Tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho Giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn huyện Chi Lăng Tỉnh Lạng Sơn - Pdf 51

LỜI MỞ ĐẦU
Chi Ngân sách nhà nước là lĩnh vực vô cùng quan trọng, nó tác động
trực tiếp đến sự vận hành của nền kinh tế- xã hội. Chi đúng, chi đủ, chi kịp
thời là góp phần làm giầu kinh tế , ổn định đời sống chính trị xã hội .Cùng với
quá trình đổi mới những năm qua Nhà nước ta đã coi đầu tư cho Giáo dụcĐào tạo là đầu tư cho phát triển. Ngân sách Nhà nước chi cho sự nghiệp Giáo
dục- Đào tạo tăng lên hàng năm, năm sau cao hơn năm trước. Để đảm bảo chi
thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho Giáo dục- Đào tạo đem lại hiệu quả
như mong muốn cần phải có cơ chế quản lý thích hợp.

Qua quá trình học tập, nghiên cứu bản thân em đã lựa chọn và nghiên
cứu đề tài "Tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách
Nhà nước cho Giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn huyện Chi Lăng
Tỉnh Lạng Sơn"

Chuyên đề được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về tăng cường kiểm soát chi thường xuyên Ngân
sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục.
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà
nước cho giáo dục Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Chi Lăng
Tỉnh Lạng Sơn .
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên
Ngân sách Nhà nước cho giáo dục Trung học cơ sở trên địa bàn
huyện Chi Lăng - Tỉnh Lạng Sơn

Chương 1


Chuyên đề tốt nghiêp
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TĂNG CƯỜNG
KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC

xuyên nắm được tình hình thu - chi - tồn quỹ NSNN, do đó không chủ động được việc cấp
phát và thanh toán. Thường xuyên xảy ra tình trạng nhiều khoản chi cấp thiết có trong dự
toán NSNN mà lại phải đình hoãn. Việc cấp phát NSNN mang nặng tính bao cấp và bị
Ngân hàng chiếm dụng vốn với số lượng lớn.
Để phù hợp với tình hình và yêu cầu mới về quản lý tài chính nhà nước, ngày

Giáp thị Lan Anh – K36 ngân hàng Lạng Sơn

2


Chuyên đề tốt nghiêp
01/04/1990 Hội đồng Bộ Trưởng đã ra quyết định số 07/HĐBT chuyển giao công tác quản
lý NSNN từ Ngân hàng nhà nước sang Bộ Tài chính và thành lập cơ quan KBNN trực
thuộc Bộ Tài Chính và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 4 năm 1990 ;
1.1.2- Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Kho bạc nhà nước
Ngày 13/11/2003, Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành quyết định số :
235/2003/QĐ-TTG quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
KBNN trực thuộc Bộ Tài Chính. Trải qua 17 năm hoạt dộng, hệ thống Kho bạc nhà nước
đã ngày càng ổn định và phát triển về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất
đóng góp quan trọng vào sự phát triển của ngành tài chính nói riêng và sự nghiệp phát triển
kinh tế- xã hội nói chung .
* Chức năng của Kho bạc nhà nước :
Kho bạc nhà nước là tổ chức thuộc Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về quỹ NSNN, quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của nhà nước được giao theo
quy định của pháp luật, thực hiện việc huy động vốn cho NSNN, cho đầu tư phát triển qua
hình thức phát hành công trái, trái phiếu theo quy định của pháp luật.
* Nhiệm vụ và quyền hạn của KBNN :
1- Trình Bộ trưởng Bộ Tài Chính chiến lược phát triển , quy hoạch, kế hoạch dài
hạn, hàng năm của KBNN.

các đơn vị cá nhân gửi tại Kho bạc nhà nước .
6- Kho bạc nhà nước có quyền trích từ tài khoản tiền gửi của các tổ chức, cá nhân
để nộp NSNN hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho NSNN theo quy
định của pháp luật, có quyền từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng, không
đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về quyết định của
mình .
7- Tổ chức hạch toán kế toán NSNN, hạch toán các quỹ và tài sản của Nhà nước
giao cho Kho bạc nhà nước quản lý; Định kỳ báo cáo việc thực hiện dư toán thu - chi
NSNN cho cơ quan tài chính cung cấp và các cơ quan Nhà nước có liên quan theo quy
định của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính .
8- Tổ chức thực hiện công tác thống kê Kho bạc nhà nước và chế độ báo cáo tài
chính theo quy định của pháp luật .
9- Thực hiện nghiệp vụ thanh toán và điều hành tồn ngân Kho bạc nhà nước. Bao
gồm :
a- Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiện thanh toán bằng tiền mặt,
bằng chuyển khoản đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân có quan hệ giao dịch với Kho bạc
nhà nước .
b- Mở tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn tại Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam và các Ngân hàng thương mại nhà nước để thực hiện các nghiệp vụ của Kho bạc nhà
nước .
c- Tổ chức quản lý điều hành tồn ngân Kho bạc nhà nước, tập trung thống nhất
trong toàn hệ thống đảm bảo nhu cầu thanh toán chi trả của ngân sách nhà nước đối với các
đối tượng giao dịch khác .
d- Được sử dụng tồn ngân Kho bạc nhà nước để tạm ứng cho ngân sách nhà nước
theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính .
10- Tổ chức huy động vốn trong nước và nước ngoài cho Ngân sách nhà nước và
cho đầu tư phát triển thông qua phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật.
11- Thực hiện một số dịch vụ tín dụng nhà nước theo quy định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền hoặc ủy thác của đơn vị.
12- Tổ chức kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị

Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo
quốc phòng, an ninh, đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước;
chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật .Trong đó có chi thường
xuyên về hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, văn học
nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sưh nghiệp xã hội khác ( Trích
Luật Ngân sách nhà nước)
Chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Giáo dục là việc phân phối
và sử dụng quỹ Ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước trong lĩnh vực Giáo dục theo những nguyên tắc nhất định. Đây là khoản chi
nhằm đảm bảo cho hoạt động bình thường của các cơ sở giáo dục thuộc đối tượng được
Nhà nước cấp kinh phí hoạt động.
Chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Giáo dục có đầy đủ các đặc
điểm chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước và được biểu hiện:
Thứ nhất: chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho Giáo dục là một khoản chi
mang tính ổn định, cho dù nền kinh tế đang trong thời kỳ hưng thịnh hay suy thoái thì mọi
hoạt động dạy và học của ngành giáo dục vẫn duy trì đều đặn và đầy đủ.
Thứ hai: chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho Giáo dục không tạo ra của cải
vật chất cũng không gắn trực tiếp với việc tạo ra của cải vật chất, . Nhưng ngày nay người
ta cho rằng khoản chi cho Giáo dục Đào tạo là khoản chi tích luỹ đặc biệt. Bởi vì sản phẩm
của Giáo dục đào tạo là con người .
Thứ ba: phạm vi, mức độ chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho Giáo dục gắn
chặt với sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng hàng hoá công cộng. Trong cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước thì hoạt động Giáo dục có sự chăm lo, quan tâm của cả
Nhà nước và nhân dân. Nhờ đó mà Nhà nước có thể thu hẹp phạm vi chi cho lĩnh vực này.
Còn như trong thời kỳ bao cấp, Nhà nước quyết định cung cấp hàng hoá này miễn phí thì
phạm vi và mức chi Ngân sách Nhà nước cho Giáo dục phải rộng và lớn.
Xét theo nội dung kinh tế chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp
Giáo dục bao gồm 4 nhóm chi chủ yếu sau:
Nhóm 1: Chi thanh toán cá nhân


chi thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, thông tin liên lạc, báo
chí, hội nghị, công tác phí, chi phí thuê mướn và các khoản chi khác.
Tổng hợp 4 nhóm mục chi trên chính là tổng số chi thường xuyên Ngân sách Nhà
nước cho sự nghiệp Giáo dục. Cách xác định từng nhóm mục chi như trên sẽ thấy được cơ
cấu thực chất của các khoản chi do đó dễ dàng phát hiện ra những chỗ chưa hợp lý cần
điều chỉnh.

1.2.2. Nội dung Kiểm soát chi thường xuyên của Ngân sách Nhà
nước cho sự nghiệp Giáo dục
* Điều kiện chi trả, thanh toán:
Theo thông tư 79/2003/TT-BTC ngày13/08/2003 của Bộ tài chính, Kho bạc nhà
nước chỉ thực hiện chi trả, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước cho các đơn vị sử
dung ngân sách nhà nước khi có đầy đủ các điều kiện sau :
- Đã có trong dự toán chi ngân sách nhà nước được giao, trừ các trường hợp sau:
Dự toán và phương án phân bổ dự toán ngân sách nhà nước chưa được cơ quàn nhà

Giáp thị Lan Anh – K36 ngân hàng Lạng Sơn

6


Chuyên đề tốt nghiêp
nước có thẩm quyền quyết định hoặc phải điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước theo quy
định.
Chi từ nguồn tăng thu so với dự toán ngân sách nhà nước được giao và nguồn thu
dự phòng ngân sách nhà nước theo quy định của cấp có thẩm quyền để khắc phục hậu quả
thiên tai, hoả hoạn...; các khoản chi đột xuất ngoài dự toán được duyệt nhưng không thể trì
hoãn được.
Chi ứng trước dự toán ngân sách nhà nước năm sau .
- Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước do cơ quan nhà nước


Giáp thị Lan Anh – K36 ngân hàng Lạng Sơn

7


Chuyên đề tốt nghiêp
Các khoản chi khác :
Bảng kê thanh toán có chữ ký của thủ trưởng, kế toán trưởng đơn vị sử dụng ngân
sách nhà nước hoặc người được uỷ quyền .
Các hồ sơ, chứng từ khác có kiên quan .

1.2.3. Nhân tố ảnh hưởng tới kiểm soát chi thường xuyên Ngân
sách Nhà nước cho Giáo dục Trung học cơ sở
1.2.3.1- Nhân tố chủ quan
Về nguồn nhân lực : hiện tại do biên chế đơn vị có hạn nên KBNN Chi lăng chỉ
được bố trí cán bộ làm công tác kiểm soát chi kiêm nhiệm .Do trình độ cán bộ chuyên
môn còn thấp nên còn có nhiều hạn chế trong công tác kiểm soát thanh toán và trong một
thời gian nhất định phải luân chuyển cán bộ trong các bộ phận để tránh các hiện tượng tiêu
cực xảy ra nên việc duyệt , kiểm tra kiểm soát hồ sơ, chứng từ gặp không ít khó khăn
Về công tác tin học áp dụng cho phần mềm kế toán NSNN nhưng trình độ cán bộ
về sử dụng tin học còn hạn chế, nhiều người chung 1 máy vi tính nên xử lý công việc còn
chậm. Chất lượng công nghệ còn bị lỗi phần mềm nên đôi khi ảnh hưởng tới tiến độ công
việc .
Về vấn đề nghiệp vụ, bên cạnh đó còn khá nhiều nghiệp vụ và phát sinh vướng mắc
chưa được phản ánh lên cấp trên để có nghiên cứu và giải pháp xử lý khoa học, thống nhất
đồng bộ trong toàn ngành.
Về công tác thống kê báo cáo các cấp ngân sách đôi khi không theo các biểu mẫu
quy định trong các báo cáo nghiệp vụ làm ảnh hưởng đến công tác lập báo cáo làm cho
luôn ở thế bị động do đó đôi khi việc cung cấp số liệu cho cấp trên và các cơ quan liên

Về công tác thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về
"chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu". Ngày 21/3/2002 Bộ Tài Chính
đã ban hành thông tư số 25/2002/TT-BTC "hướng dẫn thực hiện Nghị định số
10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn
vị sự nghiệp có thu". Với cơ chế tự chủ tài chính cho phép các cơ sở giáo dục nâng cao
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Tuy nhiên các cơ sở giáo dục chưa phát huy triệt để
quyền tự chủ vì thực tế Ngân sách Nhà nước vẫn chiếm vai trò chủ đạo trong tỷ trọng
nguồn tài chính của các cơ sở giáo dục. Nguồn thu sự nghiệp của các trường chủ yếu là thu
từ học phí của học sinh các xã, thị trấn thuộc khu vực 1 và khu vực 2 (khu vực 3 không
phải nộp học phí). Số thu hàng năm rất nhỏ khoảng 300 triệu đồng chiếm hơn 1% so với
tổng chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục (chiếm hơn 3% so với tổng chi thường
xuyên cho giáo dục trung học cơ sở). Số thu từ học phí theo quy định phải nộp 10% cho
cấp trên, 40% để cải cách tiền lương, số còn lại để sửa chữa mua sắm trang thiết bị và hỗ
trợ đời sống. Do số thu sự nghiệp chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể như vậy nên không
cải thiện được nhu cầu chi của ngành. Từ khi thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày
16/01/2002 của Chính phủ cho đến nay thu nhập của người lao động không có gì thay đổi.
Việc xây dựng được quy chế chi tiêu nội bộ: do số thu sự nghiệp ít nhưng vẫn phải dành
40% để cải cách tiền lương, nộp 10% cho cấp trên còn lại 50% để sửa chữa mua sắm trang
thiết bị và hỗ trợ đời sống cho người lao động. Như vậy rất khó để xây dựng quy chế chi
tiêu nội bộ do đó các đơn vị được công nhận là đơn vị sự nghiệp có thu giai đoạn 20022004 chưa có quy chế chi tiêu nội bộ.
Xuất phát từ những hạn chế, vướng mắc khi thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày
16/01/2002 của Chính phủ và những yêu cầu mới phát sinh Chính phủ đã ban hành nghị
định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực
hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
Xét về phạm vi và đối tượng thực hiện: phạm vi rộng hơn, đối tượng thực hiện bao gồm
các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị- xã hội. Nghị định 43/2006/NĐ- CP chỉ quy định đơn vị sự nghiệp công lập còn
Nghị định 10/2002/NĐ- CP quy định đơn vị sự nghiệp công lập có thu.
Xét về cách phân loại đơn vị sự nghiệp: theo Nghị định 10/2002/NĐ- CP thì đơn vị có mức
kinh phí tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên nhỏ hơn 100% được xếp vào đơn vị

Lạng sơn hơn 36Km với diện tích tự nhiên 70.310 ha và tổng dân số là 78.065
người (số liệu điều tra năm 2004 của huyện Chi lăng ) . Mật độ dân số trung
bình 111 người/ Km2.
Chi lăng có trục đường quốc lộ 1A và đường sắt đi qua và cũng là hệ
thống giao thông liên vận quốc tế rất thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa
thương mại, dịch vụ, văn hoá và vận chuyển cả về đường bộ và đường sắt.
Ngoài ra Chi lăng còn là vị trí rất quan trọng đối với an ninh quốc phòng của
tỉnh.
Chi lăng là huyện vùng cao miền núi một bên là dãy núi đá vôi thuộc
dãy Kai Kinh và một bên là dẫy núi đất. Chạy dọc ở giữa là những cánh đồng
tương đối bằng phẳng rất thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp và cây ăn

Giáp thị Lan Anh – K36 ngân hàng Lạng Sơn

10


Chuyên đề tốt nghiêp
quả và cây công nghiệp .
+ Khí hậu : Chi lăng nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa vùng khí hậu ấm,
mưa nhiều. Mùa hè mưa nhiều, mùa đông lạnh, khô và ít mưa nhiệt độ trung
bình 22,7oc .
+ Đất nông nghiệp : Với diện tích 7.207,87 Ha chiếm tới 10,25 % diện
tích đất tự nhiên, trong đó đất trồng cây hàng năm : 5.160,8 Ha chiếm 7,34%
diện tích đất tự nhiên và 71,56 % diện tích đất nông nghiệp ; Đất trồng cây lâu
năm 813,7 ha chiếm 1,165 % diện tích đất tự nhiên và 11,29 % diện tích đất
nông nghiệp còn lại là đất nông nghiệp khác.
+ Về tài nguyên rừng : Chi lăng có rất nhiều loại thực vật rừng với
diện tích tự nhiên 15.833 ha .
+ Diện tích đất trồng rừng có 5.133,04 ha chủ yếu là rừng non .

nghiệp dài ngày chiếm 1,09%.
Diện tích cây công nghiệp hằng năm từ 9.696-10.000 ha, trong đó diện
tích đất trồng lúa 4.813 ha, diện tích còn lại trồng các loại cây khác như:
khoai, sắn … ( Số liệu thống kê năm 2006 của Phòng Thống kê- kế hoạch
huyện Chi lăng ).
Về cơ cấu nông nghiệp huyện đang giảm dần , tăng dần các ngành
thương mại dịch vụ và chăn nuôi . (Trích dự thảo quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội huyện Chi lăng tỉnh Lạng sơn ).
* Tình hình phát triển công nghiệp :
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện Chi lăng nhìn chung kém phát
triển, mặc dù trong những năm qua tốc độ phát triển khá cao song chiếm tỷ
trọng rất nhỏ trong tổng sản phẩm quốc nội của huyện ( 8,93% GDP năm
2006 ). Các cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn
huyện Chi lăng có quy mô nhỏ, sản phẩm chủ yếu phục vụ tiêu dùng trên địa
bàn : chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác đá, chế biến lương thực,
sản xuất đồ mộc …
Hiện nay trên địa bàn huyện có một Công ty cổ phần là xí nghiệp quốc
doanh Trung ương, ba công ty Trách nhiệm hữu hạn và một hợp tác xã khai
thác và kinh doanh đá phục vụ nhu cầu xây dựng trên địa bàn . Trong 5 năm
qua do nhu cầu đá của khách hàng không nhiều, mặt khác Công ty cổ phần đá
mới được thành lập nên được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định
của pháp luật . Nhưng doanh thu của đơn vị vẫn đạt thấp, không đạt chỉ tiêu
kế hoạch giao dẫn đến không hoàn thành nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà
nước (Trích dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Chi
lăng tỉnh Lạng sơn ).
* Hoạt động thương mại - du lịch và dịch vụ :
Các dịch vụ thương mại ngày càng phát triển và nâng cao chất lượng
phục vụ, bình quân hàng năm tăng 13,3% trong đó dịch vụ sửa chữa tăng
16,7%; kinh doanh khách sạn- nhà hàng tăng 11,88 %; dịch vụ vận tải kho bãi
tăng 11%, bưu điện tăng 35,7% …

cấp và bổ sung mới, toàn huyện có 15 phòng khám đa khoa khu vực và 37 bác
sỹ .
* Sự nghiệp văn hòa xã hội :
Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa làng bản, khối phố và các hoạt
động văn hóa thông tin, thể dục thể thao được duy trì phát triển. Các chính
sách pháp luật của Đảng, Nhà nước được tuyên truyền phổ biến đến hầu hết
các cơ sở bằng nhiều hình thức khác nhau . Việc giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc được chú ý quan tâm và tạo điều kiện phát tri ển. Đến nay
toàn huyện có 80 khu dân cư tiên tiến làng bản văn hóa, 64 cơ quan có nếp
sống văn hóa,82.000 hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa .
- Thực hiện chính sách người có công : Làm tốt công tác vận dộng xây
dựng quỹ Đền ơn đáp nghĩa với số tiền quyên góp của cán bộ, nhân dân trong

Giáp thị Lan Anh – K36 ngân hàng Lạng Sơn

13


Chuyên đề tốt nghiêp
huyện, tiền hỗ trợ của nhà nước và tiền quyên góp của các nhà hảo tấm đã xây
dựng được 18 nhà bia ghi tên liệt sĩ cho 18 xã (Số thống kê năm 2006 của
huyện Chi lăng ) và xây hỗ trợ được 22 nhà tình nghĩa .
- Công tác xóa đói giảm nghèo : chương trình mục tiêu xóa đói giảm
nghèo năm năm qua số hộ nghèo đã được vay vốn từ Ngân hàng nông nghiệp
và Ngân hàng chính sách, Quỹ hỗ trợ quốc gia giải quyết việc làm để hỗ trợ
sản xuất,cùng với sự đầu tư lồng ghép các dự án, chương trình mục tiêu chính
sách hỗ trợ lãi suất tiền vay, chương trình 134 CP đã góp phần xóa đói giảm
nghèo giảm từ 9,27% năm 2000 so với năm 2005 là 2,42% và không còn hộ
đói .
* Sự nghiệp giáo dục :


Chuyên đề tốt nghiêp
Chi Lăng là huyện miền núi nên Giáo dục cũng có những đặc thù riêng.
Huyện có 15 trường Trung học cơ sở (từ lớp 6 đến hết lớp 9); 6 trường phổ
thông cơ sở (gồm cả Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở); 1 trường phổ
thông Dân tộc nội trú chuyên đào tạo học sinh người dân tộc thiểu số, những
học sinh học ở trường được Nhà nước bao cấp toàn bộ. Năm học 2004-2006
huyện có 216 lớp Trung học cơ sở với 7.747 học sinh, năm học 2005-2006 số
lớp giảm 6 lớp còn 210 lớp, số học sinh giảm 146 em. Số học sinh giảm là do
chuyển một số học sinh lớn tuổi sang học các lớp bổ túc Trung học cơ sở để
thực hiện mục tiêu phổ cập Giáo dục Trung học cơ sở, thứ hai là một số em do
hoàn cảnh gia đình quá khó khăn đã không theo học được và một nguyên
nhân nữa là do thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hóa gia đình.
Về xây dựng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở, Cán bộ quản lý.
Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý có phẩm chất chính trị và đạo đức, đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hóa về trình độ đào tạo là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của ngành Giáo dục.
- Đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở: năm học 2004- 2006 huyện có 418 giáo viên. Năm
học 2005- 2006 tuyển mới 40 giáo viên, tiếp nhận chuyển đến 08 giáo viên, giải quyết nghỉ
hưu 10, chuyển đi 10 như vậy đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở năm học 2005-2006 tăng
28 người đưa tổng số giáo viên Trung học cơ sở lên 446 người. Trình độ đào tạo của giáo
viên ngày càng được nâng cao. Năm học 2004-2005 tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn
(giáo viên Trung học cơ sở có trình độ cao đẳng sư phạm hiện nay là đạt chuẩn) chiếm
76,8%; năm học 2005-2006 tỷ lệ này tăng lên 80,1%.
- Đội ngũ Cán bộ quản lý : năm học 2004-2005 huyện có 39 Cán bộ quản lý trình độ đào
tạo đạt chuẩn và trên chuẩn là 34 người chiếm 87,2%. Bước sang năm học 2005-2006 là
43 người trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn là 42 người chiếm 97,7% điều đó chứng
tỏ công tác cán bộ rất được quan tâm, chú ý.
Về cơ bản giáo viên, cán bộ quản lý đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện
nay. Hàng năm ngành cũng tạo điều kiện cho Giáo viên và Cán bộ quản lý đi đào tạo bồi

Khó khăn nữa là số lượng cán bộ chuyên trách về thư viện và đồ dùng dạy học ít chủ yếu
là hợp đồng theo năm học hoặc giáo viên kiêm nhiệm chưa qua đào tạo cơ bản chỉ được
bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn. Do đó mà đồ dùng dạy học, thiết bị chưa phát huy được
hiệu quả như mong muốn. Hàng năm Phòng Giáo dục sử dụng kinh phí chi thường xuyên
để mua sách giáo khoa, tài liệu phục vụ giảng dạy cấp phát cho nhà trường. Về cơ bản cấp
đủ sách giáo khoa cho giáo viên nhưng sách tham khảo, nâng cao vẫn còn rất ít chủ yếu
giáo viên tự mua.
2.1.2. Giới thiệu về Kho bạc nhà nước Chi Lăng - tỉnh Lạng sơn
Kho bạc nhà nước Chi Lăng ra đời và đi vào hoạt động từ 01/04/1990 cùng với hệ thống
Kho bạc nhà nước trong cả nước. Những ngày đầu thành lập điều kiện làm việc và trang
thiết bị gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Tuy nhiên trong điều kiện khó khăn như vậy nhưng
với tinh thần trách nhiệm cao quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được giao đơn vị đã triển
khai thực hiện toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Đặc biệt là đội ngũ cán bộ không ngừng
nghiên cứu học tập kiến thức để hoàn thiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ . Chính điều đó
đem lại kết quả khả quan . Năm 1998 được Chủ tịch Nước tặng thưởng Huân Chương lao
động hạng 3 và nhiều giấy khen, bằng khen của Bộ Tài Chính, Tổng giám đốc KBNN,
UBND tỉnh Lạng Sơn, Giám đốc KBNN tỉnh Lạng sơn …
Kho bạc nhà nước Chi Lăng hiện có 12 cán bộ nhân viên . Trong đó :
Ban giám đốc : 2 đồng chí .
Bộ phận kế toán : 4 đồng chí .
Bộ phận Kế hoạch - thanh toán Vốn đầu tư : 2 đồng chí .
Bộ phận Kho quỹ- bảo vệ : 4 đồng chí .

Giáp thị Lan Anh – K36 ngân hàng Lạng Sơn

16


Chuyên đề tốt nghiêp
Các bộ phận đều chịu sự phân công giám sát, quản lý của Ban Giám đốc Kho bạc nhà nước


17


Chuyên đề tốt nghiêp
các hoạt động lẫn nhau để đảm bảo công việc thông suốt, minh bạch, rõ ràng, thực hiện tốt
nhiệm vụ chung của đơn vị.
(+) Bộ phận kế hoạch – thanh toán vốn đầu tư XDCB:
- Xây dựng kế hoạch vốn, tham mưu giúp thủ trưởng Kho bạc nhà nước duyệt các lệnh
chuyển vốn, theo dõi quản lý sự biến động của các nguồn vốn.
- Quản lý quỹ tiền lương của các đơn vị hàng chính sự nghiệp từ ngân sách trung ương đến
địa phương.
- Phối hợp với bộ phận kế toán trong việc tổng hợp, thống kê báo cáo và quyết toán chi của
các đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước, báo cáo tổng kết nghiệp vụ kho bạc.
- Trực tiếp quản lý và kiểm tra, kiểm soát các hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ,
công trái xây dựng tổ quốc.
- Thực hiện thanh toán và cấp phát các chương trình mục tiêu ( vốn đầu tư xây dựng cơ bản
).
( + ) Bộ phận kế toán:
- Tổ chức hướng dẫn, triển khai thực hiện kiểm tra, kiểm soát thu- chi Ngân sách Nhà
nước.
- Trực tiếp quản lý, kiểm tra, kiểm soát hồ sơ cấp phát thanh toán các khoản chi Ngân sách
Nhà nước trình thủ trưởng Kho bạc nhà nước quyết định việc cấp phát tạm ứng hay thanh
toán theo chế độ quy định.
- Kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ kế toán.
- Tổ chức hạch toán kế toán các khoản thu chi ngân sách Nhà nước theo chế độ quy định.
- Kiểm tra báo cáo quyết toán của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, trình thủ trưởng
KBNN xác nhận số thực chi qua Kho bạc nhà nước.
- Thống kê báo cáo thu chi ngân sách nhà nước theo chế độ quy định.
(+) Bộ phận kho quỹ – bảo vệ :


Giáp thị Lan Anh – K36 ngân hàng Lạng Sơn

19


Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 2.1 – Tình hình chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

huyện Chi lăng tỉnh Lạng sơn
Đơn vị tính : Triệu đồng

Chỉ tiêu

Năm 2004
Năm 2005
Năm 2006
Dự toán thực TH/DT Dự toán thực TH/DT Dự toán thực TH/DT
hiện

%

hiện

%

hiện

%



36,73

Giáp thị Lan Anh- K 36 Ngân hàng Lạng Sơn


Chuyên đề tốt nghiệp
(Nguồn số liệu : Kho bạc nhà nước Chi lăng )Qua bảng số liệu ta thấy: Tổng chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự
nghiệp Giáo dục năm sau luôn cao hơn năm trước. Năm 2006 tăng 3.383 triệu đồng so với năm 2005 và tăng 4.499 triệu đồng so với
năm 2004. Tỷ trọng chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho Giáo dục trung học cơ sở so với tổng chi thường xuyên Ngân sách Nhà
nước cho sự nghiệp Giáo dục luôn là một con số rất lớn (gần 40%). Trong điều kiện Ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp nhưng nhu cầu
chi ngày càng tăng do đó phải thực hiện đầu tư theo thứ tự ưu tiên một cách hợp lý, tiết kiệm đạt hiệu quả cao nhằm đảm bảo thực hiện
tốt các yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

2.2.2. Tình hình kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho Giáo dục Trung học cơ sở
Xét theo nội dung chi, chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho Giáo dục trung học cơ sở được chia làm 4 nhóm:
- Chi cho con người.
- Chi nghiệp vụ chuyên môn.
- Chi mua sắm, sửa chữa.
- Các mục chi khác.

Sự biến động của mỗi nhóm mục do nguyên nhân khách quan hay chủ quan đều ảnh hưởng đến tổng số chi
thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho Giáo dục trung học cơ sở. Do đó để đánh giá được công tác quản lý, sử dụng
kinh phí Giáo dục trung học cơ sở ở huyện Chi Lăng ta cần phải xem xét, đánh giá từng nhóm chi cụ thể.
2.2.2.1. Chi cho con người
Đây là khoản chi lớn nhất trong cơ cấu chi thường xuyên cho giáo dục Trung học cơ sở. Nhóm chi này nhằm đảm bảo hoạt động
cho bộ máy các trường Trung học cơ sở mà cụ thể là đáp ứng trực tiếp nhu cầu vật chất, phục vụ đời sống sinh hoạt của cán bộ, giáo
viên, nhân viên. Muốn nâng cao chất lượng Giáo dục thì trước hết phải nâng cao đời sống vật chất cho cán bộ, giáo viên. Do đó nhóm
chi này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho Giáo dục Trung học cơ sở (trên 91%).


Phúc Lợi tập thể - Mục 105
Các khoản đoáng góp - Mục 106
Thanh toán các nhân - Mục 108

Năm 2004
Dự toán Thực hiện

Năm 2005
Dự toán Thực hiện

Năm 2006
Dự toán Thực hiện

6.180

8.270

7.760

8.028

7.840

9.216

2.919
150
1.750
390
90


3.310
80
2.900
390
90
20
1.000
50

4.573
81
2.927
386
90
60
1.052
47

Giáp thị Lan Anh- K 36 Ngân hàng Lạng Sơn


Chuyên đề tốt nghiệp
(Nguồn số liệu : Kho bạc nhà nước Chi Lăng)Năm 2004 chi cho con người chiếm 92,07% với số tiền là 8.270 triệu đồng; năm
2005 chiếm 92,33% với số tiền là 8.028 triệu đồng và năm 2006 chiếm 91,53% tổng chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho Giáo
dục trung học cơ sở với số tiền là 9.216 triệu đồng.
Số tiền chi cho con người năm 2005 so với năm 2004 giảm 242 triệu đồng trong đó tiền lương giảm 254 triệu đồng thứ nhất là do
số giáo viên nghỉ chế độ Bảo hiểm xã hội nhiều (nghỉ ốm, thai sản, hưu trí) thứ hai là số giáo viên chuyển đến có hệ số lương cơ bản
thấp hơn số giáo viên chuyển đi.
Tiền công giảm 80 triệu đồng là do cắt giảm hợp đồng lao động. Học bổng giảm 3 triệu đồng.

sơ chứng từ có liên quan gửi đến Kho bạc nhà nước và thực hiện thanh toán hoặc tạm ứng cho đơn vị ( bảng 2.3)

Giáp thị Lan Anh- K 36 Ngân hàng Lạng Sơn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status