SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho HS lớp Ba - Pdf 42

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết Tập đọc là phân môn đảm nhiệm việc hình thành và
phát triển cho học sinh kỹ năng đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh
ở cấp tiểu học, cấp học đầu tiên trong trường phổ thông. Đọc giúp học sinh chiếm
lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập, đây là một công cụ
giúp học sinh học tốt các môn học. Việc dạy Tập đọc sẽ giúp các em hiểu biết hơn,
bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một
cách lô gíc cũng như có hình ảnh về các sự vật có xung quanh cuộc sống của chúng
ta. Như vậy, dạy Tập đọc có một ý nghĩa to lớn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo
dưỡng, giáo dục tình cảm chuẩn mực đạo đức và phát triển trí tuệ, tư duy.
Qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy kỹ năng đọc của học sinh Tiểu học
nói chung đặc biệt là học sinh lớp Ba tôi chủ nhiệm chưa cao. Một số em đọc bài
chưa được trôi chảy, tốc độ đọc còn chậm, phát âm sai do phương ngữ, đọc sai
nhiều ở những tiếng có âm ch/tr; n/l; x/s; thanh hỏi/ thanh ngã. Đa số học sinh đọc
đúng văn bản nhưng chưa có sự đồng đều về âm lượng và chưa hiểu được nội dung
của câu văn, đoạn văn. Số em biết đọc diễn cảm một văn bản (thuộc văn bản nghệ
thuật) chưa nhiều, cách ngắt nghỉ giữa các từ, cụm từ, cách ngắt nhịp thơ, cách thể
hiện giọng đọc hay trong một bài văn, bài thơ còn hạn chế. Giáo viên chưa mạnh
dạn đổi mới phương pháp dạy học; hình thức tổ chức chưa được linh hoạt; sử dụng
đồ dùng dạy học hiệu quả chưa cao; đôi lúc còn rập khuôn, máy móc. Đây cũng là
một trong những nguyên nhân làm cho học sinh không chủ động, tích cực trong học
tập nên chưa nâng cao được chất lượng môn Tiếng Việt nói chung và kỹ năng đọc
nói riêng.
Là một giáo viên tôi luôn trăn trở, suy nghĩ: Làm thế nào để nâng cao kỹ năng
đọc cho học sinh giúp các em thuận lợi hơn trong quá trình học tập các môn học. Vì
vậy, tôi chọn đề tài “Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho HS lớp Ba”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
a) Mục tiêu
1



đúng, đọc trôi chảy mới cảm thụ được bài văn và đọc đúng sẽ hiểu tất cả các văn
bản khác. Những năng lực này không phải tự nhiên mà có. Giáo viên phải từng
bước hình thành cho các em trong thời gian học các lớp ở cấp Tiểu học. Tập đọc là
một phân môn thực hành, nhiệm vụ quan trọng nhất là hình thành năng lực đọc cho
học sinh từ 4 yêu cầu về chất lượng “đọc”: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu và đọc
diễn cảm. Phương pháp dạy tập đọc phải dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ học
như: chính âm, chính tả, ngữ điệu,… Để tổ chức dạy đọc cho học sinh chúng ta cần
hiểu rõ quá trình đọc, nắm được bản chất kỹ năng đọc. Đọc là một hoạt động trí tuệ
phức tạp mà cơ sở tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan
thị giác.
Theo Sách giáo viên Tiếng Việt 3 tập I, mục tiêu của môn Tiếng Việt ở bậc
Tiểu học và mục tiêu của phân môn tập đọc là:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe,
nói, đọc ,viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy;
cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ
giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước
ngoài. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa.
- Phân môn Tập đọc rèn cho học sinh các kỹ năng đọc (đọc thành tiếng, đọchiểu, nghe và nói). Bên cạnh đó thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và
những câu hỏi, những bài tập khai thác nội dung bài đọc, phân môn Tập đọc cung
cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn
từ, cách diễn đạt, những hiểu biết vế tác phẩm văn học và góp phần rèn luyện nhân
cách cho học sinh.
Mặt khác, tháng 2/1966 thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát động phong trào
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, trong đó việc đọc đúng, viết đúng tiếng Việt
rất được quan tâm. Người Việt phải nói và viết đúng tiếng nước nhà, cố gắng giữ
gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Đó không chỉ là biểu hiện của lòng tự trọng bản

đã tổ chức các chuyên đề nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

4


Đối với giáo viên: Có trách nhiệm với học sinh, giảng dạy nhiệt tình, chịu
khó học hỏi đồng nghiệp và tìm hiểu qua tài liệu để đúc rút kinh nghiệm cho bản
thân nhằm năng cao chất lượng giảng dạy. Tuy nhiên khi chuẩn bị bài vẫn còn phụ
thuộc vào sách giáo viên, sách thiết kế nên bài dạy còn đơn điệu chưa được phù
hợp với từng đối tượng học sinh. Việc chọn từ và giải nghĩa từ vẫn còn rập khuôn
(bám sát từ ở phần chú giải trong sách giáo khoa); chưa phân biệt lựa chọn từ mới
để cung cấp cho nội dung bài. Giáo viên chưa chú ý nhiều đến học sinh có khả
năng tiếp thu chậm vì sẽ mất thời gian. Ngoài ra, giáo viên chưa linh động, sáng tạo
nhiều trong phương pháp giảng dạy và thiết kế bài dạy, chưa khai thác hết ý đồ của
sách giáo khoa.
Đối với học sinh:
Một số em có ý thức học tập, chăm chỉ học bài ở lớp cũng như ở nhà. Trong
giờ học tích cực xây dựng bài, đọc bài tốt, biết tìm hiểu nội dung bài đọc. Bên cạnh
đó còn nhiều em chưa có sự chuẩn bị bài chu đáo trước khi đến lớp, ít đọc sách,
không chịu đọc sách. Nếu có đọc thì các em cũng chưa biết cách đọc, chỉ đọc một
cách qua loa, đại khái, đọc cho có đọc, lười tìm hiểu. Một số em đọc rất chậm, còn
đánh vần, chưa ý thức được thói quen tập trung chú ý khi đọc thầm. Phát âm chưa
chuẩn, chưa biết cách ngắt nghỉ hơi khi đọc, quen đọc theo tiếng địa phương như:
+ Đọc chưa đúng phụ âm đầu: ch/tr; d/r/gi; l/n; v/d; …..
Ví dụ: “che chẻ” (tre trẻ) ; “đi nàm” (đi làm)
+ Đọc chưa đúng vần: ăn/ăng;.......
Ví dụ : “thằng lằng” (thằn lằn)
+ Đọc chưa đúng thanh hỏi, thanh ngã:
Ví dụ: “trôi nỗi” (trôi nổi)
“kiên nhẩn” (kiên nhẫn)….

hiểu, cách ngắt, nghỉ hơi ở một số cụm từ, câu văn dài, đoạn văn… Ngoài việc rèn
đọc đúng, chính xác, giáo viên cần hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ hợp lý và thể hiện
giọng đọc đúng nội dung với một số câu tiêu biểu.
Ví dụ: Dạy bài: “Cậu bé thông minh”; Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 Tập I,
Trang 4, ta cần chuẩn bị cụ thể:
6


- Tranh Cậu bé thông minh, trong bộ đồ dùng dạy học môn Tiếng việt lớp 3,
tập I.
- Sách Tiếng Việt lớp 3, tập I; Sách giáo viên Tiếng việt lớp 3, tập I; Sách
thiết kế bài giảng Tiếng Việt lớp 3, tập I.
- Bảng phụ ghi câu, đoạn khó đọc:
+ Ngày xưa,/ có một ông vua muốn tìm người tài ra giúp nước.// Vua hạ lệnh
cho mỗi làng trong vùng nọ/ nộp một con gà trống biết đẻ trứng, / nếu không có thì
cả làng phải chịu tội. //
+ Cậu bé kia, / sao dám đến đây làm ầm ĩ ?//
+ Thằng bé này láo, / dám đùa với trẫm! // Bố ngươi là đàn ông thì đẻ sao
được? //
+ Muôn tâu, /vậy sao Đức vua lại hạ lệnh cho làng con / phải nộp gà trống
biết đẻ trứng ạ?// .
b.2. Dạy theo đối tượng học sinh qua các tiết Tập đọc
Như chúng ta đã biết dạy học phân hóa là dạy theo từng loại đối tượng, phù
hợp với tâm sinh lý, khả năng, nhu cầu và hứng thú của người học nhằm phát triển
tối đa tiềm năng riêng vốn có. Đặc điểm của dạy học phân hóa là phát hiện và bù
đắp lỗ hổng kiến thức, tạo động lực thúc đẩy học tập cho các em. Để nâng cao kỹ
năng đọc cho từng đối tượng học sinh cần thực hiện các bước sau:
b.2.1. Đối với học sinh đọc chậm, phát âm chưa đúng
Giáo viên hướng dẫn luyện đọc theo một số hình thức sau:
- Luyện đọc từng tiếng, từng từ, từng câu, từng đoạn, cả bài nhiều lần để các

b.2.2. Đối với học sinh ngắt nghỉ hơi chưa hợp lí
Khi đọc một văn bản nếu ngắt nghỉ hơi chưa phù hợp sẽ hiểu nội dung văn
bản đi hướng khác. Do đó dạy Tập đọc giáo viên cần chú trọng rèn học sinh ngắt,
nghỉ hơi đúng. Trước hết, cần hướng dẫn các em nghỉ hơi ở những chỗ có dấu kết
thúc câu. Các dấu (dấu chấm, chấm hỏi, chấm than, hai chấm, chấm lửng ở cuối
câu hoặc dấu ngăn cách câu với nhau) cần nghỉ hơi một quãng bằng khoảng thời
gian đọc một chữ. Khi đọc câu có (dấu phẩy, chấm phẩy, gạch ngang, ngoặc đơn ở
giữa câu) thời gian ngắt hơi bằng bằng nửa quãng nghỉ hơi sau dấu chấm. Trong

8


trường hợp dấu kết thúc câu đồng thời cũng kết thúc một đoạn để xuống dòng,
quãng nghỉ sẽ dài gấp đôi khoảng thời gian phát âm một tiếng.
Bên cạnh những dấu kết thúc câu hoặc ngăn cách các bộ phận câu, còn có một
số dấu câu có cách dùng đặc biệt là dấu chấm lửng thể hiện lời nói ngắt quãng cụ
thể là:
- Ngắt quãng giữa một tiếng
VD câu : Bỗng một tiếng “kít...ít” làm cậu sững lại. (trong bài Trận bóng
dưới lòng đường, tr 54). Trong trường hợp này các em không nghỉ hơi mà phát âm
kéo dài chỗ có dấu chấm lửng.
- Ngắt quãng giữa tiếng hoặc từ
VD : Ông ơi... cụ ơi...! Cháu xin lỗi cụ. (Tiếng Việt 3, tập một, tr 55). Trong
trường hợp này, các em cần nghỉ ở chỗ có dấu chấm lửng một quãng bằng thời gian
phát âm một tiếng.
Sự nghỉ hơi cũng được diễn ra ở giữa những cụm từ dài để lời nói được mạch
lạc, rõ ràng. VD : Khi dạy HS đọc câu : Mùa hoa này, bằng lăng nở hoa mà không
vui vì bé Thơ, bạn của cây, phải nằm viện. (trong bài Chú sẻ và bông hoa bằng
lăng). Nếu học sinh đọc liền một mạch không nghỉ hơi giữa hai vế câu “ bằng
lăng nở hoa mà không vui / vì bé Thơ...” thì sẽ làm người nghe không hiểu rõ ý.

mà đòi hỏi học sinh phải có tính tự giác. Do đó, trước khi cho học sinh đọc thầm,
giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh nhằm định hướng rõ việc đọchiểu (đoạn văn hay khổ thơ nào, đọc để biết, hiểu, nhớ hay suy nghĩ và trao đổi về
điều gì,…)
Kết hợp quan sát, theo dõi từng học sinh để biết học sinh đọc đến đâu. Có như
vậy mới nâng cao được chất lượng đọc thầm nhằm giúp các em hiểu được nội dung
bài đọc. Học sinh được rèn kĩ năng đọc thầm, đọc lướt thường chủ yếu ở phần tìm
hiểu bài ở phân môn Tập đọc.
Giáo viên nên chọn từ trọng tâm và giải thích ngắn gọn, dứt khoát, dễ hiểu.
Yêu cầu học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà, tìm hiểu nội dung bài theo từng câu hỏi
ở sách giáo khoa.
Ngoài ra, giáo viên cần xây dựng cho học sinh thói quen tìm đọc sách ở Thư
viện và ghi chép những thông tin cần thiết khi đọc nhằm hỗ trợ cho các môn học
khác. Từ đó rèn được kĩ năng đọc hiểu cho học sinh.
b.2.4. Đối với học đọc hiểu và đọc diễn cảm
Muốn giúp người nghe cảm nhận được cái hay, cái đẹp của văn bản đòi hỏi
người đọc phải đọc diễn cảm văn bản. Để giúp học sinh đọc cảm nhận văn bản,
hiểu văn bản thì trong việc dạy môn tập đọc phải chú ý rèn luyện khả năng đọc hiểu
cho học sinh. Đó là vấn đề cần thiết, quan trọng đối với học sinh lớp 3. Hiểu nội
dung bài văn, bài thơ thì mới có cách đọc đúng, đọc hay và diễn cảm được. Việc
luyện đọc hiểu thường được thực hiện trong bước đọc thầm. Đọc diễn cảm là một
yêu cầu đặt ra khi đọc những câu văn bản văn chương hoặc có các yếu tố của ngôn
10


ngữ nghệ thuật. Đó là việc đọc thể hiện ở kỹ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng
giọng, cường độ giọng,... để biểu đạt đúng ý nghĩ và tình cảm mà tác giả đã gửi
gắm trong bài đọc, đồng thời biểu hiện được sự thông hiểu, cảm thu của người đọc
đối với tác phẩm. Đọc diễn cảm thể hiện năng lực đọc ở trình độ cao và chỉ thực
hiện được trên cơ sở đọc đúng và đọc lưu loát. Để phát huy năng lực đọc nên gọi
các em đọc mẫu. Khuyến khích cách đọc sáng tạo của học sinh, tránh áp đặt một

sự định hướng, giúp đỡ của giáo viên, của bạn bè trong qua trình học chắc chắn kỹ
năng đọc của các em được nâng lên.
d) Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm vi
và hiệu quả ứng dụng
Khi chưa áp dụng các biện pháp hướng dẫn học sinh luyện đọc. Qua kết quả
khảo sát và thực tế giảng dạy tôi nhận thấy phần kỹ năng đọc của các em còn hạn
chế. Các em đọc còn sai về âm, vần, ngắt nghỉ hơi chưa đúng, tốc độ đọc còn chậm,
chưa nắm được nội dung, đọc bài nhỏ chưa trôi chảy….
Qua thực tế giảng dạy khi áp dụng các biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh
ở lớp tôi chủ nhiệm có tiến bộ rõ rệt. Các em tự tin, hứng thú hơn trong học tập.
Kết quả cụ thể như sau :
Trước khi thực hiện đề tài

Đọc đúng
Năm

TSHS
SL

%

Đọc
nhanh

SL

%

Đọc
hiểu


Đọc
hiểu

SL

%

S
L

%

20142015

15

6

40.0

3 20.0

3 20.0

1

6.6

5


11 40.7

5 18.5

3 11.1

1

3.7

11 40.7

7 25.9

5 18.5

3 11.1

20162017

27

(HKI)

12


III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1 Kết luận

đóng góp ý kiến để chúng tôi dạy được tốt hơn nữa trong những năm tiếp theo.
Băng Adrênh, ngày 12 tháng 03 năm 2017
Người viết

Nguyễn Thị Thảo

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

14


…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………….….................................
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

TÀI LIỆU THAM KHẢO
15


1. “Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học” của Phó tiến sĩ Lê
Phương Nga – Đỗ Xuân Hảo- Lê Hữu Tĩnh .
2. Tài liệu “ Bồi dưỡng thường xuyên” cho giáo viên chu kì III - Tập II của
Bộ Giáo Dục & ĐT- Vụ Giáo Dục tiểu học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status