BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN HẢI HƯNG
ĐỔI MỚI SỰ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT
VỀ HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. DƯƠNG ĐĂNG HUỆ
HÀ NỘI – 2006
MỤC LỤC
Nội dung
Chương,
mục
Phần mở đầu
Chương 1
Thực trạng pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam trước
năm 2005 và sự cần thiết phải hoàn thiện chế định
Thực trạng pháp luật về hợp đồng trước khi ban hành Bộ
luật Dân sự 2005
16
1.3.1
Thực trạng pháp luật về hợp đồng
16
1.3.1.1
Tính phân tán (được quy định rải rác ở các văn bản khác
nhau)
16
1.3.1.2
Thừa nhận sự tồn tại độc lập của hợp đồng kinh tế và hợp
đồng dân sự và hệ quả là thừa nhận 2 hệ thống pháp luật
về hợp đồng (pháp luật hợp đồng kinh tế và pháp luật hợp
đồng dân sự)
1.2.2
1.3
hợp đồng
30
Gây tốn kém thời gian, tiền bạc để xây dựng pháp luật
một cách không cần thiết
30
Gây khó khăn cho các bên trong quá trình ký kết hợp
đồng, gây khó khăn cho toà án khi giải quyết tranh chấp
(không biết áp dụng văn bản pháp luật nào cho phù hợp)
31
Làm mất tính ổn định của quan hệ kinh tế, gây thiệt hại
cho các chủ thể kinh doanh
34
Những vấn đề mới cơ bản về hợp đồng trong Bộ luật
Dân sự năm 2005
36
2.1
Những điểm mới chung cho mọi loại hợp đồng
36
2.1.6
Về chế tài do vi phạm hợp đồng
41
2.1.7
Về bảo vệ người thứ ba ngay tình trong quan hệ hợp đồng
42
2.1.8
Hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý của nó
43
2.2
Những nội dung mới cơ bản trong một số hợp đồng dân
44
Chương 2
s thụng dng
2.2.1
Hp ng bo him
52
Chng 3
Những giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả các quy định
về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và một vài
kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật hợp đồng ở
nước ta
54
3.1
3.1.1
3.1.2
3.1.3
3.1.4
3.2
Nhng gii phỏp nhm thc thi cú hiu qu cỏc quy nh
v hp ng trong B lut Dõn s 2005
54
Danh mc ti liu tham kho
66
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt
BLDS
CHXHCNVN
ĐCSVN
Nxb
PLHĐKT
XHCN
Viết đầy đủ
Bộ luật dân sự
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà xuất bản
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
Xã hội chủ nghĩa
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Chế định hợp đồng dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995
ngày 24.5.2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 chỉ rõ: "Hoàn
thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng tôn trọng thoả thuận của các bên giao
kết hợp đồng, không trái với đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng,
phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế". Nghị quyết số 49-NQ/TW
ngày 02.6.2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
cũng chỉ rõ: "Hoàn thiện pháp luật dân sự, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển
lành mạnh; hoàn thiện chế định hợp đồng, bồi thường, bồi hoàn..."
Thực hiện chủ trương của Đảng, tại kỳ họp thứ 7, ngày 14.6.2005 Quốc hội
khoá XI đã thông qua BLDS năm 2005 thay thế cho BLDS năm 1995. Bộ luật đã
có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về chế định hợp đồng, theo đó BLDS năm
2005 được coi là gốc của ngành luật tư, do đó khái niệm “hợp đồng dân sự”
theo BLDS năm 2005 là khái niệm dân sự theo nghĩa rộng bao gồm các lĩnh vực
dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động. Đồng thời, Nghị quyết số
45/2005/QH11 của Quốc hội về việc thi hành BLDS đã quy định PLHĐKT năm
1989 hết hiệu lực kể từ ngày BLDS sửa đổi năm 2005 có hiệu lực (01.01.2006).
Theo văn bản này, các quan hệ trước đây thuộc phạm vi điều chỉnh của
PLHĐKT nay sẽ được điều chỉnh bởi BLDS và các văn bản pháp luật chuyên
ngành như Luật thương mại, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo
hiểm ...
Với những thay đổi cơ bản như vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện
chế định hợp đồng trong BLDS năm 2005, đặc biệt là những sửa đổi, bổ sung
của chế định này so với các quy định của BLDS năm 1995 có một ý nghĩa quan
trọng về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần nhận thức đúng tinh thần của pháp
luật hợp đồng Việt Nam, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành về pháp luật
hợp đồng, phổ biến giáo dục pháp luật về hợp đồng và tổ chức thực thi hành
pháp luật trên thực tế. Do vậy, học viên chọn đề tài "Đổi mới sự điều chỉnh
pháp luật về hợp đồng trong BLDS năm 2005" làm luận văn tốt nghiệp của
mình.
đúng về chế định hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, ban hành các văn bản
hướng dẫn thi hành, phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật
về hợp đồng trên thực tế. Qua đó nâng cao nhận thức và ứng xử của mọi tầng lớp
nhân dân khi tham gia vào các quan hệ hợp đồng, thúc đẩy sự phát triển các giao
lưu dân sự, kinh tế, thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
2.2. Phạm vi nghiên cứu:
4
Chế định hợp đồng là chế định pháp luật rộng lớn, bao gồm nhiều nội
dung, nhiều vấn đề pháp lý liên quan như: nội dung của hợp đồng, hình thức của
hợp đồng, các nguyên tắc ký kết và thực hiện hợp đồng, các loại hợp đồng thông
dụng, các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, vấn đề hợp đồng vô hiệu và
trách nhiệm pháp lý khi vi phạm hợp đồng... Do vậy, trong phạm vi của một
Luận văn thạc sỹ luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu là:
- Lịch sử và thực trạng điều chỉnh pháp luật về hợp đồng của Việt Nam
trong thời gian qua;
- Những điểm mới cơ bản liên quan đến việc điều chỉnh về hợp đồng nói
chung trong BLDS năm 2005.
- Những điểm mới liên quan đến việc điều chỉnh pháp luật đối với từng
loại hợp đồng cụ thể của BLDS năm 2005;
- Kiến nghị các giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả các quy định về hợp
đồng trong BLDS năm 2005 và một số kiến nghị tiếp tục hoàn thiện chế định
hợp đồng trong tương lai.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
3.1. Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận của Luận văn là các chủ trương, chính sách về phát triển
kinh tế xã hội của Nhà nước, các nguyên lý cơ bản của khoa học lý luận chung
về nhà nước và pháp luật Việt Nam, các quan điểm của ĐCSVN về hoàn thiện
thông qua đó giúp cho việc ký kết và thực hiện các hợp đồng này một cách thuận
lợi.
Thứ ba, tìm ra các giải pháp để đẩy mạnh việc thực thi có hiệu quả các
quy định mới về hợp đồng trong BLDS năm 2005.
6. Cơ cấu của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được cơ cấu thành 03 chương:
- Chương 1: Thực trạng pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam trước năm
2005 và sự cần thiết phải hoàn thiện chế định pháp luật về hợp đồng
- Chương 2: Những vấn đề mới cơ bản về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự
năm 2005
- Chương 3: Những giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả các quy định về
hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và một vài kiến nghị nhằm tiếp tục
hoàn thiện pháp luật hợp đồng ở nước ta.
6
CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG Ở VIỆT NAM TRƯỚC
NĂM 2005 VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP
LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
1.1. Bản chất của hợp đồng
Hợp đồng được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau.
Thứ nhất, hợp đồng là các giấy tờ thể hiện sự thoả thuận giữa các bên về
một vấn đề nào đó mà họ quan tâm (như hợp đồng mua bán nhà ở).
Thứ hai, hợp đồng được dùng để chỉ một văn kiện quy phạm pháp luật hay
một chế định pháp luật nhất định (như chế định hợp đồng dân sự, chế định hợp
đồng bảo hiểm...).
Thứ ba, hợp đồng còn được hiểu theo nghĩa là một quan hệ pháp luật, là sự
phát sinh nghĩa vụ, hợp đồng chỉ có thể có nếu các bên ký hợp đồng có chủ ý xác
lập mối quan hệ trách nhiệm”.[21]
Theo Điều 1101 BLDS Cộng hoà Pháp thì hợp đồng là sự thoả thuận theo
đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển giao
một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó.
Pháp luật dân sự Nhật Bản định nghĩa hợp đồng là “một loại giao dịch
dân sự thể hiện sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên. Mục đích của hợp
đồng thông thường làm phát sinh nghĩa vụ”.[42]
Trung Quốc là một trong những nước có luật riêng quy định về hợp đồng
và độc lập với BLDS. Khái niệm về hợp đồng được quy định tại Điều 2 của luật
này, theo đó: “Hợp đồng là sự thoả thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên nhân, pháp nhân và
các tổ chức khác”[41].
Pháp luật Hoa Kỳ quan niệm hợp đồng là thoả thuận giữa hai hay nhiều
bên có mục đích hợp pháp, theo đó mỗi bên hành động theo cách xử sự nhất định
hoặc cam kết làm hay không làm một việc theo xử sự đó.[43]
Như vậy, dù có những khác biệt nhất định trong quan niệm về hợp đồng,
nhưng dù là trong pháp luật Việt Nam hay pháp luật của các nước trên thế giới,
dù là pháp luật đương đại hay pháp luật cổ đại thì hợp đồng về bản chất vẫn
được hiểu là sự thoả thuận thể hiện sự tự do và thống nhất ý chí giữa các bên liên
quan nhằm hướng tới những lợi ích nhất định mà các bên cùng quan tâm.
1.2. Lịch sử pháp luật hợp đồng Việt Nam
8
Hợp đồng là một trong những chế định pháp luật cổ xưa nhất, do vậy cùng
với sự tồn tại và phát triển của lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, có thể
nhận định chế định hợp đồng đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử pháp luật nước ta.
Tuy nhiên, các nghiên cứu dưới đây chỉ là những nét phác thảo cơ bản nhất về
đồng. Ngoài ra, không phải ai cũng có thể giao kết khế ước mà chỉ những người
có quyền thế, có tài sản và ở vào một lứa tuổi nhất định mới được giao kết khế
ước. Trong các khế ước nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của gia đình thì cha mẹ
giữ một vai trò quan trọng, đặc biệt là người cha, ví dụ: đối với tài sản của cha
mẹ thì chỉ cha mẹ được bán, con cái bán tài sản của cha mẹ thì bị xử phạt rất
nặng (Điều 378 Bộ luật Hồng Đức). Ngoài ra, người trưởng họ cũng có quyền
quyết định trong một số khế ước liên quan đến điền sản, ví dụ: người trưởng họ
có quyền bán điền sản của con cháu trong trường hợp ông bà, cha mẹ đều chết và
có lý do chính đáng (Điều 379 Bộ luật Hồng Đức)[41]. Pháp luật thời Lê còn
quy định các chế tài (phạt trượng, roi, biếm...) do vi phạm khế ước theo mức độ
nặng nhẹ khác nhau. Trong một số trường hợp nếu vi phạm pháp luật các bên
còn phải chịu trách nhiệm tài sản như bồi thường thiệt hại, hoàn trả tài sản hoặc
bị phạt tiền, ví dụ: Điều 378 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Cha mẹ còn sống mà
bán trộm điền sản, con trai thì bị xử phạt 60 trượng, biếm hai tư, con gái thì bị
xử phạt 50 roi, biếm một tư, phải trả nguyên tiền cho người mua, điền sản trả
cha mẹ”.
Về hình thức của khế ước, Bộ luật Hồng Đức quy định các bên không cần
lập văn bản đối với những khế ước đơn giản, có giá trị pháp lý thấp hoặc ít quan
trọng, ví dụ: mua bán lương thực, thực phẩm với một số ít hoặc vay một khoản
tiền nhỏ trong một thời gian ngắn. Đối với các tài sản có giá trị lớn (như ruộng
đất, nhà cửa, trâu bò...) thì việc mua bán phải lập văn tự. Văn tự là bằng chứng
để chứng minh khi xảy ra tranh chấp (Điều 366 Bộ luật Hồng Đức). Nhưng có
một điểm hạn chế là các bên chỉ lập một bản và do một bên giữ. Điều này có thể
dẫn đến tình trạng nếu một bên cố ý huỷ văn tự để có lợi cho mình hoặc văn tự bị
mất, bị hư hỏng do sự kiện tự nhiên thì bên kia sẽ khó khăn trong việc chứng
minh quyền lợi khi có tranh chấp. Bộ luật Hồng Đức còn quy định trong trường
hợp người giao kết không biết chữ thì có thể nhờ người khác viết thay và phải có
người chứng kiến để đảm bảo tính khách quan. Sau đó người viết thay và người
chứng kiến đều phải ký vào văn tự (Điều 366 Bộ luật Hồng Đức). Bộ luật Hồng
Đức đã chú trọng bảo đảm tính khách quan, công minh trong quan hệ khế ước
phát triển kinh tế -xã hội trong thời kỳ nhà nước phong kiến thời Lê Sơ thế kỷ
XV - XVIII.
Bộ luật Gia Long được ban hành năm 1812 dưới triều Nguyễn là Bộ luật
về cơ bản mô phỏng và sao chép các quy định của bộ Đại Thanh luật lệ của triều
Thanh (Trung Hoa). Cũng như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long không sử
dụng khái niệm khế ước mà dùng các khái niệm cụ thể như mua, bán, vay nợ,
thuê tài sản… trong giao lưu dân sự. Bộ luật Gia Long quy định chủ thể giao kết
khế ước phụ thuộc vào lứa tuổi, quan hệ tài sản và quan hệ trong gia đình, trong
11
xã hội. Con cháu, kể cả người đã thành niên hoặc chưa thành niên dưới quyền
của người gia trưởng không được phép có tài sản riêng, do không có khả năng
thanh toán nên họ không được giao kết các khế ước có liên quan đến tài sản của
gia đình nếu không được người gia trưởng cho phép. Trong gia đình phong kiến,
người vợ không được bình đẳng với chồng. Bộ luật Gia Long quy định chỉ người
chồng mới được đứng tên giao kết những khế ước liên quan đến tài sản của gia
đình hoặc nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần của gia đình. Tuy nhiên,
điểm tiến bộ hơn so với Bộ luật Hồng Đức là Bộ luật Gia Long quy định trong
một số khế ước quan trọng như mua bán, vay mượn tài sản thì người vợ cũng
được cùng chồng giao kết các khế ước đó. Những người không có khả năng nhận
thức, điều khiển hành vi của mình như người điên, thác loạn tinh thần thì không
được giao kết khế ước, kể cả lúc họ còn tỉnh táo hoặc trong nhiều năm sau khi
không còn dấu hiệu tâm thần vẫn không được giao kết khế ước (Điều 261 Bộ
luật Gia Long). Về hình thức của khế ước, trong thực tế khi giao kết các khế ước
có đối tượng là tài sản có giá trị lớn như ruộng đất, nhà ở, trâu bò… hoặc là một
số tiền lớn thì các bên thường lập thành văn bản để làm bằng chứng, giao cho
người trái chủ giữ hoặc điểm chỉ trong trường hợp không biết chữ. Nhưng trong
Bộ luật Gia Long không có quy định về hình thức của khế ước. Đây là điểm khác
định đoạt của các bên trong giao kết khế ước, nguyên tắc chịu trách nhiệm dân
sự... Bộ luật Dân sự Trung kỳ có nhiều quy định chi tiết, bố cục rành mạch,
thuận lợi cho việc vận dụng, tra cứu. Cách thức và nội dung quy đinh của Bộ luật
này có ảnh hưởng nhiều của pháp luật dân sự Pháp. Tuy nhiên, cũng do hạn chế
lịch sử và tư tưởng của chủ nghĩa thực dân mà các quyền lợi của người phụ nữ,
của người bản địa không được bảo đảm và thiếu sự bình đẳng trong giao dịch
dân sự.
Nhìn chung, nội dung của các quy định trong ba Bộ dân luật đều cho thấy
pháp luật về hợp đồng được áp dụng chung, thống nhất cho tất cả các hợp đồng
thuộc đối tượng điều chỉnh mà không có sự phân biệt trên cơ sở chủ thể hay mục
đích. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những tư tưởng tự do hoá thương mại và đặc
biệt dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của Luật thương mại Pháp, năm 1942 theo chiếu
dụ số 46 ngày 12/6/1942, chính quyền Nam triều Bảo Đại đã ban hành Bộ luật
thương mại áp dụng tại Trung phần. Bộ luật này điều chỉnh các hành vi thương
mại của các thương nhân. Song, sự xuất hiện của Bộ luật thương mại thời kỳ này
cũng không nhằm phân tách các quan hệ thương mại một cách độc lập với quan
13
hệ dân sự và các quy định pháp luật về hợp đồng nhìn chung vẫn nằm trong một
thể thống nhất. [41]
1.2.2. Pháp luật hợp đồng thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
Ngày 22.5.1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 97/SL cho
phép tiếp tục áp dụng các luật lệ của chế độ cũ nhưng với điều kiện không được
trái với các nguyên tắc của Sắc lệnh này. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt
cơ sở cho sự hình thành và phát triển của pháp luật của nhà nước dân chủ nhân
dân nói chung, pháp luật về dân sự, trong đó có những quy định liên quan đến
hợp đồng nói riêng. Sắc lệnh quy định “Những quyền dân sự đều được pháp luật
bảo vệ khi người ta hành xử nó đúng với quyền lợi của nhân dân” hay “Người ta
Ngày 25.9.1989, PLHĐKT được ban hành. Pháp lệnh là công cụ pháp lý
quan trọng trong ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế giữa các cơ quan, đơn
vị sản xuất kinh doanh quốc doanh giai đoạn này. Tuy nhiên, cùng với sự phát
triển của cơ chế thị trường, sự phát triển mạnh mẽ của giao lưu dân sự. Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế năm 1989 đã không còn phù hợp với thực tiễn. Do vậy, năm
1991, Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh hợp đồng dân sự. Văn bản này
đã thực sự là cơ sở pháp lý quan trọng trong giao lưu dân sự ở nước ta cho đến
khi có BLDS năm 1995. Các tư tưởng, nội dung cơ bản của Pháp lệnh hợp đồng
dân sự 1991 đã được kế thừa và phát triển trong các quy định về hợp đồng của
BLDS năm 1995 và 2005.
Thực chất sự khác nhau cơ bản giữa nội dung của PLHĐKT 1989 và Pháp
lệnh hợp đồng dân sự 1991 chính là mục đích ký kết hợp đồng. Trong hợp đồng
kinh tế, mục đích ký kết là nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, còn
mục đích của hợp đồng dân sự chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng.
Điều này dẫn tới sự phân biệt một cách máy móc về mặt chủ thể tham gia ký kết
hợp đồng kinh tế và dân sự, cơ chế giải quyết tranh chấp đối với hai loại hợp
đồng này... và trên thực tế, đã dẫn đến những vấn đề thực tế nẩy sinh rất phức tạp
trong việc áp dụng pháp luật để ký kết hợp đồng, giải quyết tranh chấp. Năm
1995, BLDS ra đời, khái niệm hợp đồng dân sự do Bộ luật này điều chỉnh thực
chất đã bao trùm lên cả khái niệm về hợp đồng kinh tế trong PLHĐKT nhưng về
mặt pháp lý, nó không thay thế PLHĐKT. Các quy định về hợp đồng trong
BLDS nhìn chung là khá tiến bộ và phù hợp với thực tế, đảm bảo các nguyên tắc
cơ bản về hợp đồng. Đó là tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái pháp luật,
đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực và ngay thẳng. Hầu
hết các quy định đều đơn giản, dễ hiểu, thuận tiện cho việc áp dụng.
15
Tuy nhiên, sau 10 năm thi hành, một số quy định về hợp đồng trong BLDS
16
luôn được nhất quán, đó là sự thoả thuận, tự do ý chí trong giao kết và thực hiện
hợp đồng, trong việc lựa chọn các phương thức, biện pháp giải quyết tranh chấp
hợp đồng. Điều này phản ánh một xu hướng tất yếu trong quá trình hội nhập
quốc tế, phù hợp với thông lệ quốc tế.
1.3. Thực trạng pháp luật về hợp đồng trước khi ban hành Bộ luật Dân sự
2005.
1.3.1. Thực trạng pháp luật về hợp đồng
Hợp đồng là hình thức pháp lý của quan hệ trao đổi hàng hoá. Ở đâu có sự
trao đổi hàng hoá dựa trên sự đền bù ngang giá, sự tự do ý chí và sự bình đẳng
giữa các chủ thể trao đổi thì ở đó xuất hiện hợp đồng. Vì vậy, ở Việt Nam ta
cũng như ở tất cả các nước trên thế giới đều có khái niệm hợp đồng và pháp luật
về hợp đồng.
Tuy nhiên, do trình độ phát triển kinh tế - xã hội, do chế độ chính trị và
tính chất của nền kinh tế ở các nước là không thể hoàn toàn giống nhau, do đó,
trong pháp luật về hợp đồng không thể không có sự khác biệt. Có khi, sự khác
nhau đó lớn đến mức chúng tạo thành những đặc điểm của pháp luật của một số
quốc gia nhất định, trong đó có Việt Nam ta.
Nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển cũng như thực trạng hiện hành
có thể rút ra một số đặc điểm của pháp luật về hợp đồng ở nước ta như sau:
1.3.1.1. Tính phân tán (được quy định rải rác ở các văn bản khác nhau)
Một đặc thù của pháp luật hợp đồng ở Việt Nam là tính phân tán. Trong
pháp luật về hợp đồng Viêt Nam không có một văn bản pháp luật nào được coi là
gốc, mang tính bao trùm về hợp đồng. Hiện nay, pháp luật về hợp đồng của Việt
Nam được quy định rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, bao gồm các
văn bản chủ yếu sau đây:
- Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Nghị định số 17/HĐBT ngày
tài sản; hợp đồng bảo hiểm; hợp đồng uỷ quyền; hứa thưởng và thi có giải.
- Luật Thương mại năm 1998 quy định về hợp đồng trong lĩnh vực thương
mại. Luật Thương mại không phải là văn bản pháp luật quy định chung về hợp
đồng như PLHĐKT và BLDS như vừa nêu trên mà chỉ là một văn bản pháp luật
chuyên ngành, quy định về các nội dung đặc thù của một số hợp đồng được
thương nhân xác lập phục vụ cho hoạt động thương mại của họ mà thôi. Trong
Luật này không có một khái niệm về hợp đồng thương mại cũng như các quy
định chung về hợp đồng thương mại như: nguyên tắc ký kết hợp đồng, điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng, các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng ... Luật này
có liệt kê 14 loại hành vi thương mại (mua bán hàng hoá; đại diện cho thương
18
nhân; môi giới thương mại; uỷ thác mua bán hàng hoá; đại lý mua bán hàng hoá;
gia công trong thương mại; đấu giá hàng hoá; đấu thầu hàng hoá; dịch vụ giao
nhận hàng hoá; dịch vụ giám định hàng hoá; khuyến mại; quảng cáo thương mại;
trưng bày giới thiệu hàng hoá; hội chợ, triển lãm thương mại) và quy định cụ thể
về mỗi loại hợp đồng trong các hoạt động này. Trong mỗi loại hợp đồng, Luật
Thương mại có thể có những quy định liên quan đến: điều kiện chủ thể của hợp
đồng; hình thức của hợp đồng; các nội dung chủ yếu cần phải có trong hợp đồng;
những quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên tham gia quan hệ hợp đồng; các
yêu cầu cơ bản đối với việc thực hiện hợp đồng; các chế tài được áp dụng khi
hợp đồng bị vi phạm; các hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng,
thủ tục khiếu nại đối với vi phạm hợp đồng và thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp
đồng.
Ngoài ra, trong các lĩnh vực cụ thể thì các văn bản chuyên ngành lại có
những quy định về hợp đồng trong từng lĩnh vực như Luật Các tổ chức tín dụng,
Luật Hàng không, Bộ luật Hàng hải, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Xây dựng
…
hợp đồng dân sự. Khái niệm hợp đồng kinh tế được bắt đầu sử dụng trong Điều
lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành năm 1960, sau đó được ghi
nhận trong Điều lệ về chế độ Hợp đồng kinh tế năm 1975 và PLHĐKT năm
1989. Đồng thời với khái niệm hợp đồng kinh tế tồn tại khái niệm hợp đồng dân
sự được thể hiện trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 và BLDS năm
1995.
Có được truyền thống lập quy này ở Việt Nam là vì những lý do cơ bản
sau đây:
Thứ nhất, có ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của các nước mà Việt
Nam một thời gian dài đã có quan hệ kinh tế, chính trị chặt chẽ.
- Thời thuộc Pháp: Pháp là nước thuộc trường phái Luật Châu Âu lục địa,
ở đó có sự phân biệt hành vi dân sự và hành vi thương mại, có BLDS bên cạnh
Bộ luật Thương mại. Đặc điểm này đã ghi dấu ấn vào hoạt động lập pháp ở Việt
Nam: bên cạnh BLDS luôn luôn tồn tại Bộ luật Thương mại với nội dung giống
hệt Bộ luật thương mại Pháp.
- Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám: trong suốt gần 50 năm sau Cách
mạng Tháng Tám, khoa học pháp lý cũng như thực tiễn lập pháp Liên Xô ảnh
hưởng rất lớn đến quan điểm khoa học cũng như hoạt động xây dựng pháp luật
của Việt Nam. Liên Xô có ngành luật dân sự và Luật Kinh tế, có khái niệm hợp
20
đồng kinh tế và khái niệm hợp đồng dân sự. Việt Nam cũng có những quan niệm
và những ngành luật tương tự.
Tóm lại, Liên Xô theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, có sự phân biệt
khá rạch ròi giữa luật dân sự và luật kinh tế, hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh
tế. Trong điều kiện liên minh kinh tế, chính trị chặt chẽ với Liên Xô trong gần
một phần hai thế kỷ qua thì luật pháp Việt Nam không thể không bị ảnh hưởng
bởi quan niệm khoa học pháp lý này.