999.
- "Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam" của Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam, 2001.
- "Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nayThực trạng, vấn đề và giải pháp" của Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2008.
* Một số luận văn:
Trương Thị Hồng Loan: "Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia
đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay", Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2008.
* Một số bài đăng trên các tạp chí:
7
3.2. Nhiệm vụ
Luận văn xác định các nhiệm vụ chính sau:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về giải phóng phụ nữ.
- Nghiên cứu thực trạng phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
ở Việt Nam hiện nay; phân tích, làm rõ các nguyên nhân khách quan và chủ
quan của thực trạng trên.
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp trong phòng, chống bạo lực gia
đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích trên, đề tài tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
về giải phóng phụ nữ vào việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
ở Việt Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Tư tưởng Hồ Chí minh về giải phóng phụ nữ là một vấn đề lớn, đó là
giải phóng phụ nữ khỏi những bất công trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội, ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Để thực hiện được điều đó, trước hết phải
giải phóng họ khỏi bạo lực gia đình, tiến tới nam nữ bình quyền. Do đó, luận
văn tập trung làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và vận dụng
vào việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
- Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ
8
10
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ
CỦA PHỤ NỮ
Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận một cách đầy đủ và sáng tạo những nguyên
lý mà chủ nghĩa Mác - Lênin đề ra, trong đó có tư tưởng về vị trí, vai trò của
phụ nữ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quán triệt những câu nói của C.Mác - Lênin
về vai trò của phụ nữ, và Người cho rằng những lời nói "không phải là những
câu nói lông bông" [32, tr. 288] mà được đúc rút từ thực tế xã hội. Người khẳng
định, trong các cuộc cách mạng, phụ nữ luôn đóng một vai trò hết sức quan
trọng "xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà, con
gái tham gia" [32, tr. 288-289]. Từ đó, Người cho rằng: "An Nam cách mệnh
cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công" [31, tr. 289 ], bởi lẽ "nói phụ
nữ là nói phân nửa xã hội". Như thế, phụ nữ chiếm số đông trong lực lượng
nhân dân. Phụ nữ là một lực lượng to lớn, đóng vai trò quan trọng trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội. Bất cứ lĩnh vực nào cũng có bàn tay, khối óc của
người phụ nữ. Họ vừa đảm đang, cần cù lao động, vừa anh hùng bất khuất
trong đấu tranh, vừa nhân nghĩa thủy chung trong quan hệ gia đình xã hội, đó
là những nét điển hình tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa đến nay.
Những ưu điểm đó đã tạo thành một sức mạnh phi thường, một truyền thống
quý báu của phụ nữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi tổng kết lịch sử nước ta đã
nhận xét:
"Phụ nữ ta chẳng tầm thường
Đánh Đông dẹp Bắc, làm gương để đời" [33, tr. 222].
mình tô thắm truyền thống đánh giặc giữ nước quý báu của dân tộc.
12
Không chỉ đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc, phụ nữ Việt
Nam còn đảm nhiệm cả những công việc xã hội, tổ chức và quản lý xã hội.
Điều này được thể hiện rõ qua hình ảnh của Nguyên Phi Ỷ Lan "Bà đã thay
vua Lê Thánh Tông trông coi việc triều đình khi nhà vua đem quân đi Chiêm
Thành, lại gợi ý cho vua Nhân Tông trong việc bảo vệ trâu bò để đảm bảo
việc cày bừa của dân gian" [50, tr. 130]; thái hậu Dương Vân Nga đã thay
chồng lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn thử thách và còn vô số
những người phụ nữ khác thay chồng và con trai quản lý xóm làng những lúc
giặc tràn sang xâm lược. Ngoài ra, trên lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, nhiều
phụ nữ đã để lại những áng thơ văn nổi tiếng lưu truyền đến tận hôm nay. Đó
là những thi sĩ nổi tiếng như: Nhàn Khanh, Lý Ngọc Kiều, Nguyễn Thị Điểm
Bích, Đoàn Thị Điểm, Nguyệt Đình, Lê Ngọc Hân, Ngô Chi Lan, Trần Ngọc
Lầu, Huệ Phố, Bà Huyện Thanh Quan, Hoàng Hạ Uyên, Sương Nguyệt Ánh...
Có thể nói, phụ nữ Việt Nam không những đã kiên trì dũng cảm trong
chống giặc ngoại xâm mà còn cần cù, chịu khó. "Phụ nữ Việt Nam ta đã có
truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù" [40, tr. 85]; yêu nước
thiết tha và sẵn sàng hy sinh vì nước. Tinh thần ấy ở các thế hệ phụ nữ đã trở
thành truyền thống như Hồ Chí Minh đã tổng kết và họ đã bền bỉ đem tinh
thần ấy phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh của dân tộc, chống giặc ngoại xâm,
bảo vệ Tổ quốc, giữ yên bờ cõi. Hơn ai hết, phụ nữ Việt Nam hiểu rằng mục
đích ấy, mơ ước ấy của họ chỉ có thể trở thành sự thực khi có Đảng lãnh đạo.
Ngay từ khi ra đời, Đảng đã là ngọn đèn soi đường, dẫn dắt phụ nữ cùng toàn
dân tiến lên giải phóng dân tộc.
1.1.2. Trong cách mạng giải phóng dân tộc
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Hai Bà Trưng đã mở đầu cho
địch theo dõi thả bom dữ dội, nhưng chị em vẫn vui vẻ ca hát, động viên nhau
làm tròn nhiệm vụ" [40, tr. 88].
Trong các vùng tạm chiếm, phụ nữ đã đấu tranh kiên cường để ngăn
chặn âm mưu thâm độc của thực dân Pháp: "Phụ nữ trong vùng tạm chiếm thì ra
sức chống địch bắt chồng con, anh em đi lính, phá âm mưu địch dùng người
Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, chị em kiều bào ở nước
15
ngoài thì ủng hộ kháng chiến của đồng bào trong nước về mọi mặt" [35, tr.
431].
Đặc biệt hơn, phụ nữ Việt Nam đã phát huy hết khả năng và sức mạnh
của mình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Họ đã được Chủ tịch
Hồ Chí Minh đặt trọn niềm tin và Người kêu gọi: "Bác mong phụ nữ ta ra sức
phát huy hơn nữa truyền thống dũng cảm và đảm đang, cùng toàn quân và
toàn dân ta bảo vệ độc lập, tự do của tổ quốc, đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu
nước đến thắng lợi hoàn toàn" [42, tr. 150].
Đáp lại lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở miền Nam chị em
phụ nữ đã trở thành lực lượng đông đảo nhất trong các cuộc đấu tranh rất bền
bỉ, ngoan cường, kiên trì trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự, binh vận.
Những đội quân tóc dài nổi tiếng của miền Nam đã gan góc xông pha, bất
chấp súng đạn của kẻ thù. Với lực lượng quần chúng tay không, dựa vào lòng
yêu nước và ý chí đánh thắng địch, với những lời lẽ đanh thép và nhiều hình
thức phong phú, phong trào đấu tranh trực diện của phụ nữ trở thành một vũ
khí sắc bén, tấn công liên tục làm cho quân địch phải hoảng sợ chùn bước.
Tại lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam, Người đã tuyên dương phụ nữ miền Nam: "Miền Nam anh hùng có đội
quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ. Họ rất mưu trí và
dũng cảm làm cho địch phải khiếp sợ và gọi là "đội quân tóc dài" [42, tr. 149].
em đạt được trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
Dưới chủ nghĩa xã hội, người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành nhiệm vụ
của người đàn ông dũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài
năng và nghị lực.
Với tầm nhìn khoa học và cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá
rất chính xác vai trò, vị trí và khả năng của phụ nữ Việt Nam trong tiến trình
lịch sử đấu tranh cách mạng, từ thuở đầu dựng nước, giữ nước cho đến thời
kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Và từ đó, Người đã rút ra kết luận: "Non sông
gấm vóc Việt Nam do phụ nữ, trẻ cũng như già ra sức thêu dệt mà thêm tốt
đẹp rực rỡ" [36, tr. 432]. Đây là một tổng kết mang tính lịch sử, đồng thời
mang tính dự báo chính xác của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
19
Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đúng vị trí, vai trò của
phụ nữ trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữa nước; trong cách mạng
giải phóng dân tộc và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời đây cũng
là cơ sở tạo tiền đề cho sự phát triển những quan điểm trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về giải phóng phụ nữ.
1.2. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ
GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ
1.2.1. Giải phóng phụ nữ gắn liền với giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc
đấu tranh cho hạnh phúc của nhân dân. Từ lúc rời xa quê hương, xa Tổ quốc
thân yêu đi tìm đường cứu nước, khát vọng đấu tranh vì nhân dân, vì độc lập
tự do, vì sự công bằng và bình đẳng của con người luôn khắc sâu trong trái
tim của Người. Trong cuộc đời phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp giải phóng
phụ nữ Việt Nam một phần do chế độ phong kiến mang lại với luật tam tòng
hà khắc từ nhiều ngàn năm, mặt chính là do tội ác của chế độ thực dân gây
nên mà có lẽ kể mãi cũng không hết. Những chính sách tàn bạo của thực dân
Pháp đã đẩy phụ nữ Việt Nam vào con đường tủi nhục. Vì vậy, quyền lợi của
phụ nữ phải gắn liền với quyền lợi của cả dân tộc, của cả giai cấp công nhân và
nhân dân lao động Việt Nam. Do đó, muốn quyền lợi của phụ nữ được bảo đảm
thì trước tiên phải giành lại quyền lợi cho dân tộc, cho giai cấp, phải giải phóng
dân tộc khỏi sự thống trị của thực dân xâm lược, xóa bỏ vĩnh viễn ách áp bức
bóc lột giai cấp, nô dịch dân tộc. Người đã hun đúc một hoài bão lớn là phải
làm sao để phụ nữ Việt Nam nói riêng và phụ nữ thế giới nói chung thoát khỏi
sự áp bức bất công của xã hội, làm sao để phụ nữ được tôn trọng, được đặt
đúng vị thế của mình và được bình đẳng như nam giới. Vì thế, suốt cuộc đời
hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đấu tranh cho quyền lợi của
phụ nữ và xem đó như là mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Trong hầu hết các tác phẩm, bài báo, bài phát biểu của mình, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn lưu ý đến vấn đề nữ giới. Trong tác phẩm "Bản án chế độ
21
thực dân Pháp" viết năm 1925, Người đã dành cả một chương để nói về nỗi
khổ nhục mà những phụ nữ bản xứ phải gánh chịu, đó là:
Người phụ nữ đã trở thành nạn nhân của thói dâm bạo thực dân. Nó
khiến chị em phải chịu bao nỗi ê chề nhục nhã cả về thể xác và tinh thần, và
còn dẫn đến cái chết oan uổng của nhiều người, kể cả các em bé gái ít tuổi.
Người viết:
Khi bọn thực dân Pháp đến một làng, tất cả dân chúng chạy
trốn, chỉ còn hai cụ già, một thiếu nữ, một thiếu phụ đang cho đứa
con mới đẻ bú, tay dắt một bé gái lên tám. Bọn lính đòi tiền, rượu
và thuốc phiện vì không am hiểu tiếng Pháp nên chúng nổi giận, lấy
đoạt ruộng đất của nông dân để lập các đồn điền, làm phá sản, bần cùng hóa
hàng loạt dân quê, buộc họ phải rời quê hương xứ sở tha phương cầu thực, đi
bán sức lao động của mình một cách rẻ mạt cho các đồn điền, hầm mỏ, công
ty, xí nghiệp của bọn thực dân xâm lược.
Để duy trì cuộc sống của mình và gia đình, những người phụ nữ mang
thai phải giấu, thắt chặt bụng lại, vì chủ biết sẽ đuổi. Chị em sinh nở nghỉ
không được hưởng lương mà còn bị đe dọa mất việc làm. Có con nhỏ chị em
không được nghỉ cho con bú giữa giờ làm việc. Có thể nói, đây là những hành
động vô cùng dã man mà chỉ có bọn tư bản thực dân mới nghĩ ra và áp dụng.
Chúng vừa bóc lột sức lực, vừa đàn áp tinh thần, vừa hành hạ thể xác người
phụ nữ. Chúng không bao giờ quan tâm đến việc cải thiện điều kiện làm việc
của chị em. Chỗ làm việc của chị em thường hết sức nóng bức, chật chội,
thiếu vệ sinh, tai nạn lao động thường xuyên xảy ra.
23
Trước sự áp bức bóc lột tàn tệ của bọn chủ, những nữ công nhân Việt
Nam đã đấu tranh liên tiếp đòi quyền lợi hàng ngày với khẩu hiệu "việc làm
ngang nhau tiền lương ngang nhau" và phụ nữ được nghỉ đẻ 10 ngày có
lương, ngày làm việc 10 giờ, ngày lễ, chủ nhật phải trả lương. Sa thải công
nhân phải báo trước 20 ngày. So với ngày nay, chúng ta thấy những yêu cầu
của chị em còn rất thấp, chỉ là đòi hỏi tối thiểu của người lao động nữ, nhưng
bọn chủ cũng không chịu thi hành.
Ngoài việc bị ức hiếp, bị bóc lột tàn nhẫn sức lao động, người phụ nữ
còn bị bóp nặn bằng đủ mọi thứ thuế khóa, tạp dịch, bằng cưỡng bức uống
rượu cồn, hút thuốc phiện và mua công trái. Nếu không có tiền nộp đủ thuế
thì phải đi tù.
Cùng với chính sách bóc lột, bọn thực dân còn thi hành chính sách
ngu dân để dễ bề cai trị. Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo: "Để có thể đánh lừa dư
tự do của dân tộc và quyền bình đẳng của phụ nữ.
1.2.2 Giải phóng phụ nữ phải gắn với chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải phóng phụ nữ không chỉ là lý
luận, tư tưởng mà quan trọng hơn là phải bằng chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Bởi lẽ, địa vị kinh tế, chính trị, xã hội quy định quyền bình đẳng
của phụ nữ, vì vậy chỉ khi phụ nữ được tham gia các hoạt động kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội thì mới đảm bảo được quyền bình đẳng thực sự cho phụ
nữ. Người khẳng định: "Đảng và chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để
bồi dưỡng cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi
công việc kể cả công việc lãnh đạo" [42, tr. 504].
Với quan điểm đó, mỗi lần đến thăm các lớp bồi dưỡng cán bộ, các
nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp hoặc dự các hội nghị, Chủ tịch
Hồ Chí Minh thường quan sát xem số lượng cán bộ nữ được tham gia hội
nghị, tham dự các lớp học ít hay nhiều; số lượng phụ nữ được tham gia công