B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
TRN THI SN
NGHIÊN CứU ĐặC ĐIểM LÂM SàNG, CậN LÂM SàNG
Và ĐáNH GIá HIệU QUả ĐIềU TRị MIễN DịCH ĐặC
HIệU
ở TRẻ 6 -14 TUổI MắC BệNH VIÊM MũI Dị ứNG DO Dị
NGUYÊN DERMATOPHAGOIDES PTERONYSSINUS
Chuyờn ngnh
: Tai Mi Hng
Mó s
: 62720155
TểM TT LUN N TIN S Y HC
H NI 2018
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TSKH. Vũ Thị Minh Thục
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BN
Antigen presenting cell
(Tế bào trình diện kháng nguyên)
Allergic Rhinitis and its Impact on
Asthma
(Hội nghị về viêm mũi dị ứng và tác
động đối với bệnh hen)
Bệnh nhân
DC
Dendritic cells (Tế bào tua)
DN
Dị nguyên
HPQ
Hen phế quản
APC
ARIA
IL
LPMD
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính cấp thiết của đề tài
Viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là một trong những bệnh rất thường gặp
của đường hô hấp và đang ngày một gia tăng cả ở các nước phát triển và
đang phát triển. Mặc dù VMDƯ không phải là bệnh lý gây nguy hiểm đến
tính mạng nhưng nó làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống.
Người bệnh thường xuyên bị mệt mỏi, đau đầu, mất tập trung, mất ngủ dẫn
đến giảm khả năng học tập và lao động. Nếu không điều trị, bệnh có thể
dẫn đến các biến chứng như hen phế quản, viêm xoang, polyp mũi, viêm
họng, viêm tai thanh dịch….Hiện nay chưa có nhiều tác giả thực hiện
nghiên cứu về tỷ lệ, đặc điểm lâm sàng VMDƯ cũng như hiệu quả điều trị
miễn dịch đặc hiệu bằng phương pháp SLIT ở trẻ em với các dị nguyên
khác nhau vì vậy đánh giá tỷ lệ mắc bệnh và hiệu quả điều trị VMDƯ bằng
phương pháp SLIT ở trẻ trong độ tuổi từ 6 - 14 tuổi là hết sức cần thiết do
đây là lứa tuổi có tỷ lệ mắc cao
2. Mục tiêu nghiên cứu
1. Điều tra tỷ lệ mắc bệnh VMDƯ ở trẻ 6-14 tuổi khám tại Bệnh viện
Nhi Trung ương, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương và Viện Y
học biển.
1.
2
2.
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh VMDƯ ở trẻ 6-14
tuổi.
3. Đánh giá hiệu quả điều trị miễn dịch đặc hiệu ở trẻ 6-14 tuổi mắc
bệnh VMDƯ do dị nguyên Dermatophagoides Pteronyssinus.
3
Nghiên cứu quốc tế về hen và các bệnh dị ứng ở trẻ em (ISAAC)
để tìm nguyên nhân dị ứng ở trẻ em trên các quần thể khác nhau chia
làm 3 giai đoạn (1992 -1996; 1998 - 2004; 2000 - 2003), đã chỉ ra rằng
VMDƯ hay gặp ở độ tuổi 13-14 tuổi chiếm 39,7%. Các quốc gia có tỷ
lệ trẻ mắc VMDƯ thấp là: Indonexia, Anbani, Romani, Georgia và Hy
Lạp. Trong khi đó các nước có tỷ lệ rất cao là Australia, New Zealan và
Vương quốc Anh. Cùng trong giai đoạn này, theo điều tra quốc gia cho
thấy VMDƯ mãn tính ở người lớn phổ biến hơn ở trẻ em. Chương trình
nghiên cứu dịch tễ VMDƯ trên trẻ em trong độ tuổi đến trường giai
đoạn 2002 - 2003 của ISAAC, tại Anh cho thấy tỷ lệ VMDƯ ở trẻ 13 14 tuổi chiếm 15,3%; tỷ lệ này ở trẻ 6-7 tuổi chiếm 10,1%, tăng so với
giai đoạn 1992 – 1996.
1.3.Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Các triệu chứng cơ năng: Triệu chứng điển hình của VMDƯ quanh
năm là tắc ngạt mũi, các triệu chứng hắt hơi thành tràng, chảy mũi và
ngứa mũi đi kèm theo nhưng không nổi trội như trong VMDƯ theo mùa
(do phấn hoa). VMDƯ quanh năm nhất thiết phải có từ hai triệu chứng
trở lên (trong số các triệu chứng hắt hơi, ngứa mũi, chảy mũi, ngạt mũi),
biểu hiện hơn một giờ mỗi ngày ngoài đợt nhiễm vi rút, 100% số bệnh
nhân đều có tam chứng hắt hơi, chảy mũi, ngạt mũi.
Các triệu chứng thực thể: Tình trạng niêm mạc mũi: Niêm mạc mũi
nhợt nhạt, nhiều dịch xuất tiết nhầy trong. Nhiều nghiên cứu cho thấy
hầu hết các bệnh nhân đều có tình trạng niêm mạc phù nề ở các mức độ,
không có bệnh nhân nào có tình trạng niêm mạc mũi bình thường.
Đặc điểm cận lâm sàng.
Test lẩy da: Test lẩy da là xét nghiệm cơ bản và được thực hiện đầu tiên
để chẩn đoán dị ứng. Kết quả của test lẩy da là một căn cứ quan trọng
cho kế hoạch chẩn đoán và điều trị đặc hiệu bệnh dị ứng. Dị nguyên
được đưa qua da bằng một kim chích chuẩn (đầu nhọn của kim chỉ dài
trong bụi nhà của họ và có thể phản ứng với mạt bụi nhà, bào tử nấm,
phấn hoa và nước tiểu của mèo.
Thành phần của mạt bụi nhà gây ra dị ứng
Mạt bụi nhà là một loài mạt thuộc lớp hình nhện, kích thước rất
nhỏ khoảng 1/4 mm, mắt thường con người không thể nhìn thấy được,
mạt nhà là tác nhân gây ra phần lớn trường hợp bị dị ứng, đặc biệt là dị
ứng da như nổi mẫn đỏ, sưng tấy, ngứa ngáy..Người thường bị dị ứng
với hạt tròn phân mạt. Một con mạt sản ra một lượng phân khoảng 200
lần trọng lượng cơ thể nó, hạt tròn phân mạt chứa tiềm năng gây dị ứng
cao chỉ có trong thời gian ngắn ngủi của cuộc đời nó. Khi thải ra ngoài,
được không khí mang đi khi các vật dùng như thảm đệm, các đồ
đạc.v.v.. bị xáo lộn. Với kích thước siêu nhỏ (phải nhìn qua kính hiển vi
mới thấy) những tiểu thể trên rất dễ hít vào mũi và phổi, ở đó nó làm
khởi phát triệu chứng dị ứng, mật độ quần thể bọ sống trong nhà quyết
định mức độ vấn đề mà bạn phải đương đầu với những tiểu thể phân
chúng. Mặc dù xác những con bọ chết có thể được không khí mang đi,
nhưng chúng không góp gì đáng kể cho việc bị dị ứng với MBN.
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Tai
Mũi Họng Trung ương và Viện Y học.
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
- Giai đoạn 1: được thực hiện từ 01/2011 đến 12/2011 nhằm xác
định tỷ lệ, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm mũi dị ứng.
- Giai đoạn 2: được thực hiện từ 2012-2014 nhằm đánh giá hiệu
quả điều trị miễn dịch đặc hiệu ở trẻ em VMDƯ.
2.1.3. Đối tượng nghiên cứu
Chọn toàn bộ số liệu tại 03 bệnh viện Nhi Trung ương, bệnh viện
Tai Mũi Họng Trung ương, Viện Y học biển từ 01/01/2011 đến
31/12/2011.
* Cỡ mẫu nghiên cứu phục vụ mục tiêu 2.
n: là số bệnh nhân tối thiểu cần có.
Z1-α/2 = 1,96 (ứng với độ tin cậy 95%)
d = 0,04 (sai số tối thiểu cho phép)
DEF =2 Hiệu ứng thiết kế lấy bằng 2
P=0,2: là tỷ lệ mắc VMDƯ ước tính ở bệnh nhân tại cộng đồng qua
một số điều tra trước. Từ một số nghiên cứu trước ước tính là 20%.
Thay số chúng tôi được n=770 là cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên
cứu. Dự phòng bỏ cuộc khoảng 10%, chúng tôi cần thu thập 855 bệnh
nhi tại bệnh viện Nhi Trung ương.
* Cỡ mẫu cho mục tiêu 3
p1: tỷ lệ bệnh nhân VMDƯ do D.pte trước điều trị (qua test lảy da
dương tính với D.pte) =100%.
p2: tỷ lệ bệnh nhân VMDƯ do D.pte sau điều trị (test lảy da dương
tính với D.pte) = 80%. (Kỳ vọng sau 2 năm điều trị MDĐH giảm 20%).
p = (p1-p2)/2 = 0,1.
Chọn xác suất thống kê sai lầm loại 1, α = 0,05 (Z(1-α/2)=1,96);
Chọn lực mẫu (power)=0,9; với β=0,1.
n : số bệnh nhân VMDƯ do D.pte cần nghiên cứu can thiệp.
Thay số chúng tôi được n = 46 là số bệnh nhân tối thiểu cần can
thiệp. Dự phòng 10% các trường hợp bỏ cuộc, chúng tôi chọn 51 bệnh
nhân tiến hành can thiệp điều trị.
2.2.2.2. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Kết quả thu được: Mục tiêu 1 và 2 là 1.307 bệnh nhi tuổi từ 6-14
tuổi VMDƯ tại 03 bệnh viện: Bệnh viện Nhi Trung ương, bệnh viện Tai
Mũi Họng Trung ương, Viện Y học biển, sử dụng phương pháp nghiên
cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang. Đối tượng Nghiên cứu cho mục tiêu 3
là 51 trẻ VMDƯ do dị nguyên D. Pteronyssinus, sử dụng phương pháp
nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, tự đối chứng trước và sau can thiệp
1. Phân bố tỷ lệ viêm mũi dị ứng tại Ba bệnh viện nghiên cứu.
Tỷ lệ trẻ VMDƯ chung tại 03 bệnh viện là 23,01%, trong đó BV
8
Nhi Trung ương là 25,71%, BV Tai Mũi Họng Trung ương là 25,71%,
Viện Y học biển là 23,01%.Tần suất mắc bệnh cũng tăng dần theo độ
tuổi, cao nhất là 14 tuổi (26,17%) và thấp nhất là 6 tuổi (2,37%). Trẻ
nam mắc (70,08%) cao hơn trẻ nữ (29,92%). Tỷ lệ mắc khu vực sống
nông thôn và thành thị là tương đương nhau. Bệnh hay gặp ở mùa hạ
(30,47%) và ít gặp ở mùa đông (19,45%).
3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG BỆNH VMDƯ
Từ 1.107 bệnh nhân mắc VMDƯ được khám và chẩn đoán bệnh tại
bệnh viện Nhi Trung ương chúng tôi lựa chọn ra 855 bệnh nhân phù
hợp với tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân.
3.2.1. Các triệu chứng lâm sàng bệnh viêm mũi dị ứng.
Bảng 3.1: Các triệu chứng cơ năng của bệnh viêm mũi dị ứng
Mức độ
Nặng
Trung bình
Nhẹ
VMDƯ
n
%
%
n
%
Mức độ
Nặng
301
35,2
268
31,35
Trung bình
497
58,13
522
61,05
Không
57
6,67
65
7,60
Tổng
855
100
855
100
Nhận xét: Dấu hiệu thực thể biểu hiện rõ nhất là hình ảnh niêm
mạc mũi và cuốn dưới quá phát. Bệnh nhân có biểu hiện niêm mạc mũi
9
nhợt nhạt, phù nề chiếm 93,37% trong đó mức độ nặng chiếm 35,2%,
100
222
100
Nhận xét:Kết quả bảng 3.9 cho thấy 74,27% số bệnh nhân VMDƯ
có dương tính với D.pteronyssinus, trong đó nhóm VMDƯ dai dẳng
chiếm 76,15%, nhóm gián đoạn 68,92%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với (p
N = 222
Prick test
n
%
n
%
Dương tính ≥ 3
p < 0,001
250
39,49
41
18,47
dị nguyên
OR=2,88
(1,98-4,19)
Dương tính < 3
383
60,51 181 81,53
dị nguyên
Tổng
633
100
222
100
Nhận xét: Kết quả bảng 3.16 cho thấy tỷ lệ dương tính trên 3 loại
dị nguyên trở lên (34,04%) ở nhóm bệnh nhân VMDƯ dai dẳng cao gấp
2,88 lần so với nhóm bệnh nhân VMDƯ dán đoạn (18,47%), sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p
366,56
min
Max
p
165,78 990,65
3.2.4.Đặc điểm các bệnh dị ứng kèm theo ở trẻ VMDƯ.
Trẻ có mắc các bệnh dị ứng kèm theo như hen phế quản, eczema,
dị ứng thức ăn dị ứng thuốc có nguy cơ viêm mũi dị ứng từ 20 đến trên
50%. Trẻ có người nhà bị viêm mũi dị ứng nguy cơ trẻ mắc viêm mũi dị
ứng dai dẳng 68,72%; gián đoạn 38,29%. Trẻ có phơi nhiễm với lông
chó, lông mèo, khói thuốc lá, thuốc lào có nguy cơ VMDƯ dai dẳng và
dán đoạn > 20%.
3.3. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ MIỄN DỊCH ĐẶC HIỆU
ĐƯỜNG DƯỚI LƯỠI.
3.3.1. Các dấu hiệu cơ năng bệnh viêm mũi dị ứng sau
điều trị can thiệp.
Bảng 3.8: Triệu chứng ngứa mũi tại thời điểm trước và sau điều trị
Trước điều trị
Sau điều trị
Triệu chứng
p
N =51
N = 51
ngứa mũi
n
%
n
%
Nặng
12
23,53
0
0
P(1,2)
Bảng 3.9: Dấu hiệu hắt hơi tại thời điểm trước và sau điều trị
Trước điều trị
Sau điều trị
N =51
N = 51
Triệu chứng hắt hơi
p
n
%
n
%
Nặng
11
21,57
0
0
Trung bình
24
47,06
7
13,73 P(1,2)
0
0
Trung bình
22
43,14
6
11,76 P(1,2)
26
50,98
1
Không
7
13,73
23
45,10
Tổng
51
100
51
100
(Ghi chú: nhóm 1 các bệnh nhân còn biểu hiện ngạt mũi ở các mức độ
nặng, trung bình và nhẹ; nhóm 2 các bệnh nhân hết triệu trứng ngạt mũi)
Nhận xét: Trên 80% bệnh nhân trước điều trị có triệu chứng ngạt
mũi nặng sau điều trị trên 95% bệnh nhân hết hoặc còn ngạt mũi ở mức
độ nhẹ và không còn bệnh nhân nào biểu hiện triệu chứng ngạt mũi ở
mức độ nặng.
3.3.2. Các dấu hiệu thực thể bệnh viêm mũi dị ứng
sau điều trị can thiệp.
Bảng 3.12: Mức độ thay đổi của niêm mạc mũi.
Mức độ
n
%
Kém
3
5,88
Khá
37
cuốn dưới hầu hết là ở mức độ tốt và khá với 80,39%, trong đó mức độ
khá 72,55%, tốt chiếm 7,84%.
Bảng 3.14: Hiệu quả lâm sàng sau điều trị miễn dịch đặc hiệu.
Thời điểm
Sau điều trị
N = 51
n
%
Mức độ
Trung bình
4
7,84
Khá
23
45,10
Tốt
24
47,06
Tổng
51
100
Nhận xét: Kết quả bảng 3.34 cho thấy có 92,16 % số bệnh nhân có
hiệu quả tốt và khá còn 7,84 % số bệnh nhân sau điều trị mức độ thay
đổi thấp, chủ yếu là dấu hiệu ngạt mũi liên tục và tình trạng cuốn dưới
không co hồi khi đặt thuốc co mạch.
3.3.3. Hiệu quả cận lâm sàng.
Bảng 3.15. Thay đổi nồng độ IgE toàn phần huyết thanh tại các thời
điểm điều trị.
(đơn vị tính UI/ml)
P1,4 = 0,01
Nhận xét: Sau 6 tháng điều trị sự thay đổi nồng độ IgE trong máu
không có ý nghĩa thống kê. Sau 12 và 24 tháng điều trị nồng độ IgE
toàn phần huyết thanh giảm rõ rệt với P< 0,05.
15
Bảng 3.16. Nồng độ IgG toàn phần huyết thanh trước và sau điều trị.
(đơn vị tính mg%)
Thời điểm
Thấp nhất Cao nhất
X
SD
p
Trước điều trị(1)
816,0
1259,0
993.71
110.24
Sau 6 tháng (2)
923,0
1573,0
1260.75 150.04 P1,2 < 0,001
Sau 12 tháng (3)
1053,0
1924,0
1527.67 198.22 P1,3 < 0,001
Sau điều trị (4)
1213,0
nam là 53,75%, nữ giới là 46,25%. Nghiên cứu tại Guangzhou, Trung
16
Quốc của tác giả Chun Wei Li và cộng sự cũng cho thấy tỷ lệ trẻ nam là
57% cao hơn trẻ nữ với 43%
Phân bố tỷ lệ mắc viêm mũi dị ứng theo khu vực sống và mùa trong năm
+ Tỷ lệ số ca mắc theo khu vực sống
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy số ca mắc khu vực
thành thị là 49,50%, khu vực nông thôn là 50,50% (Bảng 3.3). Trong
khi đó nghiên cứu của tác giả Chun Wei Li và cộng sự nghiên cứu tại
Guangzhou, Trung Quốc cho thấy trẻ VMDƯ khu vực thành thị là
76,7%, khu vực nông thôn là 23,3%.
4.2. ĐẶC ĐIỀM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH
NHÂN VMDƯ 6 - 14 TUỔI.
4.2.1. Dấu hiệu cơ năng, thực thể của VMDƯ
Dấu hiệu và triệu chứng cơ năng: Tất cả các bệnh nhi đều có các
biểu hiện gồm hắt hơi, chảy mũi, ngứa mũi và ngạt mũi ở các mức độ
khác nhau (Bảng 3.4). Trong đó mức độ hắt hơn nặng 38,71%, mức độ
chảy mũi nặng chiếm 36,96%, ngứa mũi nặng chiếm 35,79%, ngạt mũi
mức độ nặng chiếm tỷ lệ thấp hơn với 20,12%.
Triệu chứng thực thể: Trong VMDƯ các triệu chứng thực thể
gồm tình trạng niêm mạc mũi và tình trạng quá phát cuống mũi. Tình
bệnh nhi có biểu hiện về niêm mạc mũi nhợt nhạt, phù nề chiếm
93,37%. Trong đó mức độ nặng chiếm 35,2%, trung bình 58,13%. Bệnh
nhi có biểu hiện về cuốn dưới quá phát chiếm 92,4%, trong đó mức độ
nặng chiếm 31,35% và mức độ nhẹ chiếm 61,05% (Bảng3.5). Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi tương tự với các tác giả Vũ Văn Sản, Nguyễn
Trọng Tài, Imleat, Vũ Minh Thục, Phạm Văn Thức.
4.2.2. Dị ứng với một số dị nguyên ở bệnh nhân VMDƯ
hợp viêm mũi xoang dị ứng có chỉ định phẫu thuât có nồng độ IgE là 373 ±
383 IU/ml. Tác giả Vũ Thị Minh Thục, Phạm Văn Thức và cộng sự trên 30
người bình thường là 350 ± 142 ng/ml (1 IU= 2,4 ng)
Nồng độ IgG trong máu:
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng độ IgG trong máu
trung bình là 1000,81±104,18 mg%, mức cao nhất là 1260,30 mg% và
mức thấp nhất là 813,20 mg% (Bảng 3.18). Có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê về mức IgG theo phân loại của ARIA về thời gian mắc và mức
độ bệnh (p
4.3.1.1. Mức độ cải thiện các triệu chứng cơ năng.
Triệu chứng ngứa mũi: Bảng 3.28 cho thấy 100% bệnh nhân có
dấu hiệu ngứa mũi, dấu hiệu ngứa mũi nặng chỉ xuất hiện tại thời điểm
bắt đầu điều trị (23,5%) và sau điều trị 6 tháng (13,7%). Bệnh nhân bắt
đầu hết biểu hiện ngứa mũi sau 6 tháng điều trị (3,9%); sau 12 tháng
(11,8%) và sau 24 tháng (47,1%). Như vậy, sau điều trị triệu chứng
ngứa mũi ở nhóm BN được điều trị có sự cải thiện rõ rệt về số lượng
cũng như mức độ ngứa mũi. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
trong thời gian hơn 18 tháng hiệu quả hơn SLIT dưới 18 tháng.
4.3.2. Hiệu quả cận lâm sàng
4.3.2.1. Test kích thích mũi
Test kích mũi là phương pháp rất nhạy cảm và có giá trị trong chẩn
21
đoán dị ứng đặc hiệu đặc biệt là những trường hợp VMDƯ. Trong
nghiên cứu này chúng tôi sử dụng test kích thích mũi để chẩn đoán và
đánh giá hiệu quả điều trị MDĐH. Sau 24 tháng điều trị chúng tôi nhận
thấy có 5,88% cho kết quả (-), trong nhóm dương tính chủ yếu là (+)
với 72,55% so với trước điều trị bệnh nhân cho kết quả dương tính chủ
yếu là (++) và (+++) chiếm 90,02%. Kết quả này của chúng tôi tương
đương với kết quả của Imleat và Vũ Minh Thục khi.
4.3.2.2. Phản ứng tiêu bạch cầu đặc hiệu
Đánh giá về kết quả của chúng tôi về phản ứng tiêu bạch cầu đặc hiệu
thấy số bệnh nhân cho test dương tính với MBN là 100%. Sau 24 tháng
điều trị MDĐH, không còn bệnh nhân nào ở mức độ (++++). Mức độ
dương tính của phản ứng đã chuyển về (+) chiếm 41,18% và (++) là
21,57%, chỉ còn 1 bệnh nhân (chiếm 1,96%) cho tỷ lệ dương tính ở mức độ
(+++). Nghiên cứu của tác giả Trịnh Mạnh Hùng làm xét nghiệm với dị
nguyên bụi nhà của Pháp thấy tỷ lệ đáp ứng dương tính là 74,67%.
4.3.2.3. Biến đổi nồng độ IgE
Nồng độ IgE toàn phần trong huyết thanh của các bệnh nhân trước
điều trị MDĐH (Bảng 3.37) chúng tôi thu được kết quả: 545,14 ± 360,70
UI/ml. Kết quả này cao hơn hẳn so với nhóm người bình thường (212,70 ±
95,05 UI/ml). Nghiên cứu của Trịnh Mạnh Hùng ở 39 bệnh nhân HPQ cho
thấy nồng độ IgE toàn phần là 484,79 ± 64,30 UI/ml, cao hơn rõ rệt so với
người bình thường. Kết quả nghiên cứu của Đoàn Thị Thanh Hà trên 80
bệnh nhân viêm mũi dị ứng với bụi nhà là 370,26 UI/ml
2. Đặc điểm chung viêm mũi dị ứng của trẻ 6 đến 14 tuổi
* Đặc điểm lâm sàng
Các triệu chứng cơ năng và thực thể cũng tương tự VMDƯ ở người
lớn, cụ thể là: 100% bệnh nhân có các triệu chứng cơ năng như hắt hơi,
chảy mũi, ngứa mũi, ngạt mũi, trong đó mức độ nặng theo triệu chứng lần
lượt là: hắt hơi 38,71%, chảy mũi 36,96%, ngứa mũi 35,79% và ngạt mũi
20,12%. Phần lớn bệnh nhân có triệu chứng thực thể rõ ràng: 93,37% niêm
mạc mũi nhợt nhạt, phù nề; 92,4% cuốn dưới quá phát.
Một số các biểu hiện khác gồm: khịt khạc đờm 97,19%, ngứa họng
77,66%, ho 35,79%, khô họng 18,60%, khó thở 12,51%.
Đánh giá theo mức độ có: mức độ nặng dai dẳng chiếm 59,88%, nặng gián đoạn
2,92%, nhẹ dai dẳng 14,15% và nhẹ gián đoạn 23,04%.
* Dị ứng với một số dị nguyên