SKKN Rèn kỹ năng đọc cho HS lớp 1 - Pdf 27

PHềNG GD- T HUYệN ĐạI Từ
TRNG TIU HC TH TRN QUÂN CHU


SNG KIN KINH NGHIM
MT S BIN PHP LUYN C NG
CHO
HC SINH LP 1 TRONG CC TIT TP
C
HOàNG THị TƯởNG

Quân Chu
Tháng 4 nm 2010.
TÊN ĐỀ TÀI: "MỘT SỐ BIỆN PHÁP LUYỆN ĐỌC ĐÚNG CHO
HỌC SINH LỚP 1 TRONG CÁC TIẾT TẬP ĐỌC"
Mở đầu
  
I-/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ, là sự nhận thức về thế giới cuộc
sống con người và xã hội. Tác phẩm văn học dùng phương tiện ngôn từ để sáng
tạo nên những hình tượng về cuộc sống con người, quê hương, xử sở và đem lại
cho người đọc những rung cảm thực sự trong sáng. Trong nhà trường tiểu học ở Việt
Nam đã coi Tiếng Việt là một môn học trung tâm, làm nền móng các môn học khác.
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng đó là
hình thành 4 kỹ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho học sinh. Tập đọc là một phân
môn của chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học. Đây là phân môn có vị trí đặc
biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng
đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc tiểu học đầu tiên. Kỹ
năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý
thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu)
và đọc diễn cảm. Khi học sinh đọc tốt, viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các

sinh lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các cách tư duy có hình ảnh.
Đặc điểm của dạy tập đọc lớp 1 chính là ở chỗ :đây là bước chuyển tiếp
từ dạy “học vần” sang dạy “tập đọc” (ở lớp 2). Giờ tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả
phương pháp học vần, cả phương pháp tập đọc. Yêu cầu của giờ tập đọc lớp 1 là
củng cố hệ thống âm vần đã đọc (nhất là các vần khó) đọc đúng tiếng, liền tiếng
trong từ, trong câu, đoạn, bài. Bước đầu biết cách ngắt hơi ở các dấu câu, biết
lên giọng và hạ giọng. Để làm tốt được những nhiệm vụ nêu trên, đề tài của tôi
mục đích đưa ra một số biện pháp để giúp học sinh đọc thông được văn bản và
đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đúng nói riêng nhằm nâng cao chất
lượng của 1 giờ dạy tập đọc ở lớp 1.
III-/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là thực trạng dạy đọc của lớp 1 ở trường tiểu học
hiện nay nói chung và HS ở trường Tiểu học Thị trấn qu©n chu nói riêng.
IV-/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau :
- Phương pháp thu nhận tài liệu;
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế;
- Dạy thực nghiệm;
- Trao đổi, toạ đàm với đồng nghiệp.
- 3 -

Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
I-/ VỊ TRÍ, NHIỆM VỤ CỦA DẠY ĐỌC Ở TIỂU HỌC
1. Vị trí của dạy đọc ở tiểu học
a. Khái niệm đọc:
Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực
hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện
bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết

học. Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Đọc giúp trẻ em
chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ
để học tập các môn học khác. Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Nó tạo
điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là một
khả năng không thể thiếu được của con người văn minh.
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ
cũng như tư duy của người đọc, việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi
dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một
cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh. Như vậy đọc có một ý nghĩa to lớn
còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
2. Nhiệm vụ của dạy đọc ở tiểu học
Những điều vừa nêu trên khẳng định sự cần thiết của việc hình thành và
phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh. Tập
đọc với tư cách là một phân môn của Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng
yêu cầu này – hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh.
Phân môn học vần cũng thực hiện nhiệm vụ dạy đọc nhưng mới dạy đọc
ở mức độ sơ bộ nhằm giúp học sinh sử dụng bộ mã chữ âm. Việc thông hiểu văn
bản chỉ đặt ra ở mức độ thấp và chưa có hình thức chuyển thẳng từ chữ sang
nghĩa (đọc thầm). Như vậy, tập đọc với tư cách là một phân môn tiếng Việt tiếp
tục những thành tựu dạy học mà học cần đạt được, nâng lên một mức đầy đủ
hoàn chỉnh hơn.
Tập đọc là một phân môn thực hành nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ
năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc
lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình
đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này được hình thành
trong 2 hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng
thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ có tác
động tích cực đến những kỹ năng khác. Ví dụ, đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh
cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản. Ngược lại, nếu không hiểu

ngày những yếu tố này càng gần nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn.
Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp
giữa những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân tích biết người
mới biết đọc và người đọc thành thạo. Càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao
nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác, càng biểu cảm bấy nhiêu.
- Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ "đọc" được sử dụng trong nhiều
nghĩa : theo nghĩa hẹp, việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc
(tức là việc chuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh), theo nghĩa rộng,
- 6 -

đọc được hiểu là kỹ thuật đọc của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài). ý nghĩa
hai mặt của thuật ngữ đọc được ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phương
pháp dạy học. Từ đây chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai - đọc được xem
như là một hoạt động lời nói trong đó có các thành tố:
1. Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ
2. Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ
theo từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc thành từng tiếng tuỳ thuộc vào trình độ
nắm kỹ thuật đọc.
3. Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, câu, bài) kỹ năng đọc là
một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện lâu dài. chia việc hình thành
kỹ năng này ra làm 3 giai đoạn : phân tích tổng hợp (còn gọi là giai đoạn phát
sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai đoạn tự động
hoá. Giai đoạn dạy học vần là sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếng theo
các âm. Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả từ trọn vẹn, trong đó có sự tiếp
nhận từ bằng thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa. Tiếp
theo sự thông hiểu ý nghĩa của "từ" trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm,
tức là đọc được thực hiện trong sự đoán các nghĩa. Bước sang lớp 2, lớp 3 học
sinh bắt đầu đọc tổng hợp. Trong những năm học cuối cấp, đọc càng ngày càng
tự động hoá, nghĩa là người đọc ngày càng ít quan tâm đến chính quá trình đọc
mà chú ý nhiều đến việc chiếm lĩnh văn hoá (bài khoá), nội dung của sự kiện,

chính âm.
b. Vấn đề ngữ điệu của Tiếng Việt
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên
cao hay hạ thấp giọng đọc, giọng nói. Ngữ điệu là một trong những thành phần
của ngôn điệu. Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạo
thành lời nói.
Mỗi ngôn ngữ có một ngữ điệu riêng. Ngữ điệu tiếng Việt, như các ngôn
ngữ có thanh điệu khác, chủ yếu được biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng
(cao độ), sự nhấn giọng (cường độ), sự ngừng giọng (trường độ) và sự chuyển
giọng (phối hợp cả trường độ và cường độ).
Ngữ điệu là một hiện tượng phức tạp có thể tách ra thành các yếu tố cơ
bản có quan hệ với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng) trọng âm, âm
điệu, âm nhịp và âm sắc. Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy học sinh biết làm chủ
những yếu tố này.
c. Cơ sở lý thuyết cơ bản, phong cách học và văn học của dạy
đọc
Việc dạy đọc không thể dựa trên lý thuyết về văn bản những tiêu chuẩn
để phân tích, đánh giá một văn bản (ở đây muốn nói đến những bài đọc ở tiểu
học) nói chung cũng như lý thuyết để phân tích, đánh giá các tác phẩm văn
chương nói riêng. Việc hình thành kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm và đọc hiểu
cho học sinh phải dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá một văn bản tốt: tính
chính xác, tính đúng đắn và tính thẩm mỹ, dựa trên những đặc điểm vè các kiểu
ngôn ngữ, các phong cách chức năng, các thể loại văn bản, các đặc điểm về loại
thể của tác phẩm văn chương dùng làm ngữ liệu đọc ở tiểu học. Ví dụ, cách đọc
- 8 -
và khai thác để hiểu nội dung một bài thơ, một đoạn tả cảnh, một câu tục ngữ,
một truyền thuyết, một bài sử, một bài có tính chất khoa học thưởng thức… là

khác nhau. Việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc cũng phải dựa
trên những hiểu biết về đề tài, chủ đề, kết cấu nhân vật, quan hệ giữa nội dung

hai tay.Giáo viên làm mẫu, đây là đối tượng HS vùng nông thôn , GV cần nắm
bắt sự khéo léo , tâm lý của HS, giúp HS mạnh dạn, tự tin trong lúc đọc.
2. Luyện đọc đúng
- 9 -
a. Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác,
không có lỗi. Đọc đúng là đọc không thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc
đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là
không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao gồm việc đọc
đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu).
b. Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị
tiếng Việt.Với HS ở Thị Trấn Cửa Việt cần rèn đọc đúng các yếu tố sau:
- Đọc đúng các phụ âm đầu: Ví dụ: có ý thức phân biệt để không đọc:
“dảy dây”, “khoẻ khắn” mà phải đọc là “nhảy dây” ,“khỏe khoắn”, chú ý phân
biệt giữa âm d và âm nh., âm x và âm s như : “chim sẻ” thành “chim xẻ”.v.v…
- Đọc đúng các âm chính: Ví dụ: có ý thức phân biệt để không đọc “iu
tin, quả lịu” mà phải đọc “ưu tiên, quả lựu”.
- Đọc đúng các âm cuối: Ví dụ: có ý thức không đọc: “luông luông” mà
phải đọc “luôn luôn”.
- Đọc đúng bao gồm cả đọc tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điều câu. Ngữ
điệu là hiện tượng phức tạp, có thể tách ra thành các yếu tố cơ bản có quan hệ
với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng), trọng âm, âm điệu, âm nhịp
và âm sắc. Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy cho học sinh làm chủ những yếu tố này.
Đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đúng nói riêng vừa là mục đích của dạy
đọc thành tiếng, vừa là phương tiện giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung bài đọc.
Khi dạy đọc đúng giáo viên cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ
pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc không được tách một từ ra
làm hai. Ví dụ không ngắt hơi.
“Con/ cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành/ mềm lộn/ cổ xuống ao”
- Ông già bẻ gãy từng chiếc đũa một / cách dễ dàng. Không tách giới từ

điều chỉnh tốc độ. Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có số tiếng
cho trước và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định tốc như thế nào còn phụ
thuộc vào độ khó của bài đọc.
IV-/ MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC Ở LỚP 1
- Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có tác dụng hình thành phát triển
ngôn ngữ cho học sinh. Tiếng Việt gồm nhiều phân môn: Tập đọc, từ ngữ, ngữ
pháp, chính tả, tập làm văn. Phân môn tập đọc có vị trí quan trọng. Dạy tốt phân
môn này đáp ứng một trong 4 kỹ năng sử dụng tiếng Việt. Kỹ năng đọc nhanh,
chính xác, rõ ràng, rành mạch và diễn cảm nhờ đó học sinh có những hiểu biết
văn học ngôn ngữ và ngược lại. Vì vậy đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là
quá trình có liên quan mật thiết với nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh
được những tri thức văn hoá của dân tộc và cũng từ đó giáo dục tình cảm đạo
đức cao đẹp cho học sinh, đồng thời phát huy tính sáng tạo, khả năng tư duy cho
các em.
Đối với học sinh lớp 1, các em bắt đầu chuyển từ giai đoạn học vần sang
tập đọc vì vậy giờ tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả phương pháp học vần, cả phương
pháp tập đọc. Yêu cầu của giờ tập đọc lớp 1 là củng cố hệ thống âm vần đã học
(nhất là các vần khó), đọc đúng và trơn tiếng, đọc liền từ, đọc cụm từ và câu: tập
- 11 -
ngắt nghỉ (hơi) đúng chỗ trong câu. Hiểu các từ thông thường, hiểu được ý diễn
đạt đã đọc (độ dài câu khoảng 10 tiếng). Bên cạnh nhiệm vụ ôn vần cũ, học vần
mới học sinh còn được phát triển vốn từ, tập nói câu đơn giản.
V-/ VÀI NÉT VỀ PHÂN MÔN TẬP ĐỌC Ở LỚP 1
- Cấu trúc chung: Phân môn tập đọc gồm 42 bài được bắt đầu từ tuần 5 của
học kỳ II (có 14 tuần dạy tập đọc, mỗi tuần có 3 bài, mỗi bài dạy trong 2 tiết).
- Nội dung: Các bài tập đọc xoay quanh 3 chủ đề: Nhà trường, gia đình,
thiên nhiên đất nước.
- Bài tập đọc lớp 1 gồm có các phần:
+ Văn bản đọc
+ Những từ khó cần lưu ý

tích cực tự học, tự rèn luyện để nâng cao trình độ năng lực. Nếu phối hợp các
yếu tố trên sẽ giúp học sinh đọc đúng, diễn cảm tốt. Từ đó thể hiện được nội
dung của bài học, thấy được cái hay, cái đẹp của cuộc sống qua từng bài học.
- Bên cạnh các yếu tố trên trong giảng dạy phân môn tập đọc giáo viên
còn phải chú ý đến một số nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc phát triển lời nói (nguyên tắc thực hành). Chúng ta ai cũng
biết trẻ em không thể lĩnh hội được lời nói nếu chúng không nắm được lời
miệng. Do vậy khi giảng dạy cần phải bảo đảm nguyên tắc này. Điều này được
thể hiện rõ hơn ở phần luyện đọc, ở phần này học sinh được rèn luyện về cách
phát âm, cách nghĩ hơi đúng chỗ, cách đọc đúng ngữ điệu.
+ Để giờ tập đọc đạt kết quả cao thì phải bảo đảm nguyên tắc phát triển tư
duy, phát huy tính tích cực, chủ đạo của học sinh. Do vậy phần luyện đọc giáo
viên cần gọi mở, hướng dẫn học sinh tự phát hiện những chỗ cần ngắt giọng hạ, hạ
giọng ở những câu thơ, những câu văn trong bài từ đó tìm ra cách đọc hay hơn.
Như vậy để học sinh đọc tốt môn tập đọc đặc biệt là vấn đề rèn đọc đúng
cho học sinh lớp 1 chúng ta cần đảm bảo tốt các phương pháp và nguyên tắc
trên.
- 13 -
Chương II
THỰC TRẠNG DẠY HỌC
Qua nhiều năm giảng dạy ở trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt và trao
đổi với đồng nghiệp tôi đã có những nhận xét chung về thực trạng dạy học như
sau:
I-/ TÌNH HÌNH GIẢNG DẠY CỦA GIÁO VIÊN
1. Quan điểm của giáo viên về giờ tập đọc
Nhìn chung giáo viên tiểu học đều rất coi trọng giờ tập đọc. Giáo viên ở
các lớp đầu cấp cho rằng phần luyện đọc từ, đọc câu là quan trọng hơn còn ở các
lớp cuối cấp thì cho rằng phần luyện đọc và phần tìm hiểu bài quan trong như
nhau. Nhưng nhìn chung 70% giáo viên khẳng định việc luyện đọc quan trọng
hơn còn về thời gian phân bố trong giờ luyện đọc thì 80% số giáo viên cho rằng

mẫu sau đó học sinh đọc theo cô. Khi cá nhân học sinh đọc các em khác nghe và
nhận xét bạn.
* Luyện đọc đoạn
Giáo viên nêu bài đọc chia thành……đoạn… sau đó cho học sinh đọc
nối tiếp đoạn cho đến hết bài.
* Luyện đọc cả bài:
Cá nhân học sinh đọc → các em khác nhận xét
3. Ôn vần:
- Dựa vào các câu hỏi và bài tập của SGK.
+ Tìm tiếng có chứa vần cần ôn
+ Nói câu chứa tiếng có vần cần ôn
4. Củng cố: Ghép từ thành câu
Tiết 2
5. Tìm hiểu bài và luyện nói
a. Tìm hiểu bài
- Học sinh đọc trong SGK
+ Cá nhân học sinh đọc từng đoạn và giáo viên nêu câu hỏi ứng với nội
dung của từng đoạn để học sinh trả lời.
+ Giáo viên giảng giải thêm về nội dung, kết hợp giải nghĩa từ.
b. Luyện đọc (mức độ đọc hay)
- Giáo viên nêu cách đọc hay: giọng đọc, nhấn giọng, ngắt giọng
- Giáo viên đọc mẫu lần 2
- 15 -
- Học sinh đọc (cá nhân → đồng thanh)
c. Luyện nói
- Học sinh nhìn vào tranh hoặc ảnh của SGK để luyện nói về những chủ
đề mà bài đọc yêu cầu.
6. Củng cố – dặn dò
Dặn dò học sinh đọc lại bài nhiều lần và chuẩn bị bài sau
Sau một thời gian tiến hành tìm hiểu điều tra thực trạng, tôi rút ra một số

diễn cảm. Giáo viên yêu cầu lớp ổn định trật tự tạo cho học sinh tâm lý nghe
đọc, hứng thú nghe đọc và yêu cầu học sinh đọc thầm theo. Khi đọc giáo viên
đứng ở vị trí bao quát lớp, không đi lại, cầm sách mở rộng, thỉnh thoảng mắt
phải dừng sách nhìn lên học sinh nhưng không để bài đọc bị gián đoạn.
- Đối với học sinh lớp 1 giai đoạn đầu (khoảng 2 → 3 bài đầu) giáo viên
chép bài đọc lên bảng rồi học sinh theo dõi cô đọc ở trên bảng, nhưng ở giai
đoạn sau giáo viên nêu yêu cầu học sinh theo dõi bài ở sách giáo khoa để tạo
cho các em có thói quen làm việc với sách.
2. Hướng dẫn đọc
Sách giáo khoa tập đọc lớp 1 chủ yếu có 2 dạng bài:
- Dạng thơ, chủ yếu là thể thơ 4 – 5 tiếng
- Dạng văn xuôi
Cụ thể là trong 42 bài đọc thì có:
- 23 bài dạng văn xuôi
- 19 bài dạng thơ
Việc hướng dẫn đọc đúng được thể hiện trong tiết 1
a. Luyện đọc từ ngữ
Đối với lớp 1 dù ở bất kỳ dạng bài nào văn xuôi hay thơ thì trước khi
luyện đọc đúng toàn bài bao giờ học sinh cũng được ôn luyện âm vần. Trong
- 17 -
phần này các em ôn luyện vần trên cơ sở luyện đọc những từ khó, hay nhầm lẫn
thêm những từ ngữ khác mà học sinh trong lớp mình hay nhầm lẫn hoặc phát âm
sai để cho các em luyện đọc. Trong thực tế, hàng ngày lên lớp tôi vẫn thực hiện
điều này.
Thí dụ: Bài “Hoa Ngọc Lan”
Sách giáo khoa chỉ yêu cầu luyện đọc các từ sau
“ Hoa lan, lá dày, lấp ló”
Khi dạy, dựa vào tình hình đọc của lớp ngoài những từ trên tôi đã tìm
thêm một số từ ngữ khác cần luyện đọc đúng đó là các từ ngữ: “xanh thẫm, nụ
hoa, cánh xoè ra duyên dáng, ngan ngát, toả khắp vườn, khắp nhà…” Sở dĩ tôi đã

….o… ắng , …o…ê , ….í….ẽ , ….áo…ức
+ Bài tập 2: Điền r, d, gi
… ộn….ã , … ập ….ờn , tháng… iêng
+ Bài tập 3: Điền s, x
…ản …uất , …anh….anh , …o….ánh
…ung phong , ….ừng…ững
+ Bài tập 4: Điền vần ăc, ắt hay ăp
m… trời , m… áo , đôi m……
kh……… nơi , th……. nến
+ Bài tập 5: Điền vần anh hay ăn
ch … len , c…… đẹp , c…… nhà
m…. khoẻ , bức tr…….
.v v và còn nhiều bài tập khác dạng như trên. Sau khi học sinh điền xong
giáo viên phải yêu cầu và kiểm tra các emđọc. Nếu các em đọc sai giáo viên
phải kịp thời uốn nắn ngay. Phần luyện đọc từ nếu giáo viên làm tốt, hướng dẫn
học sinh đọc kỹ sẽ giúp cho các em đọc trơn bài đọc tốt hơn.
b. Đọc đúng: dạng thơ
Thơ là tiếng nói của tình cảm, là sự phản ánh con người và thời đại một
cách cao đẹp, thơ rất giàu chất trữ tình. Vì vậy khi đọc thơ cần thể hiện được
tình cảm của tác giả gửi gắm trong từ, từng dòng thơ, nhịp thơ để truyền cảm
xúc đến người nghe. Vì vậy đọc thơ phải đọc đúng dòng thơ, vần thơ, thể thơ để
thể hiện sắc thái, tình cảm. Khi dạy bài tập đọc là thơ thì một công việc không
thể thiếu được đối với giáo viên và học sinh đó là ngắt nhịp câu thơ. Thực tế cho
thấy học sinh mắc lỗi ngắt nhịp là do không tính đến nghĩa chỉ đọc theo áp lực
của nhạc thơ. Học sinh tìm được trong bài có những dấu câu thì ngắt nhịp ra sao.
Do vậy khi dạy những bài đọc thơ ở giai đoạn đầu tôi thường chép lên bảng các
câu thơ cần chú ý ngắt giọng rồi hướng dẫn
- 19 -
Thí dụ: Bài “Tặng Cháu”
Vở này / ta tặng cháu yêu ta

Buồi chiều / bé chào cô
Rồi / sà vào lòng mẹ
Mặt trời mọc / rồi lặn
Trên đôi chân / lon ton
Hai chân trời / của con
Là mẹ / và cô giáo
Thí dụ 2: Bài “Kể cho bé nghe”
Khi đọc học sinh thường ngắt mỗi dòng thơ một lần là do thói quen
nhưng tôi đã sửa lại và hướng dẫn cho các em cách đọc vắt dòng: cuối dòng 1
đọc vắt luôn sang dòng 2, cuối dùng 3 đọc vắt luôn sang dòng 4. Cứ như thế cho
đến hết bài.
Bên cạnh việc rèn đọc đúng trong các giờ tập đọc ở trên lớp thì trong các
tiết tăng cường tiếng Việt tôi cũng thường đưa ra những câu thơ hoặc bài thơ
ngắn để giúp học sinh luyện đọc và ngắt giọng, cũng có thể đó là những câu ứng
dụng hay bài ứng dụng đã có ở phần học vần.
Thí dụ:
“Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô”
Hay
“Tiếng dừa làm dịu nắng trưa
Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo
Trời trong đầy tiếng rì rào
Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra”
c. Đọc đúng: dạng văn xuôi
Tương tự như ở thơ, giáo viên cần chú trong rèn cho các em biết ngắt,
nghỉ hơi cho đúng. Cần phải dựa vào nghĩa và các dấu câu để ngắt hơi cho đúng.
Khi đọc không được tách một từ ra làm hai, tức là không ngắt hơi trong một từ.
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu, nghĩ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở
dấu chấm. Đối với những câu văn dài cần hướng dẫn học sinh ngắt hơi cho phù

Con làm sao thế ? Đứt khi nào thế ? (đọc lên giọng cuối câu)
Những câu trả lời của cậu bé.
Con bị đứt tay. Lúc nãy ạ ! Vì bây giờ mẹ mới về (đọc xuống giọng ở cuối câu)
Cũng như thơ, sau khi sửa xong lỗi ngắt giọng cho học sinh, giáo viên
phải gọi nhiều em đọc, các học sinh khác nghe và nhận xét bạn đọc.Việc luyện
đọc cho học sinh đọc đúng từ, câu sẽ giúp cho việc đọc đoạn, bài được trôi chảy,
- 22 -
lưu loát hơn và học sinh nắm chắc được cách đọc đúng văn bản được học mà
không phải tình trạng học vẹt.
Để tiết học nhẹ nhàng, không nhàm chán mà lại nhiều em được luyện đọc
thì giáo viên phải tổ chức đọc theo nhiều hình thức khác nhau như đọc cá nhân,
đọc theo nhóm, theo tổ hoặc đồng thanh. Những hình thức này còn giúp giáo
viên kiểm soát được khả năng đọc của toàn thể học sinh trong lớp.
- Luyện đọc diễn cảm sẽ được thể hiện trong tiết 2, trong phạm vi đề tài
này tôi chỉ đề cập đến vấn đề đọc đúng. Vì vậy mà cách hướng dẫn đọc diễn
cảm sẽ không được nêu lên trong đề tài.
d. Luyện đọc củng cố và nâng cao
Để giúp học sinh đọc bài một cách chắc chắn, giáo viên cần dành thời
gian để luyện đọc củng cố và nâng cao. Trong phần này giáo viên cho học sinh
luyện đọc cá nhân – giáo viên cần chú ý tới các em đọc yếu để em đó được tham
gia đọc – giáo viên cần động viên khích lệ kịp thời. Trong quá trình học sinh đọc
giáo viên quan tâm theo dõi, uốn nắn, sửa sai cho các em. Đối với những bài đọc
có lời đối thoại nên cho các em đọc theo lối phân vai. Đối với bài thơ cần cho
các em đọc nhiều. Một tiết học tập đọc chỉ có 35 – 40 phút vì vậy để đảm bảo
thời gian và chất lượng giờ học, học sinh phải đọc trước văn bản ở nhà. Giáo
viên cần có sự chuẩn bị chu đáo, phải đưa ra các tình huống có thể xảy ra khi
hướng dẫn học sinh đọc cho đúng, cho hay. Muốn vậy giáo viên phải luôn trau
dồi kiến thức, luôn thay đổi phương pháp dạy học cho phù hợp với sự phát triển
của xã hội. Trong giờ học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức để học sinh
tự tìm ra kiến thức.

đọc và trả lời câu hỏi
- 24 -
T.gian
dự kiến
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
Khổ thơ tả luỹ tre vào buổi nào? Em thích
hình ảnh nào trong khổ thơ này?
B. Bài mới
1. Giới thiệu bài :
2’
Giáo viên dùng lời:
Mùa hè thường có các trận mưa rất to
nhưng mau tạnh, gọi là mưa rào. Hôm nay
các em sẽ học một bài văn tả cảnh vật sau
một cơn mưa rào → Giáo viên ghi bảng tên
đầu bài.
2. Hướng dẫn luyện đọc
a. Giáo viên đọc mẫu
- Giọng chậm, đều, tươi vui
Học sinh theo dõi bài đọc ở
bảng
b. Hướng dẫn học sinh đọc
* Luyện đọc từ ngữ
Giáo viên gọi 1 học sinh giỏi đọc to những từ
ngữ mà SGK yêu cầu luyện đọc → cô ghi
bảng các từ đó: mưa rào, đoá râm bụt, xanh
bóng nhởn nhơ, sáng rực, mặt trời quây
quanh, vườn
5’
- Giáo viên gọi cá nhân học sinh đọc lần lượt


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status