UBND THỊ XÃ CHÍ LINH
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Phương pháp dạy Tập làm văn
Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 3
Môn : Tiếng việt
N¨m häc: 2014- 2015
Phần 1 : Mở đầu
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến : Phương pháp dạy Tập làm văn- Rèn kĩ năng nói cho HS
lớp 3.
2 . Lĩnh vực áp dụng sáng kiến : Áp dụng dạy cho học sinh khối lớp 3.
3. Tác giả :
Họ và tên : Đặng Thị Xuân
Nam(nữ) : Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 10 – 9 – 1975.
Trình độ chuyên môn : Cao đẳng Tiểu học.
Giáo viên Trường Tiểu học Cộng Hòa.
ĐT : 01673 309 570
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến. : Trường Tiểu học Cộng Hòa- Thị xã Chí LinhTỉnh Hải Dương.
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu : Lớp 3B. Trường Tiểu học Cộng Hòa.
Địa chỉ : Khu dân cư Tân Tiến- Phường Cộng Hòa- Chí Linh- Hải Dương.
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến : Áp dụng dạy ở trường Tiểu
học cho mọi đối tượng học sinh lớp 3.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu : Năm học : 2014- 2015.
- Sáng kiến đã đưa ra các giải pháp và các bước thực hiện giải pháp, một
số phương pháp nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh qua bài
dạy cụ thể . Học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức một cách phù hợp theo từng đối
tượng. Dạy theo phương pháp mới đạt hiệu quả, chất lượng. Học sinh tiếp thu
kiến thức một cách tự nhiên, tích cực, hiệu quả, vận dung thực hành nói và viết
tốt.
4. Giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến.
3
- Áp dụng sáng kiến vào giảng dạy theo phương pháp mới giúp học sinh
ham thích học Tiếng Việt hơn. Áp dụng đổi mới cách đánh giá HS theo TT30
khiến cho HS mạnh dạn hơn, tự tin hơn.
5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng.
- Để sáng kiến đạt kết quả giáo viên cần tạo cho học sinh có nhiều cơ hội
được thể hiện trước tập thể giúp học sinh được mạnh dạn tự tin khi nói trước tập
thể. Nhà trường tổ chức chuyên đề áp dụng một số sáng kiến đạt cấp thị xã cho
giáo viên học hỏi.
4
Phần 2 : Mô tả sáng kiến
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.
- Phân môn Tập làm văn ở trường Tiểu học được dạy từ lớp 1 đến lớp 5
với hai dạng bài Tập làm văn nói và Tập làm văn viết. Tập làm văn viết nhằm
rèn luyện cho học sinh khả năng viết văn theo đề tài đã cho. Đây là dạng mà
thầy cô giáo có nhiều kinh nghiệm và thành công hơn. Trong khi đó, ở Tiểu học
các tiết Tập làm văn nói bắt đầu từ lớp 1 với các kiểu bài quan sát tranh, kể lại
câu chuyện thuộc chủ đề luyện nói ... lên lớp 4 – 5, các tiết này được bố trí
3.1. Về phía giáo viên.
Nhìn chung hầu hết GV đều nhận thức được tầm quan trọng của phương
pháp dạy học trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. GV đã thực hiện
phân hoá đối tượng HS làm cho việc giảng dạy sát đối tượng hơn, phát huy được
khả năng của HSG mà không ảnh hưởng đến trình độ lĩnh hội của HS TB, Yếu.
GV dạy bám chuẩn kiến thức kĩ năng và chú trọng tới rèn kĩ năng sống cho HS
qua môn học, phát huy tích tích cực chủ động, sáng tạo của HS . Song không
phải GV nào cũng làm được như vậy. Nhiều GVgiảng dạy kiến thức đã được ổn
định trong SGK chủ yếu bằng phương pháp truyền thống. GV và HS còn phụ
thuộc vào chương trình và tài liệu học có sẵn được thiết kế theo một hệ thống
chặt chẽ , chung cho mọi HS. GV vẫn là người chủ đạo đánh giá kết quả học của
HS mà khả năng HS tự đánh giá lẫn nhau còn hạn chế.
Sách giáo khoa hiện hành đã (chú ý) hình thành và phát triển kỹ năng giao
tiếp cho học sinh ở bậc cao hơn: Không phải là các nghi thức lời nói thông
thường như chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, ... mà là các hoạt động có tính chất giao
tiếp như viết thư, làm đơn, khai giấy tờ, hội họp, giới thiệu hoạt động, viết
quảng cáo, làm báo cáo....
Tuy nhiên những đề bài này khó đối với học sinh lớp 3, chưa gần gũi với
đối tượng học sinh như: Điện báo, đơn xin tham gia sinh hoạt câu lạc bộ, ghi
chép sổ tay hay với đề bài : Hãy giới thiệu hoạt động của tổ em trong tháng vừa
qua với một đoàn khách đến thăm lớp.
Một số đề bài không nêu cụ thể đối tượng giao tiếp, chắc chắn rằng lời lẽ
trong các bài viết của học sinh sẽ na ná như nhau. Dường như trong mọi trường
hợp các em đều cho rằng mình viết bài này cho cô giáo, thầygiáo của mình. Nếu
6
như đối tượng giao tiếp chỉ được xác định như thế thì kết quả là quá chật hẹp,
cứng nhắc, khiến cho giọng của các em dần trở nên khô cứng, dập khuôn.
phân tích đề (tìm hiểu đề). Khâu này gồm các bước : Đọc đề bài, xác định từ
ngữ quan trọng, xác định quan hệ giữa các vấn đề về ngữ pháp và lôgic, xác
định nội dung của đề và trọng tâm, xác định kiểu bài và giới hạn khác nghĩa là
giáo viên cần hướng dẫn học sinh trả lời được những câu hỏi sau:
- Đề bài yêu cầu gì?
- Phạm vi đề bài đến đâu ?
- Trọng tâm bài ở chỗ nào?
Giáo viên nên cho học sinh phân tích đề trong thể so sánh sự giống khác
nhau giữa đề bài mới và đề bãi cũ đã học. Học sinh tự tìm hiểu phát hiện ra sự
giống nhau, khác nhau đó và trả lời được những câu hỏi nêu sau khi so sánh.
Ví dụ : Kể hoặc tả ngắn về người thân, gia đình (về em bé, ông em hoặc
bà em) ta thấy điểm giống nhau. Để tả người nhưng điểm khác nhau ở đây là lứa
tuổi (hoặc cùng tả em bé nhưng đặc điểm của em bé gái sẽ khác em bé trai...)
hình dáng, tính tình, hoạt động... khác nhau.
Như vậy nếu cùng thể loại ta sẽ thấy điểm khác nhau về nội dung, phạm
vi mà đề bài yêu cầu.
4.3. Tìm ý :
Sau khi phân tích đề, học sinh phải tìm tư liệu làm bài (tìm ý) mỗi kiểu
bài có một cách tìm ý riêng.
Với kiểu bài kể quan sát là cơ sở để tìm ý. Nó sử dụng rộng rãi trong quá
trình dạy ở Tiểu học. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn học sinh quan sát và để
các em quan sát độc lập, sáng tạo. Mỗi em tiếp cận đối tượng ở một góc nhìn
riêng làm cho bài thêm phong phú.
Giáo viên nên định rõ mục đích yêu cầu, nhiệm vụ quan sát và hướng dẫn
học sinh quan sát. Học sinh ghi chép lại những điều kiện quan sát được trên cơ
sở đó tự rút ra kết luận, cuối cùng trình bày các kết quả do mình quan sát được.
Quan sát thường theo trình tự sau :
- Cho học sinh tiếp cận đối tượng cùng một lúc ở nhiều góc độ khác nhau.
- Từ những góc độ khác nhau đó ta tri giác bằng mắt, tai nghe, mũi ngửi...
xác, những hiểu biết lệch lạc trong cách kể, miêu tả, trong các chi tiết hoặc nội
dung của câu chuyện sự việc...
- Về kỹ năng : Học sinh thường mắc lỗi cả hai loại kỹ năng xây dựng văn
bản và dùng từ đặt câu, lỗi chính tả.
9
- Lỗi về dàn ý : Thiếu cân đối (có ý quá dài, có ý quá ngắn), không làm
nổi bật trọng tâm của bài, dàn ý không chặt chẽ, nhất quán, trình tự lộn xộn.
- Lỗi về dùng từ, đặt câu và chính tả (các lỗi về hình thức).
+ Lỗi về dùng từ : Dùng từ sai nghĩa hoặc dùng không đúng với sức thái
tình cảm của câu văn...
+ Lỗi về câu: Câu thiếu thành phần chính (chủ ngữ hay vị ngữ hoặc câu
thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ) nêu ý chưa trọn vẹn, câu rườm rà lủng củng.
Với tiết Tập làm văn, khi chữa những lỗi về hình thức cũng cần chú ý tới
phong cách khẩu ngữ của Tập làm văn nói, không đòi hỏi khắt khe như với bài
viết nhưng cần đạt yêu cầu tối thiểu về nội dung và hình thức.
Ngoài ra, trong bài văn nói còn có những lỗi phát âm cần tập trung chữa
các lỗi có tính chất phổ biến ở địa phương nơi trường đóng, đồng thời chữa các
lỗi có số ít học sinh mắc phải nhưng có tính trầm trọng.
Bên cạnh những lỗi trên cũng cần khắc phục những điểm sau : Đoạn văn
khô khan, thiếu hình ảnh, ít cảm xúc, công thức máy móc do thiếu tưởng tượng,
liên tưởng hồi ức...
Muốn cho giờ học đạt kết quả cao hơn thì bên cạnh nêu những lỗi về dàn
ý, giáo viên cần có dự kiến phân loại những lỗi thành từng nhóm tiêu biểu và
thiết kế những bài tập sửa lỗi cho từng nhóm.
4.5. Cách đánh giá bài Tập làm văn nói của học sinh :
Mỗi khi học sinh trình bày bài nói của mình, giáo viên cùng các em khác
trong lớp cần đưa ra những nhận xét và sự đánh giá, nhưng đánh giá nhận xét
thế nào để mang lại niềm vui thành công mà không phải sự bất công, nỗi khiếp
sinh mình có điều kiện đánh giá và nhận xét lẫn nhau nhưng không nên rạch ròi
cái sai của học sinh mà chỉ cần chỉ ra cái sai để sửa chữa và động viên những gì
đã đạt được. Muốn vậy giáo viên cần được nâng cao trình độ Tiếng Việt và Văn
học, làm cho mình tự tin, công bằng, chủ động khi đánh giá. Bằng sự am hiểu
tinh tế của mình, giáo viên phải làm cho cách đánh giá trở thành một biện pháp
kích thích hứng thú của học sinh, giáo viên cần có sự khéo léo, tế nhị trong sự
đánh giá và nhận xét. Cần kịp thời khen ngợi những ý kiến, những bài nói tốt
hay có tiến bộ. Những bài chưa đạt yêu cầu cũng không nên vội vàng chê bai
nặng nề khiến học sinh xấu hổ, mặc cảm. Hãy cho các em cơ hội để sửa chữa
những thiếu sót và dùng lời động viên, khuyến khích các em thấy tự tin hơn.
11
4.6. Giải pháp cho từng kiểu bài cụ thể :
Mỗi kiểu bài có những đặc trưng và yêu cầu riêng. Nhưng ở lớp 3, rèn kỹ
năng nói chủ yếu được thực hiện với những kiểu bài; kể miệng về người thân,
gia đình, trường lớp, quê hương, lễ hội, văn nghệ… kể chuyện,. Vì vậy tôi xin
đưa ra những giải pháp cho các kiểu bài này.
4.6.1. Văn kể
Văn kể có những đặc điểm sau :
+ Văn kể có tính sinh động và tạo hình.
+ Ngôn ngữ văn kể giàu cảm xúc và hình ảnh.
Khi làm bài văn kể về cảnh đẹp đát nước, kể về người hang xóm…cần
nắm được:
+ Quan sát kỹ để tìm ra những đặc điểm đặc trưng, nổi bật của đối tượng đó.
+ Miêu tả phải theo trình tự hợp lý. Ví dụ tả từ khái quát đến cụ thể, từ xa,
đến gần, từ trên xuống dưới... có phân biệt cái chính, cái phụ (đối tượng chính
cần kể cụ thể, đối tượng phụ chỉ kể khái quát.
Từ những đặc điểm và yêu cầu đó, tôi đã tiến hành nghiên cứu thực
nghiệm và đưa ra một số phương pháp rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 3 khi
Phiếu hoặc vở bài tập phải đảm bảo làm sao cho mỗi chi tiết học sinh có
thể đáp án một vài từ ngữ, hình ảnh, khi làm văn miệng học sinh sẽ chọn được
một phương án tốt nhất cho bài văn của mình dựa trên nhận xét, góp ý của các
bạn và của cô giáo, đồng thời học được những ý kiến hay của người khác.
c) Thảo luận nhóm :
Thảo luận nhóm là hình thức tổ chức học sinh trao đổi với nhau theo
nhóm nhỏ về một vấn đề nào đó và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình để giải
quyết vấn đề nêu ra.
Mỗi nhóm sẽ tiến hành thảo luận để tìm ra những từ ngữ hình ành, cách
diễn đạt cho nội dung của mình.
Sau đó cả lớp hoạt động tập trung, đến nội dung nào thì nhóm đó phát
biểu ý kiến tổng hợp của nhóm, các nhóm khác cũng có thể bổ sung sửa chữa nếu
cần.
4.6.2. Văn kể chuyện :
Văn kể chuyện lớp 3 có những yêu cầu sau :
13
- Phải có cốt truyện đan kết các sự việc thành cốt truyện hợp lý.
- Kể lại được những diễn biến, sự việc chính, những chi tiết lý thú, hấp
dẫn, miêu tả sinh động từ đó làm toát lên ý nghĩa của truyện hoặc câu chuyện.
- Kể được trình tự diễn biến của truyện hay câu chuyện bằng lời kể của
mình. Khi kể, cần biểu lộ thái độ, cảm xúc...
a) Xây dựng ngôi kể :
Ngôi kể gắn liền với điểm nhìn của câu chuyện. Học sinh có thể kể theo
ngôi thứ ba - người dẫn chuyện, hoặc nhập vai vào một trong các nhân vật để kể
lại chuyện. Phải đảm bảo sự nhất quán của ngôi kể từ đấu đến cuối câu truyện.
Phải chọn vai nào để kể trong truyện sao cho sinh động, hấp dẫn.
b) Xây dựng trình tự kể :
Muốn kể hay thì trước hết phải có chuyện. Để có chuyện kể giáo viên
sinh chuẩn bị và nói tốt hơn.
*. Tham quan :
Nhiều khi học sinh làm một bài làm văn cảm thấy bí, thấy khó, không biết
nói gì, hoặc có khi nói không đúng, không chính xác. Nguyên nhân quan trọng
vì các em thiếu vốn hiểu biết thực tế về đối tượng, thiếu nguyên liệu để xây
dựng lên bài văn. Học sinh không thể tả cảnh sinh hoạt, hội chợ khi chưa được
đi thăm quan nó... Giáo viên cần tổ chức cho học sinh tiếp xúc với cảnh, vật,
người thực, việc thực... như: đi thăm quan danh lam thắng cảnh, thăm các bà mẹ
anh hùng... Những hoạt động ấy rất có tác dụng đối với việc rèn kỹ năng nói đối
với học sinh.
Những năm học qua trường tôi đều tổ chức cho các em đi học ngoại khoá
như Đền thờ Chu Văn An, Đền thờ Nguyễn Trãi.
Khi đưa học sinh đến tham quan, giáo viên cần hướng dẫn :
- Cách quan sát, ghi nhớ cảnh vật, con người xung quanh.
- Ghi chép lại nội dung cần quan sát được.
- Sau khi tham quan nên tổ chức cho học sinh thảo luận, báo cáo kết quả.
5. Kết quả đạt được.
Với sáng kiến “Rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 3 ”, tôi mong muốn góp
sức vào việc nâng cao chất lượng bài văn nói của học sinh. Từ việc nghiên cứu
nguyên nhân đến tìm hiểu thực trạng của việc dạy học Tập làm văn miệng với
15
những thuận lợi và khó khăn hiện nay. Tôi cũng đã mạnh dạn đề xuất và kiến
nghị một số giải pháp góp phần rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh, đồng thời
cũng tiến hành dạy thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của những giải pháp đó.
Trên cơ sở kết quả thực nghiệm cũng như theo đánh giá của những giáo
viên đã qua kinh nghiệm giảng dạy, tôi tin rằng việc áp dụng những giải pháp đề
ra sẽ có tác dụng tích cực đối với việc rèn kỹ năng nói cho học sinh. Để đạt
được chất lượng văn nói tốt, tôi tin rằng cần phải có một quá trình lâu dài, liên
dạn, tự tin khi giao tiếp.Vì vậy khi dạy tiết Tập làm văn ở tiểu học giáo viên
phải biết lựa chọn và phối hợp linh hoạt các phương pháp giúp học sinh tiếp thu
bài một cách nhẹ nhàng, tự giác, tích cực . Gây hứng thú cho các em tập trung
vào việc học.
2. Khuyến nghị
* Đối với nhà trường:- Tổ chức chuyên đề áp dụng một số sáng kiến đạt
cấp thị xã cho giáo viên học hỏi.
* Đối với phòng giáo dục: - Tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn chuyên
đề để giáo viên có thêm kinh nghiệm giảng dạy.
* Trên đây là một số sáng kiến nhỏ của cá nhân tôi trong quá trình giảng
dạy. Trong quá trình viết không tránh khỏi sai sót, rất mong sự góp ý của hội
đồng khoa học các cấp để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn.
17
Giáo án minh hoạ.
- Qua quá trình thực tế giảng dạy, nghiên cứu tài liệu tôi xin đề xuất
phương án khi dạy tiết Tập làm văn theo hướng tích cực hoá hoạt động của học
sinh.
Kể về lễ hội - Tuần 25
I- Mục tiêu:
- Rèn kỹ năng nói: Quan sát ảnh minh họa hai lễ hội ( chơi đu và đua
thuyền ) hình dung và kể lại một cách tự nhiên, sinh động quang cảnh và hoạt
động của những người tham gia lễ hội.
- HS trình bày một cách mạnh dạn, tự tin.
- HS yêu thích môn học. Giáo dục HS ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc, bảo vệ môi trường.
II. Các kĩ năng sống cơ bản được giáo dục trong bài.
- Tư duy sáng tạo.
- Giờ tập làm văn này các em sẽ nhiệm vụ của giờ học
dựa vào 2 bức ảnh để tả lại quang
cảnh và hoạt động của những người
tham gia lễ hội.
2.2. Hướng dẫn HS làm bài tập
a) Hướng dẫn tả quang cảnh của
bức ảnh chơi đu
- GV gọi 1 HS đọc yêu cầu bài tập.
- 1 HS đọc cả lớp theo dõi trong SGK
- GV yêu cầu HS quan sát ảnh sau đó - 2 HS lần lượt đọc trước lớp, cả lớp
đặt câu hỏi gợi ý cho HS quan sát và theo dõi bài trong SGK
tả:
- HS trả lời câu hỏi.
- Quan sát mái đình, cây đu và - Đây là cảnh chơi đu ở làng quê, trò
trả lời đây là cảnh gì? Diễn ra ở đâu? chơi được tổ chức trước sân đình vào
Vào thời gian nào?
dịp đầu xuân năm mới.
- Trước cổng đình có treo gì? Có - Trước cổng đình là băng chữ đỏ Chúc
băng chữ gì?
mừng năm mới và lá cờ ngũ sắc.
*GV : Lá cờ ngũ sắc hình
vuông, có 5 màu, xung quanh cờ có
ngả về phía sau.
- Yêu cầu 2 HS ngồi cạnh dựa vào gợi - 2 HS ngồi cạnh nhau nói cho nhau
ý nói cho nhau nghe.
nghe.
- HS nói cho nhau nghe.
- Gọi 3 đến 5 HS nói trước lớp,
nhận xét và chỉnh sửa cho bài của HS.
* GV
khen ngợi, động viên,
khích lệ HS nói rõ ràng, tự tin.
b) Hướng dẫn tả quang cảnh
của bức ảnh đua thuyền.
- Ảnh chụp cảnh hội gì? Diễn ra - Ảnh chụp cảnh hội đua thuyền diễn ra
ở đâu?
trên sông.
- Trên sông có nhiều thuyền đua - Trên sông có hơn chục thuyền đua,
không? Thuyền ngắn hay dài? Trên các thuyền được làm khá dài, mỗi
mỗi thuyền có khoảng bao nhiêu thuyền có gần hai chục tay đua, họ là
người? Trông họ như thế nào?
những chành trai rất trẻ, khỏe mạnh,
rắn rỏi.
Chu Văn An.
- Em phải làm gì để giữ gìn bản sắc - HS trình bày.
văn hóa dân tộc?
2.3. Củng cố dặn dò.
- Nhận xét tiết học tuyên dương những HS tích cực tham gia xây dựng
bài, nhắc nhở những HS chưa chú ý học bài.
- Liên hệ: Biết bảo vệ môi trường khi tham gia lễ hội ở địa phương. Giáo
dục HS ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
- Dặn dò HS về nhà chuẩn bị bài sau.
21
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: Phần mở đầu
Thông tin chung về sáng kiến
Tóm tắt sáng kiến
Mô tả sáng kiến
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
2. Cơ sở lý luận của vấn đề
3. Thực trạng của vấn đề
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện
Kết quả đạt được
Kết luận và khuyến nghị
1. Kết luận chung
2. Khuyến nghị
Giáo án minh họa
Mục lục