PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGỌC HỒI
TRƯỜNG TIỂU HỌC BẾ VĂN ĐÀN
------------------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
HÌNH THÀNH NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT VÀ
KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH KHỐI LỚP 1
TRƯỜNG TIỂU HỌC BẾ VĂN ĐÀN
NGƯỜI THỰC HIỆN: …………………………
TỔ/KHỐI:
Khối lớp 1
ĐƠN VỊ :
Trường TH …………………
0
Bờ Y, tháng 1/2017
LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong đề tài là trung thực, được các đồng
tác giả cho phép sử dụng và chưa từng công bố trong bất cứ một công trình nghiên
1. Cơ sở lí luận
6
1.1. Năng lực là gì? Đặc điểm, phân loại năng lực
6
1.2. Phẩm chất là gì?
7
1.3. Kĩ năng là gì?
8
2. Thực trạng của việc hình thành năng lực, phẩm chất và kĩ năng sống cho
học sinh khối lớp 1 trường tiểu học Bế Văn Đàn
9
3. Các giải pháp đã tiến hành để hình thành năng lực, phẩm chất và kĩ năng
sống cho học sinh khối lớp 1 trường tiểu học Bế Văn Đàn
12
3.1. Phát huy năng lực của hội đồng tự quản lớp học.
12
hành các bài tập rèn luyện năng lực, phẩm chất và hành vi ở nhà
18
3.10. Đổi mới phương pháp dạy học, bám sát các hoạt động hàng ngày của học
sinh
19
3.11. Phối hợp với Đội thiếu niên, Đoàn thanh niên rèn luyện năng lực, phẩm chất,
kĩ năng cho học sinh qua sinh hoạt sao nhi
19
3.12. Rèn kĩ năng cho học sinh liên tục bằng hình thức lặp lại nhiều lần
20
2
4. Hiệu quả
20
III. Kết luận và đề xuất
27
Tài liệu tham khảo
với gia đình cũng thay đổi. Bên cạnh đó trong tập thể, khi các em thực hiện nhiều
nhiệm vụ học tập cũng như các hoạt động khác nhau trong nhà trường, khi bắt đầu
có sự phân hóa giữa những học sinh học tập sôi nổi, tích cực trong các hoạt động
với những em tự ti, nhút nhát, còn trốn tránh khi tham gia các hoạt động chung.
Bản thân các em cũng tự biết đánh giá mình, các em bắt đầu chơi với nhau theo
4
hứng thú, sở thích. Thế nên giáo viên cần phải biết điều hòa các mối quan hệ,
không quá khen những em năng nổ và biết động viên kịp thời những em nhút nhát.
Phải đối xử công bằng với tất cả mọi trẻ, làm sao để các em cảm thấy lớp học
không phải là nhóm người xa lạ mà là một tập thể thiện ý và chu đáo của những
bạn cùng lớp.
Hơn nữa muốn đổi mới được phương pháp và hình thức dạy học, giúp học
sinh được luyện tập, thực hành nhiều thì bước đầu chúng ta cần hình thành năng
lực và phẩm chất cần thiết cho các em như: năng lực tự học, giao tiếp, hợp tác, tự
tin, tự trọng, tính kỉ luật, tự giải quyết vấn đề, yêu quý bạn bè, tích cực trong các
hoạt động... để làm được điều này nó cũng đòi hỏi sự nổ lực rất lớn của cả giáo
viên lẫn học sinh. Mà khó khăn lớn nhất của vấn đề này tìm các biện pháp để hình
thành năng lực, phẩm chất, kĩ năng ngay từ lớp một, có như vậy mới mong đem lại
được hiệu quả cao nhất. Chính vì thế việc lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học
và tổ chức hoạt động để tạo cơ hội cho các em hình thành, phát triển được năng lực
và phẩm chất. Đây là một trong những nội dung được đông đảo phụ huynh và dư
luận quan tâm, bởi đây là một chương trình giáo dục hết sức cần thiết đối với học
sinh và phù hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay, nhằm đào tạo con người với đầy
đủ các mặt “đức, trí, thể, mỹ” để đáp ứng yêu cầu của xã hội, đặc biệt là học sinh
lớp một.
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc hình thành năng lực,
phẩm chất và kĩ năng sống cho học sinh, trong thời gian vừa qua của năm học
2015-2016, chúng tôi đã lựa chọn và triển khai thực hiện sáng kiến “Một số biện
đến lớp, chưa biết thắc mắc khi không hiểu bài, còn nhút nhát chưa biết tham gia
hợp tác học tập cùng nhóm bạn… Nếu học sinh có năng lực giao tiếp tức là có kỹ
năng nói tốt tạo tiền đề học tốt các môn học. Để thực hiện được nhiệm vụ này
chúng ta nghiên cứu chuẩn mực đạo đức xã hội. Nghiên cứu những lý luận cần
thiết về rèn luyện năng lực, phẩm chất và các kĩ năng qua các bài học cụ
thể. Nghiên cứu cách đánh giá, nhận xét, cách tổ chức các hoạt động dạy học nhằm
phát huy được năng lực, phẩm chất của các em.
1.1. Năng lực là gì? Đặc điểm, phân loại năng lực:
6
Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái
độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các
tình huống đa dạng của cuộc sống.
Năng lực có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất là có sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể để
có một sản phẩm nhất định, do đó có thể phân biệt người này với người khác.
Thứ hai là năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể. Năng
lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy,
năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động.
Thứ ba là đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ
thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự
quản,…)
Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực chuyên biệt:
Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi… làm nền
tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp.
Một số năng lực cốt lõi của học sinh tiểu học: Tự phục vụ và tự quản, năng lực
“Kĩ năng” là khả năng thao tác thực hiện một hoạt động nào đó. Có nhiều
điều ta biết, ta nói được mà không làm được. Như vậy luôn có những khoảng cách
giữa thông tin, nhận thức và hành động. Chẳng hạn như biết tập thể dục là rất tốt
cho sức khoẻ nhưng để có hành động tập thể dục đều đặn là cả một vấn đề. Trong
cuộc sống ta thường khen hành vi của ai đó, ví dụ: em viết chữ đẹp, em hát hay, vẽ
khéo,... Điều này có nghĩa là chúng ta đang nói về những cá nhân ấy đã biết sử
dụng kiến thức học được vào thực hiện thành thục các nhiệm vụ khác nhau của
cuộc sống. Với những kĩ năng cũng vậy, nếu bạn có đầy đủ các kiến thức trong
cuộc sống, thế nhưng bạn lại chưa có kĩ năng cuộc sống và chưa biết sử dụng linh
hoạt các kĩ năng này thì không đảm bảo được là bạn sẽ có thể đưa ra quyết định
hợp lí, giao tiếp có hiệu quả hay có mối quan hệ tốt với những người khác. Vì vậy
bạn cần phải có kĩ năng đặc biệt cho cuộc sống và được gọi là “Kĩ năng sống”.
Kĩ năng sống đề cập đến lĩnh vực hoạt động từ học tập đến tổ chức các hoạt
động. Đó là năng lực tâm lí xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và
8
thách thức mà tuổi trẻ rất cần để vào đời. Có nhiều định nghĩa và quan niệm khác
nhau về kỹ năng sống. Mỗi định nghĩa được thể hiện dưới những cách thức tiếp
cận khác nhau. Thông thường, kỹ năng sống được hiểu là những kỹ năng thực hành
mà con người cần để có được sự an toàn, cuộc sống khỏe mạnh với chất lượng cao.
Kỹ năng sống được hình thành thông qua một quá trình sống, rèn luyện, học
tập trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội. Vì vậy, kỹ năng sống của mỗi người
vừa có tính cá nhân, vừa có tính xã hội và chịu ảnh hưởng của gia đình, cộng đồng,
dân tộc. Kỹ năng sống mang tính cá nhân bởi vì đó là khả năng của mỗi cá nhân.
Mặt khác kỹ năng sống có tính xã hội là vì trong mỗi giai đoạn của sự phát triển xã
hội, mỗi tôn giáo, cá nhân được yêu cầu để có sự phù hợp với những kỹ năng sống
ấy. Ví dụ: kỹ năng sống của những người sống ở những vùng miền khác nhau thì
cũng có sự khác nhau…
Vì vậy, giáo dục kỹ năng sống cho các em là giáo dục những kỹ năng mang
chạm với môi trường xung quanh nên khi vào lớp Một các em bắt đầu làm quen
với hoạt động học tập. Tất cả đều mới mẻ, vốn kinh nghiệm sống hạn chế khó
khăn cho việc tiếp thu kiến thức.
Một số học sinh như em Y Uyên, A Khánh, Phú, Y Xinh, Xuân... lớp 1D, em
A Vương, A Sợ, A Nghinh lớp 1B chưa mạnh dạn, khả năng giao tiếp còn hạn chế,
ít xung phong phát biểu ý kiến, hoặc không trả lời câu hỏi giáo viên đưa ra không
đầy đủ câu.
Khi tham gia các hoạt động trải nghiệm do Nhà trường, Liên Đội tổ chức
một số em chưa nghiêm túc, chưa tích cực trong các hoạt động.
Các em lớp Một hành vi còn mang tính xung động cao và hành động ý chí
còn thấp. Các em thường có những hành vi bột phát, phản ứng tức thì. Ví dụ, cả
lớp đang yên lặng, bỗng một bạn hét to: “Ôi, làm xong rồi” và không để ý đến ai
xung quanh mình. Những hành vi như vậy các em dễ bị đánh giá là hành vi vô tổ
chức, vô kỉ luật.
Các em chưa tự giác làm các việc phù hợp với khả năng của mình như quét
lớp, nhặt rác, nhổ cỏ vườn hoa,...Một số em không dám mạnh dạn nhận lỗi khi làm
10
sai, chưa chấp hành đúng nội quy lớp học, còn đi học muộn, nói chuyện riêng
trong giờ học, ăn mặc không đúng tác phong, quần áo chưa gọn gàng, chưa biết thể
hiện tình yêu thương, giúp đỡ bạn bè. Đây cũng chính là vấn đề đặt ra mà mỗi giáo
viên cần tìm các biện pháp để giúp đỡ các em phát huy các năng lực và hình thành,
rèn luyện các phẩm chất tốt đẹp.
b) Đối với giáo viên:
Bản thân giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh mà chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức ở sách giáo khoa nên chưa chịu
khó tìm tòi các hình thức và phương pháp tổ chức cho các hoạt động này nên làm
mất sự hứng thú của học sinh.
Một số giáo viên chưa nhận định, chưa phân biệt rõ ràng đâu là năng lực,
3.1. Phát huy năng lực của hội đồng tự quản lớp học:
Thông qua việc bình bầu, các em tự đề cử những bạn có đủ năng lực để quản
lí lớp. Giáo viên là người trực tiếp giao nhiệm vụ để hội đồng tự quản phát huy khả
năng điều hành của mình. Hội đồng tự quản gồm 1 chủ tịch hội đồng tự quản, 2
phó chủ tịch và các ban (ban học tập, ban sức khỏe, ban vệ sinh, ban lao động, ...)
các ban có trách nhiệm giao nhiệm vụ, phân công và đôn đốc các thành viên trong
ban mình tích cực tham gia hoạt động, theo dõi, nhắc nhở, hỗ trợ và cùng tham gia
với các bạn để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Chủ tịch hội đồng là người theo dõi và kiểm tra mọi hoạt động của lớp, điều
khiển các bạn xếp hàng, điểm danh sĩ số, chào cờ và thể dục giữa giờ. Hai phó ban
có nhiệm vụ theo dõi , kiểm tra các ban của do giáo viên quy định như: Ban lao
động, ban văn nghệ, ban nề nếp, ban vệ sinh, ban học tập, ...giáo viên hướng dẫn
cụ thể nhiệm vụ và cách thực hiện ở mỗi ban chẳng hạn như:
Ban học tập: Điều khiển các nhóm thảo luận, trình bày kết quả hoặc theo dõi
tinh thần, thái độ học của các bạn, theo dõi việc học ở lớp và ở nhà.
Ban lao động: Theo dõi phân công trực nhật, vệ sinh lớp học, khu vực phân
công, phân công tưới cây, đổ rác, sắp xếp, lau chùi bàn ghế. Giao nhệm vụ cụ thể
cho từng bạn, từng ngày trong ban của mình,...
12
Cuối tuần giáo viên tổ chức cho các ban nhận xét, hai phó chủ tịch nhận xét
các ban của mình và chủ tịch hội đồng nhận xét toàn bộ các hoạt động của lớp
trong tuần vừa qua.
Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận, tự bản thân mình phát hiện những
những việc đã làm được và chưa làm được để phát huy hoặc khắc phục. Từ tuần
tiếp theo trở đi các em sẽ tự tổ chức, điều khiển dưới sự giám sát của giáo viên. Có
như vậy nề nếp lớp học sẽ tốt hơn, giáo viên cũng bớt được các việc làm thay cho
học sinh và học sinh lại được tự mình phát huy hết khả năng, năng lực của bản
thân.
của mình trước các bạn và cô giáo.
Giáo viên cần dành nhiều thời gian cho hoạt động thực hành, quan sát kĩ thái
độ , cử chỉ, nét mặt để phát hiện em nào gặp khó khăn, kịp thời có biện pháp giúp
đỡ, đặc biệt đối với những em còn nhiều hạn chế, còn nhút nhát trong học tập và
các hoạt động chung. Việc sắp xếp chỗ ngồi cũng rất quan trọng, giáo viên có thể
linh động sắp xếp bàn ghế, chỗ ngồi phù hợp để thuận lợi cho việc trao đổi, tương
tác với nhau, kèm cặp, giúp đỡ bạn yếu kém cùng tiến bộ
Để hỗ trợ kịp thời cho các em thì giáo viên phải thường xuyên quan sát, theo
dõi cá nhân học sinh, nhóm học sinh trong quá trình học tập để có nhận định, động
viên hoặc gợi ý, hỗ trợ kịp thời đối với từng việc làm, từng nhiệm vụ của mỗi cá
nhân hoặc của cả nhóm học sinh, đưa ra những nhận định về một số biểu hiện của
phẩm chất và năng lực của học sinh. Từ đó, động viên, khích lệ, giúp học sinh khắc
phục khó khăn, phát huy ưu điểm và các tố chất riêng, sửa chữa khuyết điểm để
ngày càng tiến bộ.
3.4. Rèn đức tính trung thực, kỉ luật, đoàn kết:
Trung thực là đức tính tốt của con người mà ở đó sự thật thà và những sự
thật được biểu hiện rõ nhất. Trung thực chính là bản thân luôn tôn trọng sự thật,
sống thật thà, dũng cảm nhận lỗi, mạnh dạn chịu trách nhiệm các việc mình làm.
Đó chính là đức tính tốt của con người mà chúng ta cần giáo dục cho học sinh ngay
khi bước vào lớp một.
14
Đức tính tốt ấy cần được giáo viên theo dõi, nhắc nhở hàng ngày, trung thực
được thể hiện rõ khi học sinh biết nhận lỗi, sửa sai, biết chấp hành tốt kỉ luật, nội
quy của trường, lớp và nó còn được thể hiện qua các kì kiểm tra, không quay cóp
bài của người khác, tự học và làm theo khả năng của mình. Có như vậy thì bản
thân mới khắc phục những lỗ hỏng, ngày càng tiến bộ hơn.
Truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta còn được thể hiện qua sự đoàn kết,
của giáo dục kỹ năng sống tuỳ theo từng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và
điều kiện cụ thể của từng môn học, xác định rõ các kỹ năng sống cần hình thành và
phát triển cho học sinh để tích hợp vào nội dung của hoạt động giáo dục.
Qua các giờ học giáo viên chú ý nhắc nhở các em thực hành hành vi đã học.
Ví dụ: Trong các giờ học, học sinh chưa có cử chỉ thể hiện đúng hành vi đạo đức
như: Đưa sách vở cho cô đưa bằng một tay và không biết nói lời ''thưa'', ''gửi''.
Giáo viên sửa lại hành vi đúng cho các em thể hiện lễ phép với thầy cô giáo và
người trên: Em đưa lại bằng hai tay và nói thưa cô em nộp bài ạ.
Các em được tham gia học nhóm, đóng vai, báo cáo kết quả thảo luận trong
các giờ tự nhiên xã hội, đạo đức, tiếng việt để thực hành hành vi đạo đức đã học.
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh ngay từ khi bước vào trường học là vô
cùng quan trọng. Chính vì thế môn học đạo đức cung cấp cho các em những hiểu
biết ban đầu về các kỹ năng giao tiếp, ứng xử lễ phép trong cuộc sống hàng ngày,
đó là những kỹ năng sống cần thiết cho mỗi con ngưòi, góp phần phát triển hoàn
thiện nhân cách mai sau.
Lựa chọn các phương pháp dạy thích hợp với từng bài dạy gây hứng thú học
tập cho học sinh. Không rập khuôn máy móc, không áp đặt tình huống, cần sáng
tạo theo từng tiết dạy. Qua từng bài tập trò chơi, kể chuyện theo tranh, quan sát
tranh và trả lời câu hỏi, đánh giá và tự đánh giá hành vi của bản thân và những
người xung quanh, các bài tập tô màu, đóng vai theo tranh theo tình huống v.v...
Học sinh tự khám phá và chiếm lĩnh kiến thức mới, kỹ năng mới giáo viên kết luận
hành vi đạo đức đúng.
Hướng dẫn các em thực hiện hành vi qua các trò chơi, sắm vai, đố vui, nêu ý
kiến của mình để củng cố ghi nhớ hành vi đã học. Giáo viên khuyến khích những
em tính cách nhút nhát tham gia vào trò chơi.
16
Tạo không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, sôi nổi, học sinh học tập phấn
khởi bằng những lời động viên, khen ngợi của giáo viên, các em được phát biểu
chung cho học sinh theo khối lớp hay toàn trường chẳng hạn như hội thi trăng rằm,
thuyết trình vườn hoa,…Những hoạt động này đã huy động sự tham gia của phụ
huynh và cộng đồng, đã được đông đảo phụ huynh đồng tình, ủng hộ.
Giáo viên cần tổ chức các hoạt động lao động như: vệ sinh sân trường, lớp
học, trồng chăm sóc cây trên sân trường, bồn hoa, vườn trường; học sinh được rèn
một số kỹ năng như: cầm chổi quét, hót rác, tưới cây, tỉa lá... thông qua đó HS biết
sử dụng có hiệu quả đồ dùng lao động.
3.8. Giáo viên là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.
Giáo viên luôn gương mẫu từ cử chỉ, lời nói, việc làm, cách ăn mặc, đi đứng
cho học sinh noi theo. Cô không những như người mẹ thứ hai mà còn phải như
người chị của các em. Thường xuyên quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, nhường nhịn,
gần gũi, ân cần với các em. Ví dụ: Bẻ lại cổ áo, chải lại tóc, hướng dẫn các em đi
giày v.v... giải quyết những thắc mắc của các em, động viên khen ngợi, nêu gương
người tốt việc tốt trước lớp.
Tính cách của các em rất hồn nhiên và cả tin. Các em hồn nhiên trong tất cả
các mối quan hệ với người lớn, thầy cô, bạn bè. Hồn nhiên nên rất cả tin: tin vào
sách vở, tin người lớn. Các em thường tin tưởng tuyệt đối ở nơi thầy, cô giáo nên
chúng thường bắt chước những cử chỉ tác phong của thầy, cô giáo mình. Ở trường
các em còn được tiếp xúc với bạn bè, với tập thể nhóm bạn, tổ, lớp; những hoạt
động tập thể cũng ảnh hưởng không ít đến việc hình thành, phát triển nhân cách và
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ . Vì vậy người lớn cần tận dụng niềm tin này để giáo
dục giá trị, tạo dựng niềm tin chân chính vào cuộc sống, luôn là tấm gương sáng để
các em không bị vỡ niềm tin khi thế giới quan của các em đang bắt đầu hình thành
và phát triển ở các giai đoạn sau.
3.9. Làm tốt công tác tuyên truyền, tư vấn cho phụ huynh hướng dẫn
các em thực hành các bài tập rèn năng lực, phẩm chất, hành vi ở nhà.
Tổ chức họp phụ huynh thông báo đặc điểm tình hình của trường, lớp, nêu
tầm quan trọng của việc hình thành các năng lực, phẩm chất, giáo dục đạo đức cho
18
Phối hợp, trao đổi cụ thể nội dung thực hành trong từng tuần sinh hoạt sao
để hướng dẫn các em. Bên cạnh đó cùng tổng phụ trách đội kiểm tra thường xuyên
các kĩ năng về đội - sao, chỉnh sửa, định hướng kịp thời giúp các em tiến bộ.
Đoàn thanh niên, đội thiếu niên nhà trường thường xuyên tham mưu với
đoàn thanh niên xã tổ chức nhiều hoạt động trong dịp hè để các em được tham gia
như văn nghệ, lao động dọn vệ sinh ấp, đường làng, quét dọn nhà bia tưởng niệm
liệt sỹ. Đó là hình thức giáo dục đạo đức cho các em trách nhiệm với địa phương
nơi cư trú.
3.12. Rèn kỹ năng cho học sinh liên tục bằng hình thức lặp lại nhiều
lần:
Việc rèn kỹ năng cho học sinh lớp Một, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư thời
gian, kiên trì, chú tâm nhắc nhở hướng dẫn các em thực hiện hành vi đúng, sửa
chữa uốn nắn những hành vi chưa chuẩn. Tất cả những hành vi đó phải làm thường
xuyên liên tục vì các em rất chóng quên. Giáo viên cần chú ý từng việc làm, cử chỉ,
lời nói của các em ở mọi lúc, mọi nơi, ở trường, ở nhà để các em ghi nhớ và thực
hiện theo hành vi đúng để trở thành thói quen đạo đức tốt cho các em.
4. Hiệu quả của sáng kiến:
Sau thời gian áp dụng các biện pháp hình thành năng lực, phẩm chất và giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh trường TH Bế Văn Đàn chúng tôi thu được những
kết quả sau:
Phụ huynh cùng học sinh đã tự mình cắt, vẽ, xé dán những hình ảnh ngộ
nghĩnh trang trí lớp học, giáo viên cùng học sinh đã tiến hành khai thác các góc
công cụ đã trang trí trong các tiết học để khám phá, tìm tòi kiến thức mới.
20
Sản phẩm của Phụ huynh, học sinh cùng tham gia trang trí lớp
nhắc nhở mới
Tự giác không
và xin lỗi khi
nói lời cảm ơn
cần nhắc nhở
làm ai đó buồn
hoặc xin lỗi.
Chưa tự giác,
thầy cô phải nhắc
nhở nhiều
lòng.
29
SL
%
SL
%
SL
huynh biết con mình học được gì, cần kèm cặp thêm cho con ở điểm nào. Từ đó
em có hướng khắc phục, điều chỉnh để đạt chất lượng cao hơn.
Lời nhận xét của giáo viên
Hầu hết giáo viên tích cực đổi mới PPDH từ khâu thiết kế đến việc tổ chức
hoạt động trên lớp theo hướng hoạt động nhóm cộng tác; tăng cường tổ chức các
hoạt động trải nghiệm nhằm tạo cơ hội cho học sinh nắm vững kiến thức theo
chuẩn kiến thức kĩ năng, rèn luyện các phẩm chất năng lực cần thiết như kĩ năng tự
học, kĩ năng lắng nghe, chia sẻ, hợp tác, tự giải quyết vấn đề,…
Khảo sát qua quan sát HS thực hành thảo luận nhóm. Các em yêu thích môn
học, thích chơi đóng vai, nói năng to rõ ràng, các em tự tin hơn, sôi nổi hơn. Biết
lắng nghe và biết hợp tác, biết phân chia nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong
nhóm, biết chia sẻ kết quả của mình và lắng nghe các ý kiến của các thành viên
trong nhóm mình.
23
Tinh thần hợp tác, học tập nhóm
Biết cách lắng nghe, hợp tác,
Chưa biết cách lắng nghe, hay
trao đổi, bày tỏ ý kiến của
tách ra khỏi nhóm, chưa biết trình
mình