Hình tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn của Thạch Lam và Rabindranath Tagore (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––

VI THỊ THỎA

HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA THẠCH LAM
VÀ RABINDRANATH TAGORE

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––––––

VI THỊ THỎA

HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA THẠCH LAM
VÀ RABINDRANATH TAGORE
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM


khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học này.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn

Vi Thị Thỏa

ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan .................................................................................................................. i
Lời cảm ơn .....................................................................................................................ii
Mục lục ........................................................................................................................ iii
Danh mục các bảng ....................................................................................................... iv
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .........................................................................9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................10
5. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................11
6. Dự kiến đóng góp của luận văn ...........................................................................11
7. Cấu trúc luận văn .................................................................................................11
Chương 1: THẠCH LAM VÀ R.TAGORE: THỜI ĐẠI - NHỮNG ĐIỂM
TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT ...........................................................................12
1.1. Thời đại .............................................................................................................12
1.1.1. Xã hội .........................................................................................................12
1.1.2. Văn hóa .......................................................................................................15
1.2. Cuộc đời, sự nghiệp của Thạch Lam và R.Tagore ............................................20
1.2.1. Cuộc đời, con người ...................................................................................20
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác ......................................................................................25

3.3.2. Giọng điệu trân trọng .................................................................................79
3.3.3. Giọng điệu triêt lý.......................................................................................82
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................................85
KẾT LUẬN .................................................................................................................86
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................89

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Khảo sát nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn của Thạch Lam ...........37
Bảng 2.2: Khảo sát nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn của R.Tagore ........40

iv


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thạch Lam (1910 - 1942) là nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện
đại giai đoạn 1930 - 1945. Ông được đánh giá là một trong những cây bút tỏa sáng
nhất nhóm Tự lực văn đoàn. Tuy nhiên, khác các nhà văn Tự lực văn đoàn, Thạch
Lam tìm cho mình một hướng đi riêng: kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và lãng
mạn. Hướng đi ấy thể hiện bản lĩnh, cá tính của một cây bút giàu tính nhân văn, một
tâm hồn nhạy cảm, một văn phong trong sáng, tinh tế.
Đóng góp của Thạch Lam khá khiêm tốn về số lượng, nhưng ông đã để lại di sản
văn học quý báu ở nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, ký. Làm nên tên tuổi của nhà
văn là truyện ngắn. Những tác phẩm của ông không chỉ khẳng định sự nghiệp của một
nhà văn mà còn có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển của văn học Việt Nam.
Ngòi bút Thạch Lam luôn hướng về phía những người nghèo khổ với tấm lòng
trắc ẩn chân thành. Khung cảnh thường thấy trong các truyện ngắn của ông là những

1.2. Văn học so sánh là tên gọi một hệ phương pháp luận, không chỉ cho phép
người nghiên cứu so sánh các hiện tượng văn học ở các quốc gia khác nhau theo quan
hệ giao lưu mà còn có thể so sánh văn học theo quan hệ tương đồng. Ấn Độ và Việt
Nam là hai quốc gia Châu Á. Dù có rất nhiều khác biệt nhưng cũng có những điểm
gần giống nhau. Văn học hiện đại của hai nền văn học đều có cơ sở xã hội là những
nước thuộc địa của các đế quốc phương Tây. Tuy không hoàn toàn trùng khít thời
gian sinh trưởng, sáng tác nhưng Thạch Lam và R.Tagore đều sáng tác vào những
thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Với tư cách sáng tạo cá nhân, hai nhà văn này thành công
ở thể loại truyện ngắn. Những điều kiện trên là cơ sở cho phép chúng tôi nghiên cứu,
so sánh truyện ngắn của Thạch Lam và R.Tagore ở phương diện hình tượng nhân vật
trong quan hệ tương đồng. Thực tế, có thể có những nghiên cứu độc lập về tác phẩm
của Thạch Lam và R.Tagore, nhưng đặt hai nhà văn này trong thể đối sánh để thêm
một cách đọc hiệu quả hơn vẫn là chuyện hết sức mới mẻ, cần thiết.
1.3. Tác phẩm của Thạch Lam và R.Tagore đã được đưa vào chương trình Ngữ
văn Trung học cơ sở, Ngữ văn Trung học phổ thông và chuyên ngành văn ở các
trường Đại học ở Việt Nam từ lâu. Trong xu thế đổi mới giáo dục và xu hướng toàn
cầu hóa, việc mở rộng, giao lưu, hội nhập rất quan trọng. Việc dạy - học tác phẩm
trong nhà trường ở Việt Nam không chỉ bó hẹp trong phạm vi các tác phẩm đơn lẻ mà
cần phải mở rộng, tích hợp để tăng hiệu quả thẩm mĩ, giáo dục. Chọn “Hình tượng
nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn của Thạch Lam và R.Tagore” làm
đối tượng nghiên cứu, chúng tôi muốn góp phần vào việc dạy - học tác phẩm của hai
nhà văn này ở Việt Nam một cách hiệu quả hơn.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu hình tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện
ngắn Thạch Lam
2.1.1. Nghiên cứu hình tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn Thạch Lam
Sự xuất hiện của Thạch Lam trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX gắn
liền với chặng đường mới trong văn xuôi nghệ thuật nói chung và truyện ngắn nói

2

Giáo sư Phong Lê trong Thạch Lam - Tinh tế và đằm thắm tình người (Vẫn
chuyện văn và người, 1999) nhận xét: “Ngòi bút Thạch Lam tinh tế và đằm thắm biết
bao trên những trang văn về người phụ nữ và con trẻ... Từ ngày tập truyện ngắn đầu
tay Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam ra đời cho đến nay, nhiều truyện ngắn của ông
vẫn làm ta xúc động, xót xa, thương cảm cho số phận con người. Dù ở xã hội nào,
người chịu nhiều thiệt thòi, đau khổ hơn cả chính là phụ nữ và trẻ em. Có lẽ bởi vậy

3


mà họ luôn là đối tượng được các thế hệ nhà văn quan tâm nhất. Thạch Lam cũng
vậy, hình ảnh phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn của ông luôn khắc sâu vào ký ức
người đọc về sự tồn tại của kiếp người” [dẫn theo 22, tr.289].
Góp tiếng nói vào vấn đề này, Lê Tâm Chính trong Thế giới trẻ thơ qua đôi
mắt Thạch Lam (2000), nhận xét: “Các nhân vật trẻ thơ của Thạch Lam có những
khuôn mặt riêng: đẹp nhưng buồn” [dẫn theo 22, tr.419]; “Những trang viết về trẻ thơ
của Thạch Lam bao giờ cũng man mác một thứ tình âu yếm. Nó nhẹ nhàng mà ám
ảnh. Cái tình âu yếm ấy không chỉ là cái nhìn nhân hậu, yêu thương của người lớn
giành cho lứa tuổi này mà còn là sự hóa thân của nhà văn vào lũ trẻ, là sự ám ảnh của
tuổi thơ Thạch Lam gắn với cái phố huyện Cẩm Giàng” [dẫn theo 22, tr.427]. Lê Tâm
Chính đã chú trọng đến cái nhìn của nhà văn đối với trẻ em trong các sáng tác trữ tình
đượm buồn của tác giả. Theo Lê Tâm Chính, đây cũng chính là nhân tố tạo nên
phong cách, tính nhân văn đằm sâu cho trang viết Thạch Lam.
Luận văn của Nguyễn Thị Mộng Thơ: “Hình tượng nhân vật trẻ em trong các
sáng tác của Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng trước cách mạng tháng Tám
1945” (2011) nghiên cứu về mối quan hệ của trẻ em với hoàn cảnh sống và mối quan
hệ với chính mình. Trong đó, Nguyễn Thị Mộng Thơ cho rằng: những đứa trẻ dù
sống trong cảnh lầm than, đói khổ nhưng khao khát, ước mơ của những tâm hồn trẻ
thơ ấy vẫn không bao giờ lụi tắt, cứ âm ỉ chờ dịp phát sáng.
Phạm Thị Quyên trong luận văn: “Người phụ nữ trong truyện ngắn Thạch

Luận văn: Truyện ngắn Thạch Lam - truyện ngắn Pauxtôpxki - sự gặp gỡ về
phong cách nghệ thuật (2010) của tác giả Trần Thị Thắm đã làm rõ những đặc điểm
về quan niệm nghệ thuật, nội dung tự sự trong truyện ngắn của Thạch Lam so sánh
với Pauxtôpxki để thấy sự “giao thoa” trong đặc sắc truyện ngắn giữa họ.
Tác giả Vi Li trong bài viết: Gặp Thạch Lam ở Cẩm Giàng thì nhận định: “Mỗi
truyện là một bài thơ trữ tình đầy xót thương. Mỗi chữ Thạch Lam là sương ngọc, từ
tâm hồn mẫn cảm, nước mắt cho ta thanh lọc tinh thần. Truyện không có chuyện mà
chữ có hồng cầu, Thạch Lam như Ivan Bunin (1870 - 1953) của Nga, văn khiết tình,
thê mỹ” [19, tr.2].
Tác giả Thanh Huyền trong bài viết: Cảm nhận về những em bé trong Gió lạnh
đầu mùa, Trong lòng mẹ, Bố của Xi mông (2014) đã so sánh những nhân vật trẻ em trong
các sáng tác của Thạch Lam với Nguyên Hồng và Mô-pa-xăng để thấy những em bé ấy
đều đáng yêu, đáng quý, đáng thương. Thanh Huyền nhận định: Qua hình ảnh các em,
các nhà văn đã cất lên tiếng nói phê phán xã hội vô nhân đạo đã chà đạp lên cả những
tâm hồn trẻ thơ trong sáng, cướp đi cả cuộc sống và ước mơ bình dị của các em.
Nguyễn Thanh Phong ở bài viết: Cảm nhận về hình tượng người bà trong “Bà
tôi” của M.Goocki và “Về thăm bà” của Thạch Lam (2016) đã so sánh hình tượng
người bà trong hai tác phẩm để chỉ ra điểm giống và khác nhau của người phụ nữ ở
hai nền văn hóa. Tác giả cảm nhận: “Bà ngoại của Mácxim Gooki là người Nga hẳn
khác bà của Thạch Lam về hình thể nhưng lại giống nhau ở tấm lòng nhân hậu, giống
nhau về tình cảm trìu mến, yêu thương giành cho con cháu” [59]. Cuối cùng tác giả
đã nhận định: cả hai hình tượng người bà đều có sức lay động lớn bởi nó chạm được

5


tới nhịp đập nóng hổi của nhân sinh, đánh thức sự rung động trước niềm yêu của bao
người bởi cái tình họ giành cho nhau.
2.2. Tình hình nghiên cứu hình tượng phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn R.Tagore
2.2.1. Nghiên cứu hình tượng phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn R.Tagore ở

6


Giáo sư phê bình người Bengal Promonthonath Bishi năm 1961 cũng góp
tiếng nói khẳng định tài năng của R.Tagore: Không có một nhà văn Bengal nào có thể
tạo ra nhiều nét đặc sắc như R.Tagoge đã làm đối với tác phẩm của mình... không chỉ
là từ việc điểm những con số, mà trong sự khác biệt ở những nét đặc sắc này là cả
một sự sáng tạo tuyệt vời.
Năm 1967, ở bài viết Truyện ngắn của R.Tagore in trong tập Rabindranath
Tagore, do nhà xuất bản Twayne (New York) phát hành, tác giả Mary. M. Lago cho
rằng: truyện ngắn của R.Tagore được xem là những truyện ngắn hiện đại đầu tiên
trong nền văn học Bengal. Ông nêu một vài chủ đề chính trong truyện ngắn của
R.Tagore: Sự tương phản giữa nông thôn và thành thị; giá trị của giáo dục; chủ nghĩa
dân tộc và chính trị; phụ nữ và cộng đồng.
Năm 1989, Bhattacharya trong bài viết của mình đã đề cập đến những yếu tố
siêu nhiên trong 10 truyện ngắn của R.Tagore. Theo ông, điều đó đã tạo nên phong vị
đặc biệt của các câu chuyện. Bhattacharya cho rằng: đằng sau những yếu tố siêu
nhiên đó, R.Tagore muốn đưa độc giả đến một tầm sâu hơn về ý nghĩa xã hội, về mặt
văn hóa. Ông muốn trình bày sự phản kháng của mình đối với những thực tế đang tồn
tại dựa trên sự tàn bạo, nhẫn tâm, vô nhân tính và phi lý của xã hội Ấn Độ và khiến
độc giả nhìn sâu hơn vào thực tế đó.
Lansing Evans Smith năm 1997 đã có bài viết bàn về những yếu tố hoang
đường trong truyện Đá đói của R.Tagore trong sự so sánh với truyện ngắn của
Hoffmann và Charlotte Perkins Gilman.
Qua những tài liệu đã sưu tầm được, chúng tôi thấy: các công trình nghiên cứu đã
phân tích sâu sắc về truyện ngắn R.Tagore nhưng còn rất ít công trình nghiên cứu hình
tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn của ông. Đây là vấn đề cần được
nghiên cứu nhiều hơn để có thêm cơ sở khẳng định tầm vóc truyện ngắn của R.Tagore.
2.2.2. Nghiên cứu hình tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn của
R.Tagore ở Việt Nam

qua nhiều thế hệ. Thật đáng ngạc nhiên là nếu như chúng ta có thể tìm được một đặc
điểm chung của các nhân vật nữ trong các tác phẩm của R.Tagore thì chính là đặc
điểm rằng họ có tính cách mạnh mẽ hơn nam giới” [9, tr.112 - 113].
Lê Thanh Huyền trong luận văn: Thế giới nhân vật trong Mây và Mặt trời R.Tagore (2007) nghiên cứu tính cách, số phận nhân vật trẻ em và khám phá vẻ
đẹp của người phụ nữ ở cả hình thức và nội tâm. Tác giả kết luận: “R.Tagore dành
nhiều tình cảm cho nhân vật trẻ em, phụ nữ, những người dân nghèo khổ, những
trí thức Tây học. Ông lên án xã hội với những quan niệm lạc hậu, với sự phân biệt
đẳng cấp, sự bất công cùng sự áp bức, bóc lột của thực dân đã khiến họ phải chịu
bao đau khổ” [13, tr.132].
Nguyễn Thị Thanh Thủy ở bài viết Hình ảnh người phụ nữ mới Ấn Độ trong
văn xuôi Tagore (2011), đã nhận xét: “Hình ảnh phụ nữ trong văn xuôi Tagore luôn ý
thức được giá trị của bản thân, tràn đầy một năng lượng sống và khát khao được yêu
đích thực, thậm chí sẵn sàng tranh đấu để có được tình yêu ấy” [43, tr.95].

8


Năm 2013, Lý Văn Nghĩa trong luận văn: Giá trị nhân đạo trong truyện ngắn
của Rabinđranath Tagore đã nghiên cứu về nhân vật trẻ em và phụ nữ trong truyện
ngắn của R.Tagore. Theo tác giả, những biểu hiện của giá trị nhân đạo trong truyện
ngắn của R.Tagore là tình yêu thương đối với trẻ em và lòng ưu ái đối với phụ nữ.
Tác giả khẳng định: “Trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, R.Tagore đã san sẻ, đã hiểu
nỗi đau thương thầm lặng tràn trề của nhân dân, nhất là những người phụ nữ, những
đứa trẻ bơ vơ, những con người cùng cực, khốn khổ, để rồi cùng khóc, cùng đau,
cùng bước chung một con đường của nhân vật” [23, tr.110].
Nghiên cứu lịch sử vấn đề Hình tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong
truyện ngắn của Thạch Lam và R.Tagore chúng tôi nhận thấy:
1. Về Thạch Lam: Các nhà nghiên cứu đã quan tâm tới nhân vật phụ nữ, trẻ em
trong truyện ngắn của ông và xuất hiện nhiều bài viết, công trình có giá trị. Nhưng đặt
hình tượng nhân vật ấy trong thể so sánh với truyện ngắn của các nhà văn nước ngoài

Để đạt mục đích trên, nhiệm vụ của chúng tôi là:
- Khảo cứu cơ sở lịch sử xã hội, văn hóa Việt Nam, Ấn Độ cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỉ XX trong mối quan hệ với cuộc đời, sáng tác của Thạch Lam và R.Tagore.
- Khảo cứu, so sánh hình tượng nhân vật phụ nữ, trẻ em trong truyện ngắn của
Thạch Lam và R.Tagore từ phương diện nội dung.
- Khảo cứu, so sánh hình tượng nhân vật phụ nữ, trẻ em trong truyện ngắn của
Thạch Lam và R.Tagore từ phương diện hình thức.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã thể hiện: Hình tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong
truyện ngắn của Thạch Lam và R.Tagore, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là
hình tượng nhân vật phụ nữ, trẻ em trong truyện ngắn của Thạch Lam và R.Tagore
trong sự so sánh tương đồng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề thuộc hình tượng nhân vật phụ
nữ, trẻ em trong truyện ngắn của Thạch Lam và R.Tagore trong sự so sánh ở một số
phương diện nội dung và nghệ thuật.
- Thực hiện đề tài Hình tượng phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn của
Thạch Lam và R.Tagore chúng tôi tập trung khảo cứu trên các văn bản:
* Với Thạch Lam, chúng tôi khảo sát các truyện ngắn ở 2 tập:
- Gió lạnh đầu mùa (Tập truyện, NXB Văn học, 2010).
- Thạch Lam tuyển tập (Tập truyện, NXB Văn học, 2012). Gồm 33 truyện ngắn.
* Với R.Tagore, chúng tôi khảo sát trên bản dịch tập R.Tagore - Tuyển tập tác
phẩm, tập II, nhiều người dịch, do Lưu Đức Trung tuyển chọn, giới thiệu, được NXB
Lao động và Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội ấn hành năm 2004.
Gồm 37 truyện ngắn.
Trong quá trình khảo cứu truyện ngắn R.Tagore, chúng tôi sẽ so sánh với nguyên
bản tiếng Anh Stories from Tagore (The Macmilan Company, New York, 2010).

10

Thời đại - những điểm tương đồng và khác biệt.
Chương 2: Hình tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn của
Thạch Lam và R.Tagore nhìn từ phương diện nội dung.
Chương 3: Hình tượng nhân vật phụ nữ và trẻ em trong truyện ngắn của
Thạch Lam và R.Tagore nhìn từ phương diện hình thức thể hiện.

11


Chương 1
THẠCH LAM VÀ R.TAGORE:
THỜI ĐẠI - NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
1.1. Thời đại
1.1.1. Xã hội
Nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn
tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh đặt
ra yêu cầu bức thiết về thị trường. Vì thế, các nước đế quốc đua nhau xâm lược Châu
Á, châu Phi, Mỹ La Tinh. Việt Nam và Ấn Độ là hai nước nằm trong khu vực châu
Á, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, trở thành mục tiêu xâm lược của đế
quốc, thực dân. Năm 1858, thực dân Pháp tiến công quân sự chiếm Việt Nam. Từ
năm 1849, Ấn Độ trở thành thuộc địa của Anh. Dưới chế độ cai trị của thực dân, xã
hội Việt Nam và Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng và khác biệt.
1.1.1.1. Những điểm khác biệt
Trước khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia phong kiến độc
lập có chủ quyền, dưới sự cai trị của triều đình nhà Nguyễn. Các vua nhà Nguyễn cố
gắng xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia hùng mạnh nhưng chính sách có
nhiều thiếu sót và chưa hợp lý. Đối diện với cuộc xâm lược của Pháp, tình hình trong
nước gặp nhiều khó khăn: nông nghiệp ngày càng sa sút, công thương nghiệp đình
đốn, quân sự lạc hậu, chính sách đối ngoại có những sai lầm… Trước một kẻ xâm
lược đến từ phương Tây với sự vượt trội về tất cả các mặt, triều đình nhà Nguyễn lâm

Tại Ấn Độ, Anh hoàng giao phó quyền thế cho phó vương Ấn Độ, thay thế cho
vị toàn quyền Ấn Độ cũ và trực thuộc Bộ Ấn Độ, phó vương được phụ tá bởi một hội
đồng hành pháp gồm 6 ủy viên lập nên một Bộ nhỏ với một chuyên viên tài chính,
một nhân viên công chính, một chuyên viên tư pháp và những chuyên viên khác.
Về chính trị: Ở Việt Nam, Pháp tiến hành chia Việt Nam thành 3 xứ với bộ
máy cai trị khác nhau: Bắc Kỳ và Trung Kỳ là hai xứ bảo hộ, Nam Kỳ là đất thuộc
địa hoàn toàn của Pháp. Ở Trung Kỳ, Pháp vẫn duy trì triều đình nhà Nguyễn nhưng
vua An Nam không có thực quyền mà do Khâm sứ Trung Kỳ nắm quyền, mỗi bộ đều
có một viên chức Pháp với Hội đồng bảo hộ giúp việc. Trong quá trình cai trị, thực
dân Pháp luôn kiểm soát chặt chẽ và đặt những cơ cấu xã hội cũ dưới quyền cai trị
của mình, đồng thời tìm mọi cách cắt xén quyền hành, hạ thấp vai trò của triều đình
Huế. Hành động của thực dân Pháp làm nhân dân Việt Nam cảm thấy bị áp bức, bóc
lột nhiều hơn các thuộc địa khác dẫn đến hàng loạt cuộc đấu tranh chống Pháp nổ ra.
Tại Ấn Độ, sau cải cách năm 1858, Anh đưa đến cho cả ba quận Bengale,
Madras và Bombay những hội đồng lập pháp: quyền lập pháp trong tay quan toàn
quyền ở Calcutta, quyết định cho tất cả Ấn Độ thuộc Anh. Nhiều cải cách quan trọng
khác được thực hiện trong tổ chức quân sự và tư pháp. Các đội quân của công ty
Đông Ấn cũ nay đặt dưới quyền Anh hoàng nhưng chỉ dân bản xứ mới được làm lính
trong các quân đội ấy. Bên cạnh phần lãnh thổ là thuộc địa Anh vẫn còn phần lãnh
thổ thuộc các hoàng gia Ấn. Các tiểu quốc này nằm giữa bán đảo, mỗi tiểu quốc trên

13


nguyên tắc đều độc lập và ràng buộc với Anh bởi một hiệp ước riêng, trong đó xác
định trách nhiệm của nó đối với Anh quốc. Trước nguy cơ chống đối của nhân dân
thuộc địa Ấn, Anh đã tìm cách ràng buộc khéo léo lãnh thổ của các tiểu vương quốc
mà không làm mất đi quyền lợi của chính quốc. Tuy nhiên, tất cả các lãnh thổ tự trị
đều phải thừa nhận sự đứng đầu về mặt “tinh thần” của nữ hoàng Anh. Đây thực chất
là sự thành lập một thứ quyền lực tự trị có kiểm soát được đảm bảo bằng quyền tối



cấp tư sản Việt Nam và Ấn Độ. Giai cấp công nhân sau đó trở thành giai cấp tiên
phong trong phong trào giải phóng dân tộc.
Giai cấp tư sản Việt Nam bao gồm: tư sản mại bản, tư sản dân tộc. Tư sản mại
bản có quyền lợi gắn với thực dân Pháp, trở thành đối tượng của cách mạng, còn tư
sản dân tộc bị Pháp chèn ép nên họ có tinh thần chống thực dân Pháp, chống phong
kiến nhưng tư tưởng giao động. Giai cấp tư sản Ấn Độ phần lớn xuất thân từ các
Zamindar (địa chủ), các Rajah (vương công), những người buôn bán và cả những
người cho vay lãi nặng. Thực dân Anh không thể tự mình thâu tóm, điều hành các
nhà máy, xí nghiệp, chúng buộc phải cho phép tầng lớp có thế lực ở địa phương làm
chủ. Những nhà tư bản này từ chỗ là những nhà buôn hay những người cho vay nặng
lãi đã vươn lên, chớp thời cơ làm ăn với tư bản Anh, trở thành nhóm tư sản mại bản
đầu tiên ở Ấn Độ.
Giai cấp tiểu tư sản Việt Nam bao gồm: học sinh, trí thức, viên chức, những
người làm nghề tự do. Trong đó, giới trí thức và học sinh là bộ phận quan trọng của
tầng lớp tiểu tư sản. Đời sống của tư sản Việt Nam bấp bênh, dễ bị phá sản trở thành
những người vô sản. Tiểu tư sản Việt Nam có lòng yêu nước, căm thù đế quốc thực
dân, lại chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào nên đây
là lực lượng có tinh thần cách mạng cao. Được phong trào cách mạng rầm rộ của
công - nông thức tỉnh, họ bước vào hàng ngũ cách mạng ngày càng đông, đóng vai
trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân nhất là ở thành thị. Tại Ấn
Độ, tầng lớp trí thức tiểu tư sản là những người vừa được trang bị vốn kiến thức hiện
đại, vừa được hấp thu nền văn hóa phương Tây với những tư tưởng tự do, tiến bộ,
đồng thời luôn gìn giữ trong mình những mạch chảy của truyền thống dân tộc. Vì thế,
dù còn ít ỏi về số lượng nhưng họ là một lực lượng vô cùng quan trọng, là bộ phận đi
đầu trong các cuộc vận động dân chủ ở Ấn Độ.
Như vậy, bên cạnh các giai cấp cũ, sự ra đời của các giai cấp mới đã làm thay
đổi cơ bản tình hình chính trị, xã hội ở Việt Nam và Ấn Độ. Các giai cấp này đều
mang thân phận những người bị mất nước ở mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp

chia thành 4 đẳng cấp là: Bàlamôn, Ksatria, Vaixia, Sudra. Vì vậy, Ấn Độ luôn phải
đối mặt với vấn đề quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần đó là tình trạng phức
tạp về dân tộc, tôn giáo và đẳng cấp. Truyền thống Ấn Độ quy định một cách nghiêm
ngặt những người thuộc về quan hệ đẳng cấp khác nhau không được lấy nhau. Đẳng
cấp của mỗi người được thừa kế từ đời này sang đời khác. Chế độ đẳng cấp ảnh
hưởng lâu dài, sâu rộng đến mọi mặt đời sống Ấn Độ. Khác với người Việt Nam,
người Ấn Độ rất coi trọng đời sống tâm linh hướng tới sự giải thoát sau cái chết. Tư
duy luôn luôn hướng về cái tuyệt đối, luôn chiêm nghiệm, hướng nội.
* Sự tương đồng
Sau khi đặt ách thống trị tại Việt Nam, Pháp áp dụng chính sách “đồng hóa”.
Người An Nam từ lâu đã có một hệ thống đạo đức, giáo dục, một thể chế chính trị xã hội phức tạp về mặt tổ chức. Người Pháp phải đối mặt với một xã hội hoàn toàn
khác về các quy tắc ứng xử, các giá trị truyền thống. Sự ra đời của những luật lệ mà
Pháp đưa ra thường mâu thuẫn với phong tục đạo đức, xã hội Việt Nam, sự ép buộc
đó làm nhân dân Việt Nam vô cùng thất vọng. Với tinh thần yêu nước và lòng tự

16


trọng dân tộc, thái độ trước hết của người Việt Nam, đặc biệt các nhà Nho yêu nước
là chống trả quyết liệt cả về chính trị, văn hóa của thực dân Pháp. Họ không tiếp nhập
chữ quốc ngữ, không học tiếng Tây, không dùng hàng Tây… Tuy nhiên, bằng thái độ
mềm dẻo, cởi mở, dần dần họ đã tiếp nhận những giá trị văn hóa mới để phát triển
văn hóa dân tộc và sử dụng chúng trong công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giành
độc lập dân tộc. Sự tiếp xúc văn hóa Pháp - Việt đã đưa đến sự chuyển biến văn hóa
Việt Nam khá mạnh mẽ, diện mạo văn hóa Việt Nam đã thay đổi trên các phương
diện: Thứ nhất là chữ quốc ngữ từ loại chữ viết chỉ dùng trong nội bộ một tôn giáo đã
được dùng như chữ viết của một nền văn hóa. Thứ hai là sự xuất hiện của các phương
tiện văn hóa như: nhà in, máy in ở Việt Nam. Thứ ba là sự xuất hiện của báo chí, nhà
xuất bản. Thứ tư là sự xuất hiện của một loạt các thể loại, loại hình văn nghệ như:
tiểu thuyết, thơ mới, điện ảnh, kịch nói, hội họa… góp phần hiện đại hóa văn hóa dân

nét khác biệt.
Ở Việt Nam, bên cạnh nền văn học viết bằng chữ Hán, chữ Nôm còn xuất
hiện và lan rộng nền văn học hiện đại bằng chữ quốc ngữ với nhiều thể loại: thơ,
tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch. Bên cạnh đó, kho tàng văn chương Việt Nam còn
được làm giàu lên nhờ các tác phẩm dịch thuật, nhiều tác phẩm đã gây được ấn
tượng mạnh đối với độc giả. Nền văn học dân tộc đã biết đặt mình vào môi trường
chung của thế giới và xem sự phát triển của mình phụ thuộc vào khả năng thu hút
những tinh hoa tốt đẹp của nhân loại. Tuy nhiên, dù văn học Việt Nam ảnh hưởng
từ văn học Pháp rất lớn nhưng Việt Nam không có dòng văn học bằng tiếng Pháp
mà chỉ có một số bài viết bằng tiếng Pháp in trên các báo: Chuông rè, Tiếng nói của
chúng ta, Tập hợp, Tiến lên… Một số tác giả tiêu biểu thời kỳ này như: nhóm Tự
lực văn đoàn, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố… Trong đó,
Thạch Lam là một trong những trí thức Tây học, ông vừa tiếp nhận cái sáng sủa
mạch lạc rất tiêu biểu của Pháp, vừa thấm nhuần chất duy lý trong văn học Pháp,
dần dần ông kết hợp hài hòa giữa hai nền văn hóa Đông - Tây tạo nên các tác phẩm
rất độc đáo, trở thành một trong những tác giả có nhiều đóng góp trong việc mang
lại chất nghệ thuật cho văn xuôi và có ảnh hưởng lớn đến quá trình hiện đại hóa văn
học dân tộc.
Ở Ấn Độ, văn học có sự chuyển biến mạnh mẽ gắn với phục hưng đất nước.
Nền văn học lúc này hình thành ba khuynh hướng: bài ngoại, sùng ngoại, dung hòa
văn hóa Đông Tây. Ngoài chống đế quốc, văn học thời này còn đấu tranh chống trào
lưu văn học suy đồi, phản nhân tính. Các tác giả tiêu biểu: Prem Chanđơ, Ôbinđơ
Gôdơ, Valatôn,… đặc biệt là R.Tagore - người đã phất cao ngọn cờ phục hưng, kêu
gọi cách tân văn học, hòa hợp văn hóa Đông Tây và cống hiến nhiều tác phẩm xuất
sắc. Đối với R.Tagore, chống thực dân không phải là chống văn minh châu Âu. Tác
giả quan niệm: Đông và Tây “chỉ là hai bán cầu của trí não nhân loại. Nếu một bên bị
bất toại thì toàn thân thể sẽ bị thoái hóa”. Ông đã đưa nền văn học Bengan và cả nền
văn học Ấn Độ lên đỉnh cao chói lọi. Thơ ca của ông đã cất cao lời kêu gọi “đòi cơm

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status