Vai trò của viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh thái bình) - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ LONG KHÁNH

VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VỚI VIỆC
TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TIN BÁO TỐ GIÁC TỘI PHẠM
VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ LONG KHÁNH

VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VỚI VIỆC
TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TIN BÁO TỐ GIÁC TỘI PHẠM
VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN THU HẠNH

GIÁC, TIN BÁO TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ ................... 8
1.1. Khái niệm và đặc điểm tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố.. .8
1.2. Khái niệm và các phƣơng diện thể hiện vai trò của Viện kiểm sát
nhân dân ..................................................................................................... 14
1.2.1. Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân ................................. 14
1.2.2. Các phương diện thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân .......... 16
1.3. Nội dung, đặc điểm và cơ sở vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
trong việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố .......... 22
1.3.1. Nội dung vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tiếp nhận, giải
quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố ...................................... 22
1.3.2. Đặc điểm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tiếp
nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố...................... 28
1.3.3. Cơ sở vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tiếp nhận,
giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố ............................... 29
1.4. Pháp luật tố tụng hình sự một số nƣớc trên thế giới về vai trò của
Viện kiểm sát, Viện Công tố trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo tội phạm ................................................................................ 30
1.4.1. Một số quốc gia tiêu biểu trong hệ thống Dân luật ........................... 30


1.4.2. Một số quốc gia tiêu biểu trong hệ thống Thông luật ....................... 33
1.4.3. Một số quốc gia tiêu biểu trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.... 35
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .......................................................................... 39
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ VAI
TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VỚI VIỆC TIẾP NHẬN,
GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO TỘI PHẠM, KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ
VÀ THỰC TRẠNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH ...................... 40
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về vai trò của
Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
tội phạm, kiến nghị khởi tố....................................................................... 40

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ....................................... 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 96


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS:

Bộ luật Tố tụng Hình sự

CQĐT:

Cơ quan Điều tra

CQTHTT:

Cơ quan tiến hành tố tụng

KSV:

Kiểm sát viên

Thông tư 06: Thông tư số 06/2013/TTLT – BCA – BQP – BTC BNN&PTNT - VKSNDTC
THQCT:

Thực hành quyền công tố

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân


trong đó có Viện kiểm sát nhân dân cần được làm rõ. Với tầm quan trọng
như vậy, nghiên cứu vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận,
giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố là việc làm cần thiết,
cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.
Về mặt lý luận, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện vai trò của mình
thông qua chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư
pháp và thực hành quyền công tố. Tuy nhiên, đã và đang có những tranh
luận học thuật xung quanh hai chức năng này. Điều đó sẽ dẫn đến những
quan điểm khác nhau về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp
nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố. Trong khi đó,
Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị
quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trong
tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày
25/4/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Để công cuộc cải cách tư pháp đạt

1


được những thành tựu to lớn hơn nữa, sự thống nhất trong nhận thức và áp
dụng pháp luật là yếu tố quyết định.
Trong thực tiễn, sự thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với
việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố liên
quan trực tiếp tới kết quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm. Điều
này có thể được minh họa bằng thực trạng tại tỉnh Thái Bình từ năm 2011
đến tháng 6 năm 2017. Với những nỗ lực của toàn ngành kiểm sát, công tác
tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị
khởi tố ở Thái Bình đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhưng bên cạnh đó,

quyết vụ án hình sự (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)” (bảo vệ
năm 2016 tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội) của tác giả Nghiêm
Thị Thanh Thư. Những luận văn nói trên đã phân tích một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải
quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố nhưng những phân tích đó
chỉ được trình bày ngắn gọn, không phải quan điểm chủ đạo của luận văn.
Ở cấp độ bài báo khoa học, đề tài vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
được khai thác nhiều hơn. Có thể kể đến các bài báo: “Về nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo yêu cầu cải cách tư pháp” của tác giả
Nguyễn Duy Giảng đăng trên Tạp chí kiểm sát số 18 & 20/2008; “Cần thống
nhất nhận thức về các khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố và các nguồn thông tin về tội phạm” của tác giả Lê Ra, tạp chí kiểm sát số
20/2012; “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố” của
tác giả Lưu Trọng Nguyên, Tạp chí kiểm sát, số 12/2009. Bài báo“Một số
vấn đề về công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tiến trình cải cách”

3


của tác giả Nam Trung, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 11(212) – 2009 tuy
không đề cập trực tiếp tới vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tiếp
nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố nhưng đưa ra
những phân tích cụ thể về mặt lý luận vai trò của thiết chế này.
Ở cấp độ sách chuyên khảo, chưa có công trình nào tập trung vào hoạt
động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố. Hầu
hết những công bố có giá trị đều phân tích về vai trò của Viện kiểm sát nhân
dân trong tố tụng hình sự nói chung hoặc vị trí của Viện kiểm sát nhân dân

Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào nghiên cứu vai trò
của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác
tội phạm và kiến nghị khởi tố trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam qua
các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự
2015. Số liệu, tư liệu thực tế trong luận văn chủ yếu trích dẫn từ các báo
cáo tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình trong giai đoạn từ
năm 2011 đến tháng 6 năm 2017. Một số tư liệu lấy từ báo điện tử và trang
web chính thức của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng; quan điểm của Đảng và Nhà nước
về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
Trong luận văn, các phương pháp nghiên cứu khoa học được sử dụng
bao gồm: phương pháp phân tích, so sánh, phương pháp thống kê, tổng
hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp. Đặc biệt, phương pháp phân tích,
so sánh đóng vai trò chủ đạo trong quá trình nghiên cứu.

5


5. Những điểm mới của luận văn
Luận văn đã phân tích tương đối hệ thống một số vấn đề lý luận về
vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo tội phạm, kiến nghị khởi tố; sự thể hiện vai trò này thông qua những
quy phạm cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và Bộ luật tố tụng hình
sự 2015.
Luận văn đã khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy định
về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố từ năm 1959 đến khi Bộ luật tố

quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố. Qua đó, đưa ra một số
giải pháp nhằm khắc phục phần nào những hạn chế này. Ngoài ra, luận văn
còn có giá trị với việc nghiên cứu khoa học cũng như áp dụng thực tế thẩm
quyền của Viện kiểm sát nhân dân.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn gồm ba chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò của Viện kiểm sát nhân
dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị
khởi tố.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vai trò của
Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội
phạm, kiến nghị khởi tố và thực trạng trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
Chương 3: Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao
vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo tội phạm và kiến nghị khởi tố.

7


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN VỚI VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN
BÁO TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ
1.1.

Khái niệm và đặc điểm tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị

khởi tố
Từ góc độ ngôn ngữ học, các thuật ngữ tin, báo, tố giác, kiến nghị

độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi mà họ thực hiện và hậu quả
của hành vi ấy. Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm: lỗi, động cơ phạm tội
và mục đích phạm tội. Trong thực tiễn, các thông tin về tội phạm rất đa
dạng nhưng đều có thể xếp vào một trong bốn yếu tố nói trên. Ví dụ, thông
tin về một vụ cướp có thể bao gồm: chủ thể - số người tham gia cướp, đặc
điểm từng người; mặt chủ quan – lỗi cố ý trực tiếp, được thể hiện qua việc
uy hiếp nạn nhân; mặt khách quan – thời gian, địa điểm xảy ra vụ cướp,
hung khí dùng để cướp; khách thể - quan hệ sở hữu. Do đó, có thể khẳng
định “tố giác”, “tin báo tội phạm”, “kiến nghị khởi tố” là những thông tin
về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Hiện nay, có sự phân biệt về mặt nội dung giữa các loại thông tin
trong Thông tư 06 và BLTTHS 2015. Theo Thông tư 06, tố giác và tin báo
là thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm, kiến nghị khởi tố là “phát hiện
sự việc có dấu hiệu tội phạm” [4, Điều 3]. Theo BLTTHS 2015, nội dung
của tin báo là “hành vi có dấu hiệu tội phạm”, của tố giác và kiến nghị khởi
tố là “vụ việc có dấu hiệu tội phạm” [20, Điều 144]. Tuy nhiên, hai văn bản
trên chưa quy định sự khác biệt giữa hành vi và vụ việc có dấu hiệu tội
phạm. Thông tin về một vụ việc chi tiết, trong đó có hành vi phạm tội, do
cá nhân báo cho CQĐT sẽ thỏa mãn đặc điểm của cả tin báo và tố giác tội
phạm theo BLTTHS 2015. Như vậy, việc phân loại tin dựa trên “hành vi”
và “vụ việc có dấu hiệu tội phạm” chưa thực sự hợp lý. Có thể thấy, sự
khác biệt quan trọng nhất là: kiến nghị khởi tố bao gồm văn bản kiến nghị
khởi tố vụ án hình sự và các chứng cứ, tài liệu liên quan bên cạnh những

10


thông tin về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm. Nói cách khác, thông
tin trong kiến nghị khởi tố đã được xử lý bước đầu, có mức độ tin cậy cao
hơn và gắn với trách nhiệm của cơ quan Nhà nước. Trong khi đó, tố giác và

truyền tin. Có các loại chủ thể truyền tin chính: cá nhân; cơ quan tổ chức;
cơ quan Nhà nước. Cơ quan Nhà nước là chủ thể đặc trưng của kiến nghị
khởi tố. Cá nhân là chủ thể của tố giác tội phạm. Với chủ thể truyền tin của
“tin báo”, theo Thông tư 06, đó là cơ quan, tổ chức [4, khoản 2, Điều 3].
Nhưng theo BLTTHS 2015, chủ thể đó là cá nhân, cơ quan, tổ chức [20,
khoản 2, Điều 144]. Chúng tôi cho rằng, nên thống nhất chủ thể truyền tin
của tin báo là cơ quan, tổ chức mà không bao gồm cá nhân. Điều đó giúp
phân biệt tin báo và tố giác. Bởi hai loại tin này có bản chất thông tin và
chủ thể nhận tin giống nhau. Vì thế, chủ thể truyền tin trở thành tiêu chí
phân biệt tin rõ ràng nhất.
Từ các phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa như sau
Tố giác về tội phạm là thông tin về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội
phạm do cá nhân cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền.
Tin báo về tội phạm là thông tin về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội
phạm do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền hoặc thông
tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.
Kiến nghị khởi tố là thông tin về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội
phạm, được gửi kèm văn bản kiến nghị khởi tố vụ án hình sự, do Cơ quan
Nhà nước cung cấp cho Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Có thể rút ra định nghĩa chung cho “tố giác”, “tin báo về tội phạm”
và “kiến nghị khởi tố” như sau:
Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là những thông tin
về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm do các chủ thể không có thẩm
quyền giải quyết cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự.
Tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố có các đặc điểm sau:

12




việc có dấu hiệu tội phạm thường được phát hiện ngẫu nhiên nên tố giác,
tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố chỉ phản ánh được phần nào biểu hiện
bên ngoài cuả toàn bộ hành vi, vụ việc ấy. Trong khi đó, các CQTHTT cần
xác định bản chất của hành vi, vụ việc để ấn định trách nhiệm hình sự. Do
vậy, tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố cần trải qua quá trình xác
minh, làm rõ bởi CQTHTT có thẩm quyền.
1.2. Khái niệm và các phƣơng diện thể hiện vai trò của Viện
kiểm sát nhân dân
1.2.1. Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
Theo từ điển tiếng Việt, “vai trò” là “Tác dụng, chức năng trong sự
hoạt động, phát triển của cái gì đó” [17]. Định nghĩa này cho thấy thuật ngữ
“vai trò” và “chức năng” có sự tương đồng nhất định. Mối quan hệ giữa vai
trò và chức năng của VKSND là: vai trò được thể hiện thông qua các chức
năng khác nhau. Phân tích vai trò của VKSND là phân tích từng chức năng
và sự thể hiện những chức năng đó. Ngược lại, nghiên cứu hoàn thiện chức
năng của VKSND cần hướng đến bảo đảm vai trò của thiết chế này.
Dưới góc độ pháp lý, hai chức năng chính của VKSND trong tố tụng
hình sự là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đó
là cơ sở để xác định vai trò của VKSND trong tố tụng hình sự nói chung,
trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố nói
riêng. Theo khoản 3, Điều 23 BLTTHS 2003, Viện kiểm sát thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm:
Bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp
thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người
phạm tội, không làm oan người vô tội.

14



Từ vai trò của VKSND trong tố tụng hình sự, có thể rút ra vai trò của
VKSND trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị
khởi tố như sau:
Bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm
tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm
minh, đúng pháp luật.
1.2.2. Các phương diện thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
VKSND thể hiện vai trò thông qua chức năng THQCT và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật. Tuy nhiên, một vấn đề đang tồn tại hiện nay là
nền tảng lý luận của hai chức năng vẫn chưa được thống nhất. Chưa có văn
bản pháp lý nào giải thích chính thức về quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật. Trong khi đó, giới học thuật vẫn đang đưa ra những
quan điểm trái chiều. Tình trạng này tất yếu dẫn đến nhận thức khác nhau
về cách thể hiện vai trò của VKSND. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu về
chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý nghĩa định
hướng phân tích vai trò của VKSND với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác,
tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Bên cạnh những nhiệm vụ, quyền hạn trong hai chức năng chính, một
phương tiện khác để VKSND thể hiện vai trò của mình là thẩm quyền tiếp
nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố, được quy định tại các
Điều 145, 146, 160 BLTTHS 2015. Quy định trong BLTTHS 2015 cho
thấy thẩm quyền này vừa mang tính chất độc lập, vừa nằm trong nhiệm vụ,
quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Vì vậy, cùng với hai chức
năng chính của VKSND, thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm,
kiến nghị khởi tố cần được nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện.

16



17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status