TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG tạo TRONG dạy học địa lý địa PHƯƠNG lớp 12 ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG CHUYÊN - Pdf 51

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TỐNG NGỌC DIỄM

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM
SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ ĐỊA
PHƯƠNG LỚP 12 Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Địa lý
Mã số: 60140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

1


Thừa Thiên Huế, năm 2018

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết
quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử
dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Huế, tháng 06 năm 2018
Học viên




MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa.............................................................................................................i

4


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV

: Giáo viên

HS

: Học sinh

HĐTNST : Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
THPT

: Trung học phổ thông

TNST

: Trải nghiệm sáng tạo

5



bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ quan điểm đổi mới giáo dục: “Tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo định hướng phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc, vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học một cách linh hoạt, sáng
tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng học sinh và điều kiện cụ

7


thể của mỗi cơ sở giáo dục phổ thông. Đa dạng hoá hình thức tổ chức học tập, coi
trọng cả dạy học trên lớp và các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo, tập dượt
nghiên cứu khoa học. Phối hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và
giáo dục xã hội” [17, tr. 5]. Như vậy, theo quan điểm trên thì hình thức dạy học trải
nghiệm sáng tạo ngày càng được chú trọng trong mục tiêu của giáo dục phổ thông.
Trong những năm qua, Địa lý bị xem là một trong những môn học “phụ” ở
trường trung học phổ thông do nhiều nguyên nhân khác nhau. Phụ huynh học sinh
thường định hướng cho con em mình các ngành nghề thuộc lĩnh vực khoa học tự
nhiên. Các ngành nghề thuộc nhóm thi môn xã hội ngày càng thu hẹp. Do đó, trong
các trường phổ thông, các môn khoa học xã hội nói chung và Địa lý nói riêng
thường bị xem nhẹ. Và ở một số địa phương, việc dạy học Địa lý với lối dạy truyền
thống đã làm cho môn Địa lý trở nên khô khan, nhàm chán chưa tạo được nhiều
hứng thú cho học sinh,....Tâm lý sợ, e ngại và không thích học các môn xã hội cũng
như môn Địa lý của học sinh là một vấn đề rất đáng quan tâm vì nó ảnh hưởng rất
lớn đến hiệu quả và chất lượng học tập. Như vậy, đổi mới giáo dục nhằm nâng cao
chất lượng dạy và học môn Địa lý cũng là một vấn đề hết sức cấp bách.
Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015, hoạt động trải
nghiệm sáng tạo là môn học bước đầu giúp học sinh học được cách quan sát và tư
duy về xã hội, cuộc sống, và nâng cao năng lực lý giải hiện tượng xã hội; biết cách
phân tích và giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội trong không gian và thời gian;
gắn lý thuyết với thực tiễn, học đi đôi với hành. Hơn thế nữa, hoạt động dạy học trải

Thoại Ngọc Hầu (địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).
5. Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Vấn đề hoạt động dạy và học qua trải nghiệm sáng tạo không phải là vấn đề
mới với nhiều nước trên thế giới, nhưng với Việt Nam vấn đề này còn khá mới mẻ.
Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu tôi đã tham khảo, tiếp cận các loại tài liệu đề
cập đến những vấn đề chung của hoạt động trải nghiệm sáng tạo như sau:
- Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể sau năm 2015 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã nêu lên quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ
thông, mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông, định hướng xây dựng các chương
trình môn học, yêu cầu cần đạt về các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung của học
sinh. Trong đó, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục mà từng học
sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự
hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ

9


năng và tích luỹ kinh nghiệm riêng của cá nhân. Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động
được coi trọng trong từng môn học, đồng thời trong kế hoạch giáo dục cũng bố trí
các hoạt động trải nghiệm sáng tạo riêng, mỗi hoạt động này mang tính tổng hợp
của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau.
- Tài liệu tập huấn: “Kỹ năng thiết kế và tổ chức các hoạt động trải nghiệm
sáng tạo” năm 2017 của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã đề
cập đến một số vấn đề chung về hoạt động trải nghiệm sáng tạo, kỹ năng thiết kế và
biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo, đánh giá kết quả hoạt động trải
nghiệm sáng tạo trong trường phổ thông.
- Tài liệu tập huấn “kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm
sáng tạo trong trường trung học” tỉnh Quảng Ninh năm 2015 đã đề cập đến cách
thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường trung học và cách đánh giá
trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh trung học.

6. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp sưu tầm tài liệu: Thu thập các nguồn tài liệu liên quan để xây
dựng cơ sở lí luận của đề tài.
- Phương pháp phân tích tài liệu: Tiến hành xem xét, xác định và lựa chọn tư
liệu liên quan đến đề tài được biên soạn và đăng tải từ nguồn đáng tin cậy.
- Phương pháp tổng hợp tài liệu: Phân loại, hệ thống các nguồn tài liệu liên
quan đến các phần, mục của đề tài làm cơ sở khoa học sau khi đã được phân tích.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp quan sát.
Quan sát học sinh để thu thập những thông tin định tính của quá trình tổ chức
hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Địa lý địa phương ở trường THPT
chuyên Thoại Ngọc Hầu. Từ đó, rút ra nhận xét, ưu điểm, nhược điểm trong việc tổ
chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo để có được điều chỉnh cần thiết phù hợp với
thực tế dạy học.
6.2.2. Phương pháp khảo sát điều tra
Điều tra khảo sát việc tổ chức dạy và học địa lý theo hình thức trải nghiệm
sáng tạo ở trường THPT chuyên, mức độ hứng thú của học sinh đối với hoạt động
này bằng việc phỏng vấn và sử dụng phiếu điều tra.
6.2.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm sư phạm ở trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu nhằm
đánh giá tính khả thi của đề tài.

11


6.2.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu đã thu thập
được từ kết quả học tập của học sinh và xử lí phiếu điều tra, nội dung góp ý kiến
của GV và HS.

Như vậy, học tập qua trải nghiệm là một cách học thông qua làm, với quan
niệm việc học là quá trình tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế, dựa trên
những đánh giá, phân tích trên những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có. Học qua trải
nghiệm giúp người học không những có được năng lực mà còn có những trải
nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lý khác, học qua trải nghiệm chú
ý gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân. [26]
1.1.1.2. Khái niệm về sáng tạo
Là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần,
mới về chất. Nói cho dễ hiểu thì sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra sản
phẩm và sản phẩm này phải có tính mới (mới về chất) và có giá trị so với sản phẩm
cũ (có lợi hơn, tiến bộ hơn). [26]

13


Theo PGS. TS Phan Dũng: “sáng tạo là hoạt động tạo ra bất cứ cái gì có đồng
thời tính mới và tính ích lợi (trong phạm vi áp dụng cụ thể)”. [26]
Học tập sáng tạo là làm chủ được kiến thức, biết khái quát vấn đề và triển khai
theo ý hiểu của mình, biến kiến thức của người dạy thành kiến thức của chính mình.
1.1.1.3. Thuật ngữ trải nghiệm sáng tạo
Theo TS. Ngô Thị Tuyên: “Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động có động cơ, có
đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể, được thực hiện
trong thực tế. Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn. Qua trải nghiệm thực
tiễn người trải nghiệm sẽ có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định.
Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, phải vận dụng
kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới,
không theo chuẩn đã có. Sáng tạo sẽ có được khi nhận biết được vấn đề trong các
tình huống tương tự, độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng, tìm kiếm và
phân tích được các yếu tố của đối tượng trong các mối tương quan của nó, hay độc
lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa

hiểu bản thân... ). Có thể lựa chọn và tổ chức thực hiện một cách linh động sao
cho phù hợp với đặc điểm của học sinh, cấp học, khối lớp, nhà trường và điều kiện
xã hội của địa phương.
Các HĐTNST có thể tiến hành trong lớp và ngoài lớp với các hình thức sau:
- Các hình thức tổ chức HĐTNST trên lớp gồm: tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân
khấu tương tác, cuộc thi, báo cáo chuyên đề, tổ chức sự kiện, sinh hoạt tập thể,…
trong tiết dạy học Địa lý.
- Các hình thức tổ chức HĐTNST ngoài lớp gồm: tổ chức câu lạc bộ, tham
quan, triển lãm, báo cáo chuyên đề và dự án Địa lý,…
1.1.1.5. Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
- Trải nghiệm và sáng tạo là dấu hiệu cơ bản của hoạt động. HĐTNST là hoạt
động được thực hiện phối hợp một cách hợp lý cả hai khâu trải nghiệm và sáng tạo.
Hoạt động TNST tạo cơ hội cho học sinh được trải nghiệm trong thực tiễn để
chiêm nghiệm lại các kinh nghiệm vốn có và tích lũy thêm kinh nghiệm mới, từ đó có
thể khái quát thành cách hiểu riêng cho bản thân mình, đó đã được gọi là sáng tạo của
bản thân học sinh. Hoạt động TNST đòi hỏi học sinh tích cực ở tất cả các khâu của
quá trình hoạt động: từ khâu thiết kế hoạt động đến khâu chuẩn bị, thực hiện và đánh
giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân học
sinh. Qua đó, tạo cơ hội cho các em được trải nghiệm thực tiễn, được bày tỏ quan

15


điểm, ý tưởng sáng tạo của mình, được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được
thể hiện năng khiếu bản thân và tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá
kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè…
- Nội dung của hoạt động TNST mang tính tích hợp và phân hóa cao.
Nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo rất đa dạng và mang tính tích hợp,
tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục
như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống,

HS, từ đó giúp HS khám phá khả năng sáng tạo của bản thân mình. Trong
HĐTNST, HS sẽ tham gia vào tất cả quá trình của hoạt động. Các em sẽ được trải
nghiệm thực tiễn, qua đó các em có thể trình bày ý tưởng, quan điểm, đánh giá và
lựa chọn ý tưởng hoạt động. Thông qua hoạt động nhóm, các em được thể hiện tinh
thần đồng đội, khẳng định được giá trị bản thân, biết được thế mạnh và hạn chế của
bản thân mình, của bạn bè và đồng đội để từ đó mà phát huy ưu thế và tiềm năng
sáng tạo của từng thành viên. Vì vậy, hình thành cho HS những giá trị sống và năng
lực cần thiết.
- HĐTNST đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và
ngoài nhà trường.
Khác với hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo cần thu hút sự
tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
như: giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ môn, cán bộ Đoàn, Ban giám hiệu nhà
trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, hội khuyến học, hội phụ nữ,
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, hội cựu chiến binh, các cơ quan, tổ chức,
doanh nghiệp ở địa phương, các nhà hoạt động xã hội, những người lao động tiêu
biểu ở địa phương,…Mỗi lực lượng giáo dục có tiềm năng, thế mạnh riêng. Tùy nội
dung, tính chất từng hoạt động mà sự tham gia của các lực lượng giáo dục có thể là
trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể là chủ trì, đầu mối hoặc phối hợp nhằm có thể hỗ trợ
về kinh phí, phương tiện, địa điểm tổ chức hoạt động hoặc đóng góp về chuyên
môn, trí tuệ, chất xám hay sự ủng hộ về tinh thần. Do vậy, hoạt động trải nghiệm
sáng tạo giúp cho học sinh được học tập, giao tiếp rộng rãi với nhiều lực lượng giáo
dục, được lĩnh hội các nội dung giáo dục qua nhiều kênh khác nhau, với nhiều cách
tiếp cận khác nhau. Điều đó làm tăng tính đa dạng, hấp dẫn và chất lượng, hiệu quả
của hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
- HĐTNST giúp lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác
không thực hiện được.
17




18


thử thách để đạt thành tích tốt trong học tập. Biết lập kế hoạch học tập để chuẩn bị
cho định hướng nghề nghiệp trong tương lai.
- Trung thực: là sẵn sàng đấu tranh để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ công lý, người
tốt, điều tốt. Có lối sống tích cực, nhận thức và hành động đúng đắn, chống các biểu
hiện tiêu cực trong học tập và trong cuộc sống.
- Trách nhiệm: quan tâm đến sự phát triển hoàn thiện bản thân, tham gia hoạt
động cộng đồng, đóng góp cho việc giữ gìn và phát triển của cộng đồng, đất nước,
nhân loại và môi trường tự nhiên. Luôn biết tuân thủ, chấp hành kỷ cương, quy
định, hiến pháp và pháp luật và sống theo giá trị chuẩn mực đạo đức xã hội. Có thái
độ tích cực trong công việc, cố gắng hoàn thành công việc được giao với tinh thần
trách nhiệm cao.
* Về năng lực chung
- Năng lực tự chủ và tự học: Tự chủ là khả năng đánh giá được thế mạnh và
hạn chế của bản thân, biết điều chỉnh hành vi, thái độ, tình cảm của bản thân và cư
xử đúng đắn trong các tình huống, sẵn sàng đương đầu và vượt qua được khó khăn,
thử thách trong cuộc sống.Tự học là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một
cách tự giác, chủ động, tự đặt được mục tiêu học tập và luôn nỗ lực phấn đấu để đạt được
mục tiêu đề ra. Biết lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc, nề nếp. Tự học
bằng nhiều phương pháp học tập hiệu quả khác nhau, biết phát huy ưu điểm và khắc
phục hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh
giá hoặc lời góp ý của giáo viên, bạn bè. Khi gặp khó khăn trong học tập sẽ chủ
động tìm kiếm sự trợ giúp từ bạn bè hoặc thầy cô.
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: Giao tiếp là khả năng lựa chọn nội dung, cách
thức, thái độ giao tiếp để đạt được mục đích giao tiếp và mang lại sự thỏa mãn cho
các bên tham gia giao tiếp. Luôn lắng nghe và tôn trọng đối phương, biết góp ý tế
nhị và tiếp thu sự góp ý chân thành. Hợp tác là khả năng cùng làm việc giữa hai hay

kế, vận dụng được tư duy thiết kế trong tìm tòi, sáng tạo các lĩnh vực khác nhau
trong đời sống xã hội. Biết sử dụng một số kỹ thuật, công nghệ an toàn, hiệu quả.
Biết lập luận và đánh giá xác đáng về xu hướng kĩ thuật, công nghệ. Đưa ra được
những lời khuyên về việc lựa chọn, sử dụng các sản phẩm kỹ thuật, công nghệ. Áp
dụng được các kỹ thuật, công nghệ phục vụ cho việc học tập và đời sống.
- Năng lực tin học: là khả năng sử dụng thiết bị kỹ thuật số, máy tính, phần
mềm… để tìm kiếm thông tin phục vụ tích cực và hiệu quả cho học tập và cuộc
sống, là khả năng sàng lọc và tham gia truyền thông trên môi trường mạng một cách

20


có văn hóa. Biết tìm kiếm và lựa chọn thông tin tin cậy phù hợp với vấn đề cần giải
quyết. Thấy được tầm quan trọng của tin học đối với nhà trường và xã hội.
- Năng lực thẩm mỹ: là năng lực nhận diện và cảm thụ cái đẹp, biết thể hiện
được cái đẹp trong hành vi, trong lời nói, trong sản phẩm… và biết sáng tạo ra cái
đẹp. Biết được giá trị của cuộc sống và trân trọng giá trị đó. Biết đề xuất ý tưởng
thẩm mĩ, thể hiện ý tưởng sáng tạo, có chọn lọc phù hợp với hoàn cảnh và quan niệm
thẩm mĩ tích cực. Sử dụng kết quả sáng tạo, thẩm mĩ vào các hoạt động trong nhà
trường, đoàn thể và xã hội nhằm phát huy giá trị, truyền thống, văn hóa, dân tộc.
- Năng lực thể chất: là khả năng sống thích ứng và hài hòa với môi trường, với
tự nhiên, biết rèn luyện sức khoẻ thể lực và nâng cao sức khoẻ tinh thần. Biết điều
chỉnh chế độ sinh hoạt học tập và rèn luyện phù hợp với bản thân, thích ứng với các
hoạt động xã hội. Đánh giá được thể chất và sức khỏe, lựa chọn các hình thức thể
dục thể thao phù hợp để hoàn thiện và nâng cao các kỹ năng vận động của cơ thể.
* Ngoài các năng lực chung và năng lực chuyên môn, HĐTNST còn hình
thành một số năng lực sau:
- Năng lực tham gia và tổ chức hoạt động: thể hiện ở sự tích cực tham gia
hoặc thiết kế, tổ chức các hoạt động, đặc biệt các hoạt động xã hội. Có thái độ làm
việc nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm cao. Biết đóng góp vào thành công chung,

động ngoài giờ lên lớp
Bảng 1.1. Bảng phân biệt hoạt động trải nghiệm sáng tạo
và hoạt động ngoài giờ lên lớp
Hoạt động TNST
Hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Là bộ phận của chương trình. Có - Là một bộ phận của chương
quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy trình. Có quan hệ chặt chẽ với
học.

hoạt động dạy học.

- Gắn lý thuyết với thực tiễn.

- Gắn lý thuyết với thực tiễn.

Vị trí, vai trò - Phát triển phẩm chất nhân cách, - Phát triển nhân cách toàn diện
năng lực chung, năng lực đặc thù. của học sinh.
- Được tiến hành trong các giờ học
văn hóa hoặc ngoài giờ học.
Mục tiêu

- Được tổ chức ngoài giờ học

các môn văn hóa.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - Kiến thức: củng cố, mở rộng,
nhằm hình thành và phát triển khắc sâu kiến thức đã học, nâng
phẩm chất nhân cách, các năng lực cao hiểu biết về các lĩnh vực của
tâm lý – xã hội..., giúp bản thân đời sống xã hội và giá trị truyền

22


- Thế giới nghề nghiệp.

- Tình nguyện.

- Khoa học và nghệ thuật.
* Được thể hiện qua các chủ đề đa * Được thể hiện trong 9 hoặc 10
dạng, phong phú vừa đảm bảo yêu chủ đề theo tháng.
cầu chung, vừa phù hợp với đặc
điểm từng trường, địa phương.
Chương trình Song song 2 chương trình: chương Một chương trình chung cho tất
tự chọn hay bắt trình bắt buộc đối với 100% HS và cả.
buộc

chương trình tự chọn.
- Hình thức tổ chức phong phú, đa - Hình thức tổ chức đơn giản và
dạng, mỗi hình thức có chức năng không đa dạng như hoạt động

Phương pháp giáo dục nhất định.

TNST.

và hình thức tổ - Phương pháp: Thiết kế nhiệm vụ - Phương pháp: Hướng dẫn hoạt
chức

rõ ràng hướng tới mục tiêu hình động chung, phát huy vai trò
thành các năng lực cụ thể.

Đánh giá


quan. kiểm, nâng cao chất lượng giáo

Điều chỉnh các yếu tố giúp học dục toàn diện.
Sử dụng kết
quả đánh giá

sinh nâng cao năng lực trên đường
phát triển.
- Là điều kiện cần của đánh giá xếp
loại toàn diện HS để xét lên lớp,
chuyển cấp và xét tuyển cho những
hoạt động đặc thù...

(Nguồn: Tài liệu tập huấn kĩ năng thiết kế và tổ chức các hoạt động trải
nghiệm sáng tạo – trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 2017)
Như vậy, hai hoạt động này có vị trí, vai trò và hình thức tổ chức khá thống
nhất. Tuy nhiên, sự khác nhau cơ bản ở chỗ là trong hoạt động TNST mục tiêu được
diễn đạt dưới dạng năng lực và các năng lực này được đánh giá thông qua phương
pháp và công cụ chuyên biệt. Cách thức tổ chức hoạt động phải làm sao để 100%
học sinh tham gia trong các hoạt động bắt buộc và được tự chọn tham gia những nội
dung mình yêu thích. Từng cá nhân HS phải được đánh giá và xếp loại với minh
chứng là hồ sơ về quá trình hoạt động (giống như kết quả học tập) và kết quả đánh
giá được sử dụng cho việc xếp loại hay xét tuyển...
1.1.1.8. Đánh giá hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Đánh giá là một bước không thể thiếu trong hoạt động giáo dục để từ đó có
những định hướng tốt hơn cho hoạt động giáo dục và nâng cao được chất lượng,

24



25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status