ĐẶC điểm GIAO TIẾP của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học kỹ THUẬT y dược đà NẴNG - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ NGA

ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI
HỌC KỸ THUẬT Y - DƯỢC ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số
: 60310401

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHÙNG ĐÌNH MẪN

HUẾ, NĂM 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực,
được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố
trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Nga



6. Phạm vi nghiên cứu...........................................................................................7
7. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................8
8. Đóng góp của đề tài...........................................................................................8
9. Cấu trúc của luận văn.........................................................................................8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIAO TIẾP..............................9
1.1. Tổng quan các nghiên cứu về giao tiếp.......................................................9
1.1.1. Vấn đề giao tiếp trong tâm lý học nước ngoài......................................9
1.1.2. Nghiên cứu về giao tiếp ở Việt Nam...................................................11
1.2. Những vấn đề lý luận chung về giao tiếp..................................................13
1.2.1. Khái niệm chung về giao tiếp.............................................................13
1.2.2. Cấu trúc của giao tiếp........................................................................17
1.2.3. Chức năng của giao tiếp......................................................................19
1.2.4. Phân loại giao tiếp..............................................................................20
1.2.5. Giao tiếp và sự hình thành, phát triển nhân cách................................22
1.3. Những phương tiện tâm lý cơ bản của giao tiếp.......................................24
1.3.1. Nhu cầu giao tiếp................................................................................24
1.3.2. Kỹ năng giao tiếp................................................................................27
1.3.3. Nội dung giao tiếp..............................................................................29
1.4. Giao tiếp trong hoạt động y học................................................................31
1.4.1. Hoạt động y học..................................................................................31
1.4.2. Vai trò giao tiếp của sinh viên Kỹ thuật Y - Dược...............................32
Tiểu kết chương 1..................................................................................................34
1


CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................35
2.1. Khái quát về trường Đại học Kỹ thuật Y- Dược Đà Nẵng.........................35
2.2. Tổ chức nghiên cứu...................................................................................38
2.3. Các phương pháp nghiên cứu....................................................................38
2.3.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận........................................38

3.3.2. Kết quả thử nghiệm............................................................................81
Tiểu kết chương 3..................................................................................................83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ........................................................................84
1. Kết luận............................................................................................................ 84
2. Khuyến nghị.....................................................................................................85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................88
PHỤ LỤC

3


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

KN

2

KNGT

Kỹ năng giao tiếp

3

trở thành khí quan biểu hiện sinh hoạt của tôi và một trong những phương thức
chiếm hữu sinh hoạt của con người”, là điều kiện quan trọng bậc nhất của sự hình
thành và phát triển nhân cách của cá nhân. A.V.Zapôrôjet từng khẳng định “Giao tiếp
là nguồn quan trọng nhất của sự phát triển tâm lý con người trong quá trình phát
sinh cá thể của nó”. Qua giao tiếp, những kinh nghiệm lịch sử - xã hội được các thế
hệ truyền lại cho nhau, làm phong phú thêm nền văn hoá của cộng đồng, của dân tộc
và của chính mỗi con người. V.M.Becherev cho rằng “Nếu không có bắt chước thì có
lẽ không có nhân cách như một cá thể xã hội, chính giao tiếp với những người khác
là nguồn tư liệu của bắt chước, và nhờ sự hợp tác giữa con người với con người mà
người này có ảnh hưởng đến người khác và người này ám thị được người khác” [11].
Trong giao tiếp hằng ngày, con người phải ứng phó với biết bao tình huống
muôn màu, muôn vẻ, muôn sắc, muôn diện… có khi dễ dàng xử lý, có lúc rơi vào
bế tắc, khó xử. Giao tiếp, ứng xử khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả “là cả một
nghệ thuật mà không phải ai cũng nắm được, bất kì ai cũng phải học điều đó”
(I.Cvapilic) [2]. Nắm được nghệ thuật này là sở hữu một trong những bí quyết thành
công trong cuộc sống, trong quan hệ giữa con người với con người nói chung và đặc
biệt là trong sự hình thành năng lực nghề nghiệp của cá nhân nói riêng.
Đối với mọi ngành nghề nói chung và nghề thầy thuốc nói riêng, giao tiếp không
chỉ có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách mà còn là một
bộ phận cấu thành hoạt động nghề thầy thuốc, một thành phần chủ đạo trong cấu
trúc năng lực của người thầy thuốc. Nghề thầy thuốc là một trong những nghề
5


nghiệp có liên quan rất nhiều và trực tiếp đến tính mạng con người. Nghề thầy
thuốc sẽ mất hết ý nghĩa nếu không có giao tiếp giữa thầy thuốc và bệnh nhân, thầy
thuốc với người nhà bệnh nhân… Hơn nữa đối tượng giao tiếp ở đây chủ yếu là
người bệnh và người nhà người bệnh. Những đối tượng này luôn mang tâm trạng
buồn, lo lắng, đau đớn, chán nản...nên thành công trong giao tiếp là rất khó, đòi hỏi
người thầy thuốc không chỉ có trình độ về chuyên môn mà cần phải có kỹ năng, có

3. Đối tượng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm giao tiếp của sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giao tiếp của sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng
Khách thể khảo sát là 220 sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng
4. Giả thuyết khoa học
Giao tiếp của sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng có những
đặc điểm riêng. Có sự khác biệt về giới, ngành học, khoá học trong giao tiếp của họ.
Nếu đề xuất được các biện pháp tác động phù hợp thì sẽ nâng cao được năng lực
giao tiếp của sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Khái quát cơ sở lý luận về giao tiếp của sinh viên
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về các đặc điểm giao tiếp của sinh
viên trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng
5.3. Đề xuất các biện pháp nâng cao năng lực giao tiếp của sinh viên trường
Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng
6. Phạm vi nghiên cứu
Trong điều kiện thời gian cho phép, đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu các vấn đề sau:
- Về không gian: Chỉ nghiên cứu giao tiếp trong nhà trường của sinh viên trường
Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng
- Về thời gian: Từ tháng 01đến tháng 09 năm 2015
- Về mức độ tiếp cận đối tượng: Chỉ nghiên cứu ba phương diện của giao tiếp là
nội dung giao tiếp, nhu cầu giao tiếp (NCGT) và kỹ năng giao tiếp (KNGT) của trên
220 sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng

7


7. Phương pháp nghiên cứu

1.1. Tổng quan các nghiên cứu về giao tiếp
1.1.1. Vấn đề giao tiếp trong tâm lý học nước ngoài
Cùng với hoạt động, giao tiếp là phạm trù nền tảng của tâm lý học (TLH). Từ
xưa, vấn đề này đã được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu. Vào thời cổ đại ở Hy
Lạp, nhà triết học Socrat (469 - 399 TCN) và Platon (437 - 377 TCN) đã đề cập đến
phương pháp đối thoại, phương pháp trò chuyện như là sự giao tiếp để đi đến chân
lý. Việc nghiên cứu để tìm ra bản chất của giao tiếp và vai trò của giao tiếp đối với
sự hình thành nhân cách con người chưa được đề cập đến.
Thế kỷ XIX, giao tiếp được xem như là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với sự
hình thành nhân cách con người và cuộc sống xã hội loài người. Trong “bản thảo kinh
tế - triết học” (1894), K. Marx cũng xét đến vai trò giao tiếp trong hoạt động xã hội
và tiêu dùng xã hội: Theo Marx, thông qua giao tiếp với người khác là chiếc gương
cho mỗi người tự soi mình. Ông đã dùng đến khái niệm “giao tiếp vật chất” để chỉ
mối quan hệ sản xuất thực tiễn của con người. Sản xuất vật chất và tái sản xuất sức
lao động xã hội đã buộc con người phải giao tiếp với nhau. Con người chỉ trở thành
người khi nó có những quan hệ hiện thực với những người khác, có giao tiếp trực tiếp
với những người khác.
Trong TLH thế giới và TLH Xô Viết, một trong những người đặt nền móng đầu
tiên cho vấn đề giao tiếp là V.M. Becherev - người sáng lập ra cái gọi là “phản xạ học
tập thể” - đã đưa ra nguyên tắc nghiên cứu so sánh các quá trình nhận thức trong
những điều kiện hoạt động riêng lẻ của cá nhân và những điều kiện giao tiếp của cá
nhân đó với người khác.
Trong học thuyết các chức năng tâm lý cao cấp, L.X. Vưgotxki coi giao tiếp có
vai trò to lớn. Khi bàn đến khách thể và đối tượng nghiên cứu của TLH, Ananhiev
nhấn mạnh rằng con người là chủ thể của lao động, nhận thức và giao tiếp. Ông cho
rằng, giao tiếp là điều kiện quan trọng nhất và là nhân tố phát triển tâm lý trong suốt
cuộc đời của một cá nhân.

9


độ nào, trên những bình diện nào đi chăng nữa, các nhà nghiên cứu đều gặp nhau
10


trong cách nhìn nhận về vai trò quyết định của giao tiếp đối với đời sống xã hội và sự
hình thành, phát triển nhân cách con người. Và hơn thế, các công trình nghiên cứu
này đã đưa giao tiếp thực sự trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu trung
tâm của khoa học tâm lý. Ngày nay, việc nghiên cứu giao tiếp đã thực sự trở thành
một hệ thống, theo một ngành riêng - ngành tâm lý học giao tiếp.
1.1.2. Nghiên cứu về giao tiếp ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Tâm lý học là một ngành khoa học còn non trẻ. Vấn đề giao tiếp
được bắt đầu chú ý đến vào khoảng thập niên 60 - 70 (thế kỷ XX), mở đầu bằng bài
viết “Karl Marx và phạm trù giao tiếp” của Đỗ Long (1963). Đặc biệt vào thập niên
80, giao tiếp đã trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng được đánh dấu bằng hàng loạt các
bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả như “Giao tiếp, tâm lý, nhân
cách” (1981) của Trần Trọng Thủy,“Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ”
(1981), “Bàn về phạm trù giao tiếp” (1981) của Bùi Văn Huệ, “Giao tiếp sư phạm”
(1987) của Ngô Công Hoàn. Ngoài ra, có hẳn một hội nghị bàn về giao tiếp, được tổ
chức năm 1981 bởi Ban Tâm lý học của Viện Triết thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội
với chủ đề “Hoạt động và giao tiếp” bàn đến những nội dung như: 1) quan hệ giữa
hoạt động và giao tiếp; 2) vai trò, vị trí và ý nghĩa của giao tiếp trong sự hình thành
tâm lý; 3) hoạt động giao tiếp trong dạy học và giáo dục. Tiếp sau đó cũng có nhiều
nghiên cứu về giao tiếp với các công trình tiêu biểu như: năm 1992 có “Vấn đề giao
tiếp” của Nguyễn Văn Lê; năm 1993 có “Tâm lý học giao tiếp”, đến năm 1995 có
“Khoa học và nghệ thuật giao tiếp” của Trần Tuấn Lộ; năm 1995 còn có “Giao tiếp
sư phạm” của Hoàng Anh và Vũ Kim Thanh; năm 1996 có “Nhập môn khoa học
giao tiếp” của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Sinh Huy. Như vậy, thời kỳ này chủ yếu
nghiên cứu về mặt lý luận.
Bên cạnh đó, phải kể đến các công trình nghiên cứu thực tiễn, tiêu biểu như nghiên cứu
về kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên (Hoàng Anh), đặc điểm giao tiếp của sinh viên

phạm Đồng Tháp” của Nguyễn Thị Mộng Hiếu (2004) v.v…
Những công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước đã tập trung
làm sáng tỏ vấn đề giao tiếp: các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp, tính tích cực
giao tiếp, đến nhu cầu, ấn tượng ban đầu và trở ngại tâm lý trong giao tiếp. Nhưng
trong các nghiên cứu trên không có công trình nào tiến hành trên đối tượng là sinh
viên trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng và từ trước đến nay vẫn chưa có
một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về đặc điểm giao tiếp
12


của sinh viên trường này. Đề tài của chúng tôi được thực hiện sẽ góp thêm một
“mảng màu” trong bức tranh tổng thể về giao tiếp của sinh viên ngành Kỹ thuật YDược, đồng thời, sẽ đưa đến một cách nhìn toàn diện hơn về giao tiếp của sinh viên
trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng
1.2. Những vấn đề lý luận chung về giao tiếp.
1.2.1. Khái niệm chung về giao tiếp
Giao tiếp là một trong những khái niệm cơ bản của TLH. Hiện nay có rất nhiều
cách hiểu khác nhau về khái niệm giao tiếp. Tuy nhiên, từ trên bình diện nhận thức
chung, có thể nêu lên một số cách tiếp cận khái niệm giao tiếp như sau:
Hướng thứ nhất: Các tác giả khi nghiên cứu giao tiếp chỉ nhấn mạnh đến khía
cạnh thông tin trong giao tiếp giữa người và người, như tác giả E.E. Acquyt (Mỹ)
quan niệm “Giao tiếp là sự tác động, sự truyền và tiếp nhận thông báo và sự trao đổi
thông tin của con người” [29].
M.A.Acgain (Anh) “xem giao tiếp như là một quá trình hai mặt của sự thông
báo, thiết lập sự tiếp xúc và trao đổi thông tin” [29].
K.K.Palatonov định nghĩa “Giao tiếp là sự trao đổi thông tin giữa con người với
nhau, sự trao đổi thông tin này gọi là sự tiếp xúc [29].
T.H.Fischer quan niệm “Sơ đồ về giao tiếp nằm trong một quá trình truyền thông
tin, quá trình này gồm 4 yếu tố khác nhau: điểm phát - biến đổi thông tin thành mã;
kênh thông tin; điểm thu - nhận thông tin; danh mục tín hiệu.
Có thể thấy các quan niệm trên đây có xu hướng thu hẹp khái niệm giao tiếp, đã

thống nhất của cuộc sống con người, của sự phát triển tâm lý.
Hướng thứ ba: Các tác giả xác định rõ bản chất của giao tiếp thông qua việc
phân biệt khái niệm giao tiếp với các khái niệm liên quan như thông tin, quan hệ xã
hội, ứng xử, đại diện có các tác giả A.K.Uledovva, E.D.Giarcopva…
Giao tiếp và thông tin: Hai khái niệm này đều có khía cạnh thông tin nhưng
khác nhau ở ba điểm là: 1) khái niệm giao tiếp rộng hơn khái niệm thông tin, giao
tiếp là sự tiếp xúc tâm lý chứa đựng cả nội dung thông tin, thông báo, thông tin là
một mặt cơ bản không thể thiếu được của giao tiếp; 2) khác nhau ở tính chất của
mối liên hệ cơ bản tham gia vào hệ thống tác động qua lại. Thông tin là mối liên hệ
thông báo của của chủ thể với các đối tượng khác nhau: con người, động vật, máy
móc. Còn giao tiếp chỉ quan hệ chủ thể - chủ thể trong đó có sự tác động lẫn nhau
và sự điều khiển nhau; 3) thông tin chỉ số lượng các quá trình thông báo, sự chuyển
giao thông báo này hay khác, còn giao tiếp có nội dung, tính chất thực tiễn, vật chất
và cả tính chất tinh thần, thông báo. Rõ ràng là trong giao tiếp có chứa đựng một
nội dung thông tin còn thông tin là một mặt, một nội dung, một yếu tố của giao tiếp.
Giao tiếp và quan hệ xã hội: Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Quan hệ
xã hội là các quan hệ khách quan, phi nhân cách. Bản chất nó không phải là quan hệ
14


giữa các nhân cách cụ thể. Nó không phải là quan hệ người - người một cách thuần
túy mà đại diện cho các nhóm người có quan hệ với nhau. Quan hệ xã hội gồm có:
quan hệ sản xuất, quan hệ vật chất, quan hệ chính trị, quan hệ hệ tư tưởng…còn
giao tiếp là sự tiếp xúc giữa các nhân cách cụ thể, là sự hiện thực hóa các quan hệ
xã hội. Giao tiếp diễn ra trong môi trường xã hội, trong các mối quan hệ xã hội.
Quan hệ xã hội chỉ được biểu hiện qua quá trình giao tiếp. Mặc dù giao tiếp và quan
hệ xã hội là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Giao tiếp và ứng xử: “Ứng xử” là phản ứng của cơ thể đối với các tác động bên
ngoài thể hiện thái độ hành động theo một cách nào đó đối với người khác trong
hoàn cảnh cụ thể nhất định. Theo M.Reuchlin: “Ứng xử là toàn bộ những hành động

xã hội, mỗi người tác động qua lại với người khác như một người đối thoại (hay đối
tác, đối thủ) của mình. Những tác động qua lại ấy được thực hiện trực tiếp hoặc gián
tiếp (qua những phương tiện kỹ thuật) chủ yếu bằng ngôn ngữ” [34].
Trong tâm lý học đại cương, tác giả Phạm Minh Hạc đã đồng nhất khái niệm giao
tiếp với giao lưu và cho rằng: “giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ
người - người để hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau” [11].
Ngô Công Hoàn định nghĩa “giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với
con người nhằm mục đích trao đổi tình cảm, tư tưởng, vốn sống, kỹ năng, kỹ xảo
nghề nghiệp” [13].
Như vậy, các tác giả trên có nhiều cách định nghĩa về giao tiếp khác nhau nhưng
không mâu thuẫn với nhau mà mỗi một khái niệm đều dựa trên hạt nhân hợp lý và
đứng trên các góc độ khác nhau.
Từ các cách tiếp cận trên, có thể thống nhất chọn định nghĩa về giao tiếp trong
cuốn giáo trình “Tâm lý học đại cương” của các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Trần
Hữu Luyến, Trần Quốc Thành, xuất bản năm 1999 làm khái niệm công cụ. Theo đó,
giao tiếp “là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người thông qua đó con người trao
đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại
với nhau. Hay nói khác đi, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này và chủ thể khác” [33]. Sở
dĩ chúng tôi chọn khái niệm này vì nó đã nêu lên được đặc trưng tâm lý của giao
tiếp, nêu lên được sự tác động hai chiều của quan hệ có ý thức giữa con người với
nhau, nêu được mục đích của giao tiếp, và đây cũng là một khái niệm được nhiều
người thừa nhận, được sử dụng trong các tài liệu chính thống để giảng dạy cho sinh
viên, học viên cao học…
1.2.2. Cấu trúc của giao tiếp
Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc giao tiếp, sau đây nêu lên một số
điểm cơ bản:
16


Các ngành điều khiển học xem giao tiếp như một hiện tượng tâm lý - xã hội có

dụng toàn bộ tri thức, hiểu biết, nhận thức, quan điểm, nhu cầu, tình cảm, trí tuệ,
vốn sống, kinh nghiệm và cả nghệ thuật vốn có của mình, hướng vào mục đích giao
tiếp. Con người với tư cách đối tượng giao tiếp là người nhận tin và xử lý thông tin
để có phản ứng, hành vi kịp thời nhằm đảm bảo mục đích giao tiếp có hiệu quả. Con
người trong giao tiếp có nhiều trường hợp với tư cách đồng thời là chủ thể vừa là
đối tượng để đạt mục đích giao tiếp.
* Mục đích giao tiếp: Bất kỳ một thông báo nào phát ra đều có mục đích cụ thể.
Có rất nhiều mục đích giao tiếp khác nhau, giao tiếp nhằm mục đích về chính trị,
kinh tế, văn hóa, nhận thức, hiểu biết lẫn nhau, chia sẽ tình cảm…
* Nội dung giao tiếp thể hiện ở thông tin cần truyền đạt, bản thông điệp nói gì,
viết gì. Nội dung thể hiện ý nghĩa của tin truyền đi theo sự sắp đặt dựa vào mục
đích giao tiếp.
17


* Phương tiện giao tiếp: Các phương tiện được sử dụng trong quá trình giao tiếp
như ngôn ngữ nói, viết, cử chỉ, điệu bộ, hành vi… Các phương tiện công cụ kỹ thuật
tham gia vào quá trình giao tiếp như micrô, máy điện thoại, máy fax, máy vi tính…
* Hoàn cảnh giao tiếp: Bao gồm các yếu tố không gian, thời gian giao tiếp,
khoảng cách giữa đối tượng và chủ thể giao tiếp. Bối cảnh xã hội, tự nhiên, con
người tại không gian và thời gian giao tiếp v.v… Đây là những yếu tố khách quan
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả của quá trình giao tiếp.
* Kênh giao tiếp: Là các đường liên lạc truyền dẫn và tiếp nhận thông tin như
các giác quan: mắt, tai, xúc giác, vị giác… Căn cứ vào kênh giao tiếp mà chuẩn bị
tốt cho quá trình giao tiếp. Ví dụ: Giao tiếp qua kênh thính giác như điện thoại thì
cần phải nói rõ, gọn, rút gọn từ…; thư thì viết rõ, dễ đọc, đúng ngữ pháp…
* Quan hệ giao tiếp: Chính là tương quan về vai trò và vị trí, tuổi tác, nghề
nghiệp v.v.. giữa đối tượng và chủ thể giao tiếp. Chủ thể có vai trò và vị trí, tuổi
tác…cao hơn, thấp hơn hoặc ngang bằng với đối tượng giao tiếp. Tùy từng mối
tương quan mà có cách thức giao tiếp khác nhau.

- Chức năng cảm xúc: Qua giao tiếp không chỉ bộc lộ mà còn tạo ra những ấn
tượng, cảm xúc giữa các chủ thể.
- Chức năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau: Qua giao tiếp, con người không
chỉ nhận thức và đánh giá người khác mà còn tự nhận thức, tự đánh giá bản thân.
- Chức năng điều chỉnh hành vi: Trên cơ sở nhận thức, đánh giá lẫn nhau, qua
giao tiếp, mỗi chủ thể có thể có khả năng tự điều chỉnh hành vi của mình cũng như có
thể tác động đến động cơ, mục đích và việc quyết định hành động ở chủ thể khác.
- Chức năng phối hợp hành động: Nhờ có quá trình giao tiếp, con người đã liên
kết, hợp tác với nhau, phối hợp hành động, hoạt động để cùng nhau giải quyết
nhiệm vụ nào đó đạt tới mục tiêu chung.
1.2.4. Phân loại giao tiếp
Có nhiều cách phân loại giao tiếp khác nhau dựa trên các tiêu chí không giống
nhau, trong tâm lý học thường sử dụng các cách chia sau:
* Căn cứ vào khoảng cách giao tiếp, có thể phân chia giao tiếp thành:
Giao tiếp trực tiếp: Là giao tiếp mặt đối mặt, chủ thể trực tiếp phát và nhận tín
hiệu với nhau. Trong giao tiếp trực tiếp, nhiều phương tiện được sử dụng truyền tin
như: ngôn ngữ nói, cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nụ cười, tiếng khóc, các trang phục,
trang sức…
Giao tiếp gián tiếp: Là loại giao tiếp được thực hiện thông qua các phương tiện
truyền tin trung gian như: thư tín, sách báo, phim ảnh, fax… Hiện nay, giao tiếp
gián tiếp được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, nó đòi hỏi thông tin phải ngắn gọn, súc
tích. Việc truyền tin và nhận tin qua giao tiếp gián tiếp phải tuân theo những yêu
cầu, quy định nhất định về ngôn ngữ nói và viết cũng như kỹ thuật, máy móc…
19


Bênh cạnh đó còn có các hình thức giao tiếp trung gian, vừa là giao tiếp trực
tiếp vừa là giao tiếp gián tiếp như giao tiếp qua điện thoại, chát, v.v… là những hình
thức đang ngày càng phổ biến và phát triển mạnh nhờ sự tiến bộ mạnh mẽ của lĩnh
vực công nghệ thông tin và truyền thông.



nghiệp, trong hoàn cảnh đặc biệt như diễn viên, điệp viên, phát thanh viên, các
chính sách, chính trị gia… phải luôn kiểm soát nét mặt của mình, lúc nào cần cười,
lúc nào cần ngạc nhiên, lúc nào cần lo lắng hay buồn bực v.v.
+ Giao tiếp bằng mắt: “Con mắt là cửa sổ của tâm hồn”. Tần số nhìn vào mắt
người khác biểu lộ thái độ đối với người đó. Cái nhìn có thể là tín hiệu của tình
thương yêu nhưng cũng có cái nhìn giận dữ, cái nhìn khinh bỉ…Thông qua ánh mắt,
có thể điều chỉnh hành vi của đối tượng giao tiếp.
+ Giọng nói: Sự lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh, thay đổi ngữ điệu câu…
đều là các tín hiệu giao tiếp. Giọng nói phản ánh các thông tin về cá tính bản thân
người nói, tính hướng nội hay hướng ngoại.
Ngoài các tín hiệu phi ngôn ngữ trên thì các cử chỉ như: lắc đầu, gật đầu, bắt tay,
vẩy tay, tư thế ngồi, đứng hay quỳ… đều có những nội dung tâm lý nhất định trong
giao tiếp, đều phản ánh một thái độ, trạng thái xúc cảm nào đó, cách trang phục,
kiểu cách, quần áo, đầu tóc… đều có ý nghĩa tín hiệu tâm lý trong giao tiếp.
- Giao tiếp vật chất: là loại giao tiếp thông qua hành động với vật thể. Đây là
loại hình giao tiếp đã xuất hiện từ xa xưa, khi ngôn ngữ của con người chưa phát
triển. Giao tiếp bằng vật chất tùy thuộc điều kiện lịch sử, xã hội, nền văn hóa. Vật
thể vốn vô tri, vô giác nhưng khi con người sử dụng nó, hành động với nó trong
giao tiếp thì đã “thổi” vào nó một cái “hồn” nhất định, một bức thông điệp mang
một ý nghĩa nhất định. Hành động với vật chất trong giao tiếp mang những ý nghĩa
rất phong phú. Để sử dụng được phương tiện này một cách có hiệu quả, đòi hỏi chủ
thể phát thông điệp và chủ thể tiếp nhận bức thông điệp phải có những hiểu biết,
kinh nghiệm giao tiếp và sự tinh tế, nhạy cảm trong giao tiếp, đôi khi cần học tập
cách sử dụng nó. Ở nước ta, trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, định hướng giá
trị vật chất ngày càng chiếm vị trí trọng yếu trong hệ thống giá trị mà cá nhân
hướng tới. Giao tiếp vật chất ngày càng trở nên cần thiết và phổ biến trong xã giao
hằng ngày. Vì vậy, giao tiếp vật chất cần được chú ý đến.
1.2.5. Giao tiếp và sự hình thành, phát triển nhân cách.

độ phản hồi của họ, nhờ đó mà biết cách tự tìm hiểu, nhìn nhận, đánh giá mình.
Khó có thể hình dung sự phát triển nhân cách của mỗi người nếu không tạo ra
được sự phát triển song song các phẩm chất, năng lực của cá nhân và của người
khác trong mối quan hệ giao tiếp. Trong quá trình phát triển, con người dần lĩnh hội,
học tập, rèn luyện và khẳng định năng lực của mình qua hoạt động vui chơi, học
tập, lao động. Đồng thời, qua giao tiếp cá nhân được đánh giá, nhìn nhận theo quan
hệ xã hội và đóng góp các giá trị phẩm chất nhân cách của mình cho người khác,
cho xã hội. Chính nhân cách được hình thành và phát triển, bộc lộ trong hoạt động
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status