BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 76% dân số sống ở nông
thôn, 73% lực lượng lao động xã hội đang làm việc và sinh sống nhờ vào các hoạt
động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp. Phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng
nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được Đảng và Nhà nước luôn quan tâm trong
công tác xây dựng phát triển nông thôn, cải thiện, nâng cao mức sống của người
nông dân, nhất là những vùng sâu vùng xa, miền núi hải đảo. Với phương châm
"Nhà nước và nhân dân cùng làm, dân làm là chính, có sự hướng dẫn, hỗ trợ của
Nhà nước", Chính phủ đã dành nguồn vốn đáng kể cho đầu tư và phát triển hệ
thống đường giao thông nông thôn (GTNT).
Giao thông nông thôn là một trong những lĩnh vực được tập trung quan tâm
phát triển mạnh trong nhiều năm qua. Với mục tiêu giảm tỷ lệ đói nghèo, từng bước
cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế.
Vì vậy giao thông nông thôn là một phần quan trọng trong kết cấu hạ tầng kỹ thuật
của cả nước, nâng đỡ cho sản xuất, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. Hệ thống giao
thông nông thôn được phát triển sẽ thúc đẩy giao lưu giữa các vùng sản xuất nông
nghiệp với các thị trấn, các cộng đồng dân cư, các trung tâm kinh tế, thúc đẩy tiêu
dùng, thúc đẩy đầu tư xây dựng ở khu vực dân cư, tạo điều kiện phát triển văn hóa
xã hội và củng cố an ninh quốc phòng.
Dưới tác động của nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của nhiều
ngành kinh tế xã hội và tốc độ đô thị hoá ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó là sự thay
đổi về cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của huyện Chơn Thành nói riêng và tỉnh
Bình Phước nói chung tác động tích cực đến quá trình đẩy mạnh xây dựng và phát
triển hệ thống GTNT. Tuy nhiê n, vớ i Nguồn lực còn hạn chế (vốn, lao động, đất
đai…), sự quan tâm của các cấp chính quyền còn chưa cao, mức sống của dân cư nông
thôn nói chung còn thấp, tỷ lệ các hộ nghèo cũng như nhận thức của người dân về việc
THỜI GIAN
Tuần 1
(Từ 10/02/2014 đến
15/02/2014)
Tuần 2
(Từ 17/02/2014 đến
22/02/2014)
Tuần 3,4
(Từ 24/02/2014 đến
08/03/2014)
Tuần 5,6
(Từ 10/03/2014 đến
22/03/2014)
Tuần 7
(Từ 24/03/2014 đến
29/03/2014)
Tuần 8
(Từ 31/04/2014 đến
04/04/2014)
NỘI DUNG CÔNG VIỆC
GHI CHÚ
- Báo cáo lãnh đạo phòng Kinh tế và Hạ tầng về
thông nông thôn trên địa bàn huyện Chơn Thành
tỉnh Bình Phước để nắm tình hình thực tế.
- Hoàn thành đề cương báo cáo thực tập gửi giảng
viên hướng dẫn.
- Tiếp tục hỗ trợ cơ quan hoàn thành tốt các công
việc được giao.
- Viết báo cáo thực tập.
- Hoàn thiện báo cáo thực tập.
- Trình lãnh đạo phòng Kinh tế và Hạ tầng nhận
xét về quá trình thực tập.
- Tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình thực
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 2
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
tập
II. NHỮNG CÔNG VIỆC CỤ THỂ
2.1. Nghiên cứu tài liệu
Văn bản quy phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiêm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Phòng Kinh tế và Hạ tầng Huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Văn bản chỉ đạo của trung ương và địa phương về quản lý hệ thống đường
GTNT.
Quy trình thủ tục xây dựng đường GTNT.
Quy trình cấp phép xây dựng nhà ở.
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
tác của UBND huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về
chuyên môn, nghiệp vụ của các Sở: Công Thương, Xây dựng, Khoa học và Công
nghệ, Giao thông vận tải. Phòng có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được dự toán
kinh phí để hoạt động và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của
pháp luật.
Phòng có chức năng tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về: công nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; thương mại; xây dựng; phát triển đô
thị; kiến trúc, quy hoạch xây dựng; vật liệu xây dựng; nhà ở và công sở; hạ tầng kỹ
thuật đô thị (gồm: cấp, thoát nước; vệ sinh môi trường đô thị; công viên, cây xanh;
chiếu sáng; rác thải; bến, bãi đỗ xe đô thị); giao thông, khoa học và công nghệ.
1.1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn
Trình UBND huyện:
Dự thảo các quyết định, chỉ thị, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 5 năm, hàng năm
về phát triển công thương, giao thông vận tải, xây dựng, khoa học và công nghệ trên
địa bàn.
Dự thảo các chương trình, dự án đầu tư xây dựng trong các lĩnh vực quản lý nhà
nước thuộc ngành xây dựng trên địa bàn huyện và các chương trình, giải pháp huy
động, phối hợp liên ngành trong thực hiện công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông
trên địa bàn.
Dự thảo quyết định của UBND huyện về phân loại đường xã theo quy định của
pháp luật.
Trình Chủ tịch UBND huyện:
Dự thảo các văn bản về lĩnh vực công thương, xây dựng, giao thông vận tải,
khoa học và công nghệ thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch UBND huyện;
kỳ về nhà ở và công sở trên địa bàn huyện; tổ chức thực hiện việc cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định của UBND tỉnh;
tổng hợp tình hình đăng ký, chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình
xây dựng trên địa bàn huyện.
Thực hiện một số nghiệp vụ khác do UBND huyện, Chủ tịch UBND huyện giao
hoặc theo quy định của pháp luật.
1.2. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của phòng Kinh tế và Hạ tầng UBND huyện Chơn Thành được
thể hiện trong sơ đồ sau:
TRƯỞNG PHÒNG
(Phụ trách chung)
PHÓ
PHÓ TRƯỞNG
TRƯỞNG PHÒNG
PHÒNG
(phụ
(phụ trách
trách xây
xây dựng)
dựng)
Chuyên
Chuyên
viên
viên phụ
phụ
trách
trách nhà
đô
thị.
thị.
Chuyên
Chuyên
viên
viên hợp
hợp
đồng
đồng phụ
phụ
trách
trách
thương
thương mại;
mại;
văn
văn thư;
thư;
trực
trực một
một
cửa
cửa điện
điện tử.
tử.
Chuyên
Chuyên
nghiệp;
nghiệp; tiểu
tiểu
thủ
thủ công
công
nghiệp;
nghiệp;
khoa
khoa học
học &
&
công
công nghệ;
nghệ;
tổng
tổng hợp.
hợp.
Chuyên
Chuyên
viên
viên phụ
phụ
trách
trách xây
xây
dựng;
dựng; vật
vật
dựng; phát
phát
triển
triển đô
đô thị.
thị.
1.3. Nhân sự
Phòng Kinh tế và Hạ tầng có 09 người (5 nam, 4 nữ). Trong đó, 02 công chức giữ
chức vụ lãnh đạo, 07 chuyên viên.
Về trình độ: Đội ngũ cán bộ, công chức phòng Kinh tế và Hạ tầng có bằng đại
học là 07 người, chiếm tỷ lệ 77,78%, cao đẳng là 02 người, chiếm 22,22%.
Về độ tuổi dưới 30 có 02 người chiếm tỷ lệ 22,22%, độ tuổi từ 30-40 là 06
người chiếm 66,67% và độ tuổi từ 40-50 là 01 người chiếm tỷ lệ 11,11%.
1.4. Các mối quan hệ
Đối với cấp tỉnh: Phòng Kinh tế và Hạ tầng chịu sự chỉ đạo và hướng dẫn về
nghiệp vụ chuyên môn của 04 Sở, cụ thể: Sở Xây dựng, Sở Giao thông vận tải, Sở
Khoa học và Công nghệ, Sở Công thương.
Đối với cấp huyện: Phòng Kinh tế và Hạ tầng có mối quan hệ công tác với các
phòng: Tài chính – Kế hoạch, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và PTNT, Đội
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 5
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
quản lý đô thị, Đội Thanh tra xây dựng, Đội quản lý TT số 9, Điện lực Chơn Thành và
Bước 2: Phòng Kinh tế và Hạ tầng đối với các huyện, phòng Quản lý đô thị đối
với các thị xã thẩm định cho ra kết quả. Trường hợp hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng
chưa đảm bảo về mặt kỹ thuật chuyên môn thì cơ quan thẩm định hồ sơ phải có văn
bản trả lời chính thức trong vòng 07 ngày làm việc. Thời gian hoàn chỉnh hồ sơ không
tính vào thời hạn cấp Giấy phép xây dựng.
Bước 3. Tổ chức, cá nhân nhận kết quả và nộp lệ phí theo quy định tại nơi nộp
hồ sơ.
II. TỔNG QUAN VỀ CHUYÊN ĐỀ BÁO CÁO
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm về quản lý nhà nước
Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực
Nhà nước và sử dụng pháp luật Nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con
người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà
nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định
và phát triển của xã hội.
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 6
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
Khái niệm quản lý nhà nước đối với hệ thống đường giao thông nông thôn
GTNT được định nghĩa là sự di chuyển người và hàng hoá ở cấp huyện và
cấp xã. GTNT có thể chia thành 3 loại nhỏ như sau: cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu,
đường thuỷ và cảng), phương tiện vận chuyển và con người. [2]
Đường GTNT là đường thuộc khu vực nông thôn. Được định nghĩa là loại
mạng lưới đường bộ, trong đó đường huyện 45.999km, chiếm 15,75%; đường xã
130.864km, chiếm 44,81%. Giá trị của hệ thống GTNT lên tới hàng nhiều tỷ đô la
nếu không được khai thác, quản lý, bảo dưỡng tốt sẽ là một sự lãng phí rất lớn và
ảnh hưởng đến số đông người hưởng lợi.
Hàng trăm nghìn km cầu, đường nông thôn đuợc xây dựng mới, phục hồi và
nâng cấp. Theo số liệu thống kê, đến 01/07/2011 cả nước đã có 8940 xã, chiếm 98,6%
tổng số xã cả nước đã có đường ô tô đến trung tâm xã (tăng 2,3% so với năm 2006),
trong đó đi lại được 4 mùa là 8803 xã, chiếm 97,1% ( tăng 3,5% so với năm 2006);
trong đó xã có đường ô tô đến trung tâm xã đã được nhựa hóa, bê tông hóa là 7917 xã
chiếm 87,3% (tăng 17,2% so với năm 2006).
2.1.3. Tiêu chuẩn kỹ thuật đường giao thông nông thôn
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 7
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
Do Bộ Giao thông vận tải qui định thì đường GTNT gồm 4 loại đường AH,
A, B và C với chiều rộng mặt đường của loại đường AH và A là 3,5m, đường loại B
là 3,0m và loại C là 2,0m. chiều rộng nền đường l o ạ i đ ư ờ n g A H l à 6,5m, AHMN
là 6,0m, loại A là 5,0m, loại B là 4,0m và đường loại C là 3,0m. Kết cấu mặt đường
và nền móng rất khác nhau tuỳ thuộc điều kiện tự nhiên và xã hội tại mỗi vùng lãnh
thổ.[18]
2.1.4. Vai trò, vị trí của quản lý nhà nước đối với hệ thống đường giao thông
nông thôn
Theo phân cấp thông lệ quốc tế, mạng lưới GTNT thuộc loại 3. Chức năng
của nó là gắn kết hệ thống GTNT tại khu vực nông thôn với mạng lưới thứ cấp
GTNT phát triển còn tạo công ăn việc làm cho người dân nông thôn lúc
nông nhàn. Vì các công trình giao thông này được xây dựng ngay tại địa phương
và phải cần đến một lượng lao động lớn. Do đó có thể huy động một số lao động
của địa phương, giải quyết thất nghiệp cho người dân.
Ngoài ra, GTNT phát triển còn để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc trên bước đường hội nhập kinh tế trên thế giới và trong khu vực.
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 8
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
Sự cần thiết phải phát triển đường giao thông nông thôn:
Do tính chất quan trọng của hệ thống đường GTNT đối với phát triển kinh tế
và xã hội, do đó cần thiết phải đầu tư và phát triển GTNT.
Do tính chất phức tạp của công trình giao thông, nó lại không tập trung mà
phân bố rải rác khắp các bản làng và thôn xóm nên nó đòi hỏi phải có quy hoạch
tổng thể để xây dựng hệ thống GTNT hợp lý phục vụ cho phát triển kinh tế và xã
hội. Vì vậy mà việc đầu tư xây dựng GTNT đòi hỏi một số lượng vốn lớn mới có thể
đáp ứng được.
Việc xây dựng hệ thống đường GTNT phải được tiến hành nhanh chóng do
nó chịu ảnh hưởng của thời tiết. Nếu mùa mưa lũ kéo về sẽ gây cản trở cho quá trình
xây dựng. Do vậy mà nó đòi hỏi phải huy động tối đa các nguồn lực như vật liệu,
lao động và vốn...
Các công trình GTNT rất nhỏ lẻ do đó nguồn lao động tốt nhất cho các công
trình này là lấy tại chỗ, ở ngay địa phương đó như vậy sẽ giảm được chi phí xây
dựng. Các công trình giao thông này sẽ phát huy tác dụng ngay tại địa phương nơi
độ trách nhiệm rõ ràng trong chỉ đạo và thực hiện.
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 9
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
Năng lực của các nhà thầu tại địa phương cũng còn nhiều bất cập. Bản thân
các nhà thầu tư nhân và địa phương chưa tiếp cận được với thông lệ quốc tế và không
có nhiều kinh nghiệm đấu thầu, triển khai thủ tục giải ngân theo chính sách hướng
dẫn của nhà tài trợ.
Về mặt khai thác các công trình giao thông nông thôn
Do việc đầu tư cơ giới cho nông nghiệp ngày càng tăng, nên các tuyến đường
GTNT hiện nay hầu như không đảm bảo về kỹ thuật (tiêu chuẩn nền, mặt đường
và tải trọng thiết kế công trình) cho việc vận tải bằng cơ giới hiện nay và trong
tương lai, hệ thống giao thông đường huyện hầu hết không có hệ thống cọc tiêu,
biển báo nên cũng đã gây ảnh hưởng đến chất lượng khai thác và sử dụng.
Về vấn đề duy tu và bảo dưỡng đường giao thông nông thôn
Dù là đường nhỏ thì việc duy tu bảo dưỡng cũng rất tốn kém tại vùng nông
thôn và mọi nỗ lực cần được bỏ ra nên tập trung vào một mạng lưới nòng cốt
được lựa chọn một cách cẩn thận, đồng thời dựa vào các nguồn lực địa phương
càng nhiều càng tốt. Sự quản lý gắn liền với những ai tham gia vào quá trình chọn
lựa tuyến đường ngay từ ban đầu, vì nếu họ không có tiếng nói thì sẽ không muốn
đóng góp.
Đường nông thôn chủ yếu là đường đất nên rất dễ bị lầy lội, sụt lún do
nước mưa, nước lũ, mương máng chảy cạnh đường hoặc bắc qua đường, nước ngầm
mao dẫn từ dưới lên hoặc hai bên vào làm đường bị hỏng. Vào mùa mưa việc bảo
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
Chưa có quản lý chặt chẽ về quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững của
công trình, khi có mưa lớn và lũ lụt xảy ra đã làm sụt lở đường sá, cầu cống bị
trôi, đường bị hỏng đã gây ách tắc giao thông.
Chưa thực hiện tốt công tác quản lý và duy tu sửa chữa đường và các công
trình trên đường. Trong khâu thi công nghiệm thu bàn giao, nhìn chung còn chưa
chặt chẽ, nhất là đường trong các dự án, đường của các xã tự huy động vốn.
Đa số các cán bộ huyện nói chung nắm chưa chắc tình hình đường sá trên
địa bàn huyện mình quản lý, số liệu báo cáo chưa chính xác, chưa có sổ sách theo
dõi tình trạng đường. Hệ thống đường giao thông xã không có bộ phận quản lý
giao thông rõ rệt.
Xác định các lĩnh vực ưu tiên cho hệ thống đường giao thông nông thôn
Ưu tiên cao nhất là các xã chưa có đường tiếp cận cơ bản, hoặc kết nối kém
với sự hỗ trợ của ngân sách trung ương.
Các khu vực kém phát triển hơn: tập trung vào mạng lưới đường cốt yếu,
đường tiếp cận cơ bản. Nguồn kinh phí chủ yếu là hỗ trợ từ trung ương và tăng
ngân sách địa phương trong thời gian tới.
Các khu vực kinh tế phát triển hơn: Chủ yếu là tự trang trải bằng ngân sách
địa phương và các nguồn khác (thu phí sử dụng của người hưởng lợi và đóng góp
của người dân) để đáp ứng nhu cầu cao hơn.
Về nguồn vốn cho phát triển giao thông nông thôn
Để huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển GTNT Nhà nước thực
hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, các cơ quan chức năng của
chính phủ hướng dẫn các địa phương xây dựng chương trình phát triển GTNT theo
cơ chế ban đầu là nhà nước và nhân dân cùng làm.
TT
10
3
Vùng đồng bằng
20
30
50
Nguồn: Viện chiến lược và phát triển giao thông vận tải
2.2. Thực trạng hệ thống đường giao thông nông thôn huyện Chơn Thành, tỉnh
Bình Phước
2.2.1. Tình hình chung về hệ thống đường giao thông nông thôn của huyện
2.2.1.1. Thực trạng hệ thống giao thông nông thôn huyện Chơn Thành
2.2.1.1.1. Khái quát
Chơn thành có vị trí là cửa ngõ phía nam của tỉnh Bình Phước, tiếp giáp với tỉnh
Bình Dương và thị xã Đồng Xoài. Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế - Xã hội
của huyện đã có những bước phát triển và một trong những động lực thúc đẩy sự đi lên
chính là huyện luôn có chú trọng đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế - Xã hội
đặc biệt là giao thông.
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 11
BÁO CÁO THỰC TẬP
- Có 81,05km đường BTN và láng nhựa chiếm 12,03.%.
- Đường cấp phối sỏi đỏ và đất có 592,64km chiếm đến 87,97%.
So sánh các chỉ tiêu về mật độ và tỷ lệ nhựa hóa đường bộ hiện nay của huyện
Chơn Thành với các huyện khác của tỉnh, thể hiện như sau:
- Về mật độ đường so với diện tích tự nhiên cuả huyện Chơn Thành đạt 1,726km
2
/km .
- Về mật độ đường so với 1000 dân của huyện đạt 10,05km /1000 dân.
- Tỷ lệ nhựa hóa rât thấp, hiện chỉ là 13,03%, hầu hết là đường đất và cấp phối
sỏi đỏ, đều đã xuống cấp, khó khăn cho lưu thông nhất là vào mùa mưa.
Bảng so sánh các chỉ tiêu đường bộ trên địa bàn tỉnh Bình Phước
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 12
BÁO CÁO THỰC TẬP
STT
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
Huyện
Mật Độ
km/km2
Mật Độ
km/1000 dân
6,90
21,1%
4
Huyện Lộc Ninh
0,63
0,48
25,4%
5
Huyện Bù Đăng
0,35
4,27
47,6%
6
Huyện Bù Đốp
0,77
ĐH1
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
139.4
5
16
3.2
2
x
Trang 13
Rất xấu
Xấu
TB
Tình trạng
mặt
đường
Tốt
2
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
Tân Quan - Nha Bích (Đoạn 2)
12.2
16
19.52
Tân Quan - Phước An (Đoạn 1)
2.5
12
3
Tân Quan - Phước An (Đoạn 2)
3.5
12
4.2
Minh Hưng - Minh Hòa - Minh
8.7
ĐH5
Ấp Mỹ Hưng
6.2
5
11
6.82
6.2
x
ĐH6
Đường Hòa Vinh
4.8
5
12
5.76
8.64
7.2
x
ĐH9
Ranh Minh Hưng - Chơn
Thành
4.6
5
10
4.6
4.6
x
ĐH10 Đường đi Ấp 6
8.8
5
9
5
12
2.28
1.9
x
ĐH13
Nha Bích-Minh Thành-Minh
Hưng
6.5
5
12
7.8
6.5
x
18.6
5
x
x
x
x
c. Hiện trạng hệ thống đường xã và thị trấn
Thị trấn Chơn Thành: Thị trấn Chơn Thành là trung tâm kinh tế hành chính
của huyện với diện tích tự nhiên 3.196,8ha. Hệ thống đường xã có 13 tuyến lớn nhỏ
đan xen tổng chiều dài 25,37km, lộ giới 5 - 22.5m, diện tích bao chiếm 53,34ha có
chiều rộng từ 3 - 10m, chất lượng đường trung bình, mặt đường BTN cấp IV và nhiều
tuyến đường cấp phối sỏi đỏ, mật độ đường so với diện tích tự nhiên đạt 1,157km/km 2.
Xã Nha Bích: Nha Bích là một xã trung du miền núi nằm trên QL 14 về phía
đông thị trấn Chơn Thành và cách trung tâm huyện khoảng 17km gồm có 6 ấp với diện
tích tự nhiên 4.976,7ha. Hệ thống đường xã có 19 tuyến có tổng chiều dài 42,52km, lộ
giới 6m, diện tích bao chiếm 38,76ha có chiều rộng từ 6m, nền rộng 7m, chất lượng
đường trung bình chủ yếu là đường cấp phối, vào mùa mưa nhiều đoạn đường lầy lội,
trơn trượt, mật độ đường so với diện tích tự nhiên đạt 0,89km/km2.
Xã Minh Thành: Minh Thành là một xã trung du miền núi nằm trên QL 14 về
phía đông Thị trấn Chơn Thành, cách trung tâm huyện khoảng 10km gồm có 5 ấp với
diện tích tự nhiên 5.157,7ha. Hệ thống đường xã có 32 tuyến lớn nhỏ đan xen có tổng
chiều dài 35,41km, lộ giới 6 - 12m, diện tích bao chiếm 82ha có chiều rộng từ 6 - 7m,
nền rộng 6- 7m, chất lượng đường trung bình chủ yếu là đường cấp phối sỏi đỏ, vào
mùa mưa nhiều đoạn đường lầy lội, trơn trượt, mật độ đường so với diện tích tự nhiên
đạt 1,133km/km2.
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 14
2.906ha. Hệ thống đường xã có 10 tuyến, tổng chiều dài 32,95km, lộ giới 3 -10m, diện
tích bao chiếm 161,2ha có chiều rộng từ 3 – 10m, chất lượng đường trung bình chủ
yếu là đường cấp phối sỏi đỏ, mật độ đường so với diện tích tự nhiên đạt 0,85km/km 2.
Xã Thành Tâm: Thành Tâm nằm về phía tây huyện Chơn Thành, cách trung
tâm thị trấn huyện Chơn Thành khoảng 3km gồm có 6 ấp với diện tích tự nhiên
4053.92ha. Hệ thống đường xã có 13 tuyến lớn nhỏ đan xen tổng chiều dài 37,30km,
lộ giới 5.5 - 7m, diện tích bao chiếm 52,22ha có chiều rộng từ 5.5 – 7m, chất lượng
đường trung bình chủ yếu là đường cấp phối sỏi đỏ, mật độ đường so với diện tích tự
nhiên đạt 0,933km/km2.
2.2.1.2. Thực trạng vốn đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nông thôn
huyện Chơn Thành
Sản phẩm của ngành xây dựng là sản phẩm cố định, trải dài theo tuyến, quá
trình thi công di động và mang tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào thời tiết trong quá
trình xây dựng công trình. Đây là một bất lợi cho ngành xây dựng giao thông dẫn
đến tăng và phát sinh chi phí trong quá trình xây dựng.
Việc thu hồi vốn xây dựng một cách trực tiếp là hết sức khó khăn và thời
gian thu hồi vốn kéo dài, vì vậy khả năng thu hồi vốn trực tiếp từ ngành xây dựng
giao thông không có tính thuyết phục với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thông thường việc thu hồi vốn đầu tư vào ngành giao thông vận tải được thực hiện
gián tiếp thông qua thu thuế và các khoản thu khác do Nhà nước đảm nhận. Vì vậy
trong thời gian qua nguồn vốn cho xây dựng giao thông chủ yếu là ngân sách Nhà
nước gánh vác.
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 15
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
1.250
0
0
1.250
2
2012
1.700
1.700
0
3.400
3
2013
1.600
2.400
0
Qua khảo sát nhiều tuyến đường cấp phối đã hư hại, thậm chí có những đoạn hư
hỏng không thể đi được, người dân phải đi vào đường tránh tự phát. Những đường
tránh tự phát thường là vào trong các rẫy, nhỏ hẹp dạng đường mòn, khó đi và dễ xảy
ra tai nạn, hoặc phải đi đường vòng qua các xã khác gây ảnh hưởng giao thông cho
những người dân sống ở khu vực đó. Những yếu tố về kinh tế, giáo dục và y tế cộng
đồng đều bị chi phối và ảnh hưởng.
Chơn Thành là một huyện hầu như các tuyến đường xã thuộc khu vực đồi núi,
qua các con suối, hệ thống thoát nước không đảm bảo và cơ sở hạ tầng giao thông
thiếu nghiêm trọng gây nên những nguy hại không lường trước được cho người dân
khi lưu thông. Những suối này không đảm bảo thoát nước trong mùa mưa nên gây
nguy hại cho đường khu vực bên suối. Người dân không ra vào khu vực sống được do
những bất cập này để lại. Đồng thời hai bên đường cỏ, cây dại tranh nhau mọc rất
nhiều che chắn tầm nhìn và bề mặt một số con đường hiện hữu.
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 16
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
Bên cạnh đó việc huy động vốn để xây dựng GTNT ở một số địa phương vùng
sâu, nơi có mật độ dân cư thấp, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, nguồn vốn huy
động đạt rất thấp ,không đủ để đầu tư xây dựng công trình. Nguồn lực đầu tư là
nguyên nhân chính làm cản trở quá trình phát triển GTNT của huyện. Một số đoạn khó
đi lại khi đường xá hư hại một số người dân tự phát sửa chữa nhưng do cơ sở hạ tầng
thoát nước không đảm bảo nên vào mùa mưa lại hư hại.
Trong phương hướng quy hoạch sẽ tận dụng nâng cấp, mở rộng và kéo dài các
tuyến hiện có, làm mới một số đường có tính chiến lược và quan trọng phục vụ cho
- Về luồng hàng nội huyện: Được vận chuyển từ trung tâm huyện đến các xã
giữa các xã, được vận chuyển trên các tuyến đường huyện và đường xã.
b. Phương tiện vận tải
Theo số liệu thống kê, năm 2008 trên địa bàn huyện có 346 xe tải do lực lượng
cá thể đăng ký hoạt động với tổng trọng tải là 865 tấn, trọng tải bình quân 2,5tấn/xe.
Tỷ lệ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2004 – 2008 đạt 28,7%/năm. Trong những năm
gần đây một số hộ đã tự đầu tư xe tải nhẹ tự vận chuyển nông sản tới các nhà máy chế
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 17
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
biến và điểm thu mua để đảm bảo lợi nhuận. Ngoài số xe được đăng kinh doanh, trên
điạ bàn huyện hiện vẫn còn các xe cải tiến đang hoạt động. Đây là những phương tiện
do người dân tự chế từ máy nông nghiệp không được cấp giấy lưu hành,nhưng vẫn lưu
thông trên các tuyến đường. Loại phương tiện lưu thông trên đường là một trong
những nguyên nhân gây hư hại mặt đường. Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng các xe
cải tiến đã vận chuyển khối lượng không nhỏ hàng nông sản, vật tư nông nghiệp trên
địa bàn huyện đặc biệt là vùng sâu có đường bộ kém phát triển.
Thống kê phương tiện vận tải hàng hóa do huyện Chơn Thành quản lý
Tăng bình
Chỉ tiêu
Đơn vị 2004 2005 2006 2007 2008
quân
Số phương tiện
Chiếc
chuyển đi đến huyện do lực lượng vận tải bên ngoài huyện đảm nhận.
Sản lượng vận tải thực hiện giai đoạn
Chỉ tiêu
Vận chuyển
(1.000 tấn)
Luân chuyển
(triệu tấn/km)
Cự ly vận chuyển
bình quân (km)
2004
2005
2006
2007
2008
Tăng bình
quân
93,96
94,20
95,00
106,00
Về vận tải hàng hóa, hầu hết nông sản được người dân hợp đồng với nhà xe vận
tải từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ. Đối với những khu vực mà đường xá không cho
phép xe có trọng tải lớn lưu thông, nông sản được người dân vận chuyển bằng xe công
nông từ vườn tới vị trí thuận lợi hơn cho nhà xe, thường là những bãi đất trống dọc
theo các trục giao thông chính trên địa bàn huyện. Do quy mô nguồn hàng không tập
trung với khối lượng lớn nên chưa hình thành bến xe tải trên địa bàn huyện.
Về vận tải hành khách, hiện tại trên địa bàn chưa có xe khách. Người dân có
nhu cầu đi lại sẽ đón xe khách theo dọc các trục QL14, QL13… hoặc về bến xe khách
tỉnh Bình Phước tại thị xã Đồng Xoài.
2.2.2. Quản lý nhà nước của UBND cấp huyện về hệ thống đường giao thông
nông thôn
Quản lý hệ thống đường GTNT là một bộ phận quan trọng trong công tác
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 18
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
quản lý của nhà nước về đường GTNT. Nếu công tác quản lý đường GTNT không làm
tốt sẽ gây lãng phí rất lớn, các công trình giao thông xuống cấp nhanh do đó công tác
quản lý phải được thông suốt từ trung ương đến địa phương, đến huyện đến xã và
đến từng thôn xóm.
2.2.2.1. Cơ chế quản lý của cấp huyện về hệ thống đường giao thông nông thôn
Huyện dựa vào quy hoạch được duyệt cần sắp xếp ưu tiên thống nhất với Sở
kế hoạch và đầu tư để ghi kế hoạch đầu tư cho từng địa phương.
Cơ chế hỗ trợ đối với các dự án GTNT trên địa bàn huyện Chơn Thành thì
được hỗ trợ như sau: Các xã có nhu cầu xây dựng đường GTNT mới trình UBND
đã có văn bản thoả thuận của Bộ Giao thông vận tải. Hệ thống các tuyến đường
tỉnh, đường đô thị do thành phố quản lý đồng thời UBND thành phố có trách nhiệm
tổ chức xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển hệ thống đường tỉnh, đường đô
thị, đường huyện, đường xã, phù hợp với quy hoạch kết cấu cơ sở hạ tầng giao
thông đường bộ chung của thành phố và cả nước, phê duyệt và trình duyệt theo cấp.
Sở Giao thông vận tải là cơ quan tham mưu chính cho UBND thành phố trong
việc quản lý, bảo dưỡng và khai thác hệ thống đường tỉnh, đường đô thị; đồng thời
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 19
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
thường xuyên cung cấp các vấn đề liên quan đến chuyên môn của ngành cho UBND
thành phố và chịu hoàn toàn về mặt kỹ thuật đồng thời hỗ trợ cho phòng Hạ tầng
kinh tế huyện về các vấn đề có liên quan đến ngành giao thông vận tải nói chung
và GTNT nói riêng.
- Đối với các tuyến đường huyện: Các tuyến đường huyện do UBND huyện
quản lý và chịu trách nhiệm về xây dựng, khai thác và duy tu sửa chữa thường xuyên
của các tuyến đường theo quy định của UBND tỉnh. Riêng vấn đề quản lý, sử dụng
đất trong và ngoài hành lang an toàn giao thông đối với các tuyến đường trong
huyện, UBND huyện có trách nhiệm phổ biến tới từng xã trong huyện về tổ chức
thực hiện biện pháp bảo vệ hành lang an toàn đường bộ và những quy định của
pháp luật về vấn đề này; đồng thời xử lý kịp thời các trường hợp lấn chiếm hoặc sử
dụng trái phép đất hành lang an toàn đường bộ.
- Đối với các tuyến đường xã: UBND xã có trách nhiệm quản lý khai thác
và tổ chức bảo dưỡng các tuyến đường bộ được giao trên địa bàn xã. Đồng thời
Cơ quan quản lý cấp địa
phương
+ UBND tỉnh, thành phố
Quản lý các hệ thống đường bộ địa phương, tổ
chức quản lý các hệ thống đường tỉnh, đường đô thị
+ Sở giao thông vận tải
Quản lý các đoạn tuyến QL, đường đô thị, đường
tỉnh.
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 20
BÁO CÁO THỰC TẬP
+ UBND huyện
+ UBND xã
+ Cộng đồng dân cư
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
Quản lý đường trong phạm vi huyện
Quản lý đường xã trong phạm vi xã
Quản lý đường trong phạm vi thôn, xóm, đường
nội đồng
2.2.2.4. Phân cấp quản lý của cấp huyện về hệ thống đường giao thông nông
thôn
Căn cứ vào tình trạng đường giao thông liên xã thuộc huyện quản lý, thì việc
phân cấp quản lý được huyện thực hiện theo nguyên tắc:
- Việc sử dụng, duy tu bảo dưỡng các tuyến đường liên xã giao trách nhiệm cho
UBND xã, thị trấn thực hiện quản lý theo địa giới hành chính.
nông thôn huyện Chơn Thành tỉnh Bình Phước
2.3.1. Mặt đạt được
SVTT: Nguyễn Văn Thỏa - KS11QLC
Trang 21
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
Xây dựng đường GTNT là một trong những tiêu chí nằm trong chương trình
nông thôn mới nên được UBND huyện tập trung đầu tư xây dựng nhằm thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội của địa phương.
Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng và hoàn thiện xong các đề án quy hoạch
GTNT trên địa bàn, quy hoạch GTNT huyện Chơn Thành – tỉnh Bình Phước đến năm
2020 và tầm nhìn sau 2020. Đây là cơ sở để chính quyền các cấp triển khai đề án đồng
bộ trên địa bàn huyện và xã, huy động được tối đa các nguồn lực cần thiết cho sự phát
triển của hệ thống giao thông cũng như phát triển chung của toàn huyện; đồng thời
triển khai giúp người dân nắm bắt hướng đi, thu hút sự quan tâm của toàn dân địa
phương vào công cuộc phát triển chung.
Hiện có 100% Các xã có đường ô tô đến trung tâm tạo điều kiện thuận lợi cho
người dân trong việc đi lại và giao thương.
Đã có sự tham gia của người dân vào công tác quản lý và giám sát hệ thống
đường GTNT cũng như thu hút được sự tham gia đóng góp của nhân dân vào các công
trình giao thông làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.
Người dân địa phương rất phấn khởi về các dự án làm đường giao thông của
huyện và của xã, bởi vì lợi ích to lớn mà đường giao thông sẽ mang lại cho họ. Có
nhiều hộ cho rằng cuộc sống sống của gia đình họ được cải thiện nhờ có đường
GTNT. Sức lao động trong nông thôn được giải phóng và họ không phải gồng gánh
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
Thu nhập bình quân của người dân nông thôn còn thấp mà các khoản phí
đóng góp thì lại cao nhưng chất lượng các con đường thì lại chưa cao, thời gian
thi công thì kéo dài và theo thời gian nó xuống cấp nhanh chóng. Các nguồn lực
cho việc bảo dưỡng định kỳ tại địa phương lại rất ít. Nên các con đường bị xuống
cấp gây bụi bặm và đá văng trúng người khi ô tô, xe máy chạy qua.
Đặc thù của các công tình GTNT là phân tán và trải rộng trên các địa bàn.
Việc thi công xây dựng còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu địa
hình và nguồn vốn của địa phương. Bên cạnh đó chưa có chính sách huy động sự
tham gia đóng góp của các thành phần kinh tế để cùng với người dân xây dựng các
công trình giao thông mà vẫn áp dụng cách tiếp cận dựa vào cung cấp là chính. Cơ
chế chúng ta chưa thực sự rộng mở, vẫn rắp theo khuôn khổ và không có tính năng
động để điều chỉnh cho sát với thực tế yêu cầu.
Việc quản lý hiện nay vẫn mang nặng tính chất áp đặt từ trên xuống, không
bám sát thực tế và do vậy còn thiếu các qui định rõ ràng, không phù hợp với thực tế
đang phát triển. Việc xây dựng quy định chỉ mang tính tương đối, không phù hợp với
điều kiện, thực tế của nhiều vùng hoặc đôi khi chỉ mang tính chất cho có. Bên cạnh đó
vẫn còn thiếu các hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốt lĩnh vực xây dựng, quản lý và
khai thác các công trình GTNT.
Cán bộ quản lý còn thiếu về số lượng, năng lực cán bộ quản lý, điều hành còn hạn
chế làm ảnh hưởng đến quá trình xây dựng, quản lý hệ thống đường GTNT một cách
khoa học và hợp lý.
Công tác kiểm tra giám sát quá trình duy tu bảo dưỡng sửa chữa chưa thường
xuyên. Chưa có kế hoạch và biện pháp cụ thể để tổ chức quản lý, khai thác hiệu quả
các công trình giao thông.
GVHD: ThS. Lê Thị Hoài Thương
Vốn đầu tư cho hệ thống đường GTNT còn hạn chế, kể cả vốn từ ngân sách nhà
nước cũng như vốn huy động của địa phương.
2.4. Một số giải pháp và kiến nghị về quản lý hệ thống đường giao thông nông
thôn của huyện trong thời gian tới
2.4.1. Định hướng
2.4.1.1. Định hướng việc đầu tư xây dựng công trình giao thông nông thôn trên
địa bàn Huyện
Ban quản lý dự án xã, thôn được sử dụng kinh phí thu từ các công trình giao
thông công cộng, từ nguồn phân bổ của huyện, tiền hỗ trợ từ các tổ chức, đơn vị tài
trợ (nếu có)… để duy tu và bảo dưỡng các công trình GTNT, đảm bảo cho công
trình ngày càng bền vững và phát huy hiệu quả.
GTNT do nhà nước và nhân dân cùng đầu tư xây dựng, được nhà nước
xem xét cấp kinh phí hỗ trợ trong các trường hợp: Cải tạo, nâng cấp, mở rộng
qui mô hoặc khôi phục công trình bị thiên tai phá hoại, theo dự án đầu tư xây
dựng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư vốn để xây dựng công trình GTNT
theo qui định của Nhà nước và pháp luật. Người dân được tham gia vào các giai đoạn
của dự án như: giai đoạn chuẩn bị dự án, lập kế hoạch, thiết kế xây dựng, giám sát thi
công và quản lý sử dụng. Trước khi khởi công xây dựng công trình phải hình thành
tổ chức quản lý sử dụng và duy tu bảo dưỡng công trình để người dân có thể làm
chủ hoặc tham gia làm chủ đầu tư xây dựng.
2.4.1.2. Định hướng về công tác quản lý công trình giao thông nông thôn Huyện
Nâng cao năng lực cán bộ quản lý, điều hành. Tiếp tục rà soát điều chỉnh qui
hoạch, kế hoạch đầu tư theo định hướng phát triển hợp lý, đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ
trong thời kỳ đổi mới. Tăng cường kiểm tra giám sát quá trình duy tu bảo dưỡng sửa
chữa thường xuyên đảm bảo quản lý khai thác bền vững, có hiệu quả và bảo vệ hành
lang giao thông nói chung và GTNT nói riêng, giữ gìn môi trường sinh thái xung quanh
các con đường giao thông của huyện và của các xã.
thiết nhằm tạo tiền đề phát triển nền kinh tế xã hội cũng như phát triển các ngành
khác. Do vậy, lãnh đạo huyện cần quan tâm đến các vấn đề sau: Tranh thủ sự hỗ trợ
từ ngân sách Trung ương, thành phố; Huy động sự đóng góp của các cơ sở kinh tế
đóng trên địa bàn huyện; Huy động các nguồn vốn của các đơn vị thi công các tuyến
đường; Tạo điều kiện thuận lợi để tư nhân bỏ vốn đầu tư các công trình (áp dụng
hình thức BOT); Huy động dân trong huyện đóng góp bằng nhiều hình thức khác
nhau: tiền, ngày công, vật liệu …
Cơ cấu nguồn vốn dành cho hệ thống đường GTNT trong huyện, dự kiến:
- Vốn các chương trình dự án: 30%; Vốn ngân sách huyện, tỉnh: 40%; Vốn
dân đóng góp: 30%
Trong điều kiện đất nước ta nền kinh tế còn ở vị thế rất thấp. Nhân dân, nhất là
người nông dân còn nghèo, các sản phẩm họ làm ra còn ít lại rẻ. Các vấn đề sản
xuất để thoát nghèo cần rất nhiều đến sự hỗ trợ của các ngành kinh tế khác và của
nhà nước về cơ chế và chính sách. Nên việc huy động hàng chục tỷ đồng để phát
triển củng cố mạng lưới GTNT là cả một vấn đề cần phải tính toán và cân nhắc.
Song nếu không lấy giao thông là khâu đột phá thì khó, và thậm chí không tạo được
một nền sản xuất hàng hoá cho nông nghiệp - nông thôn. Nên các cấp đảng bộ và
chính quyền địa phương đã xác định là phải tranh thủ huy động vốn từ các nguồn
đầu tư cho các dự án theo chương trình mục tiêu quốc gia, dự án hỗ trợ của nước
ngoài, nguồn vốn huy động trong dân, nguồn vốn ngân hàng nông nghiệp, ngân
hàng phục vụ người nghèo để xây dựng cơ sở hạ tầng và mở rộng sản xuất hàng
hoá kinh doanh dịch vụ.
Vốn lại là một trong những yếu tố quan trọng đến quyết định mức đầu tư của
một công trình. Hiện nay nguồn vốn để đầu tư cho phát triển GTNT còn rất hạn
hẹp, do đó chính phủ và Bộ giao thông vận tải cùng với các cấp địa phương đã có
nhièu chính sách thu hút vốn cho GTNT. Do nguồn ngân sách của nhà nước và
của địa phương còn hạn hẹp vì vậy mà chính sách thu hút vốn đầu tư ở đây chủ yếu
thực hiện theo phương châm là “Nhà nước và nhân dan cùng làm”. Nhà nước hỗ trợ
vật tư, kỹ thuật, nhân dân đóng góp ngày công lao động. Hình thức đóng góp của
nhân dân có thể bằng công lao động quy định hàng năm hoặc tiền tuỳ từng vùng,