đại học thái nguyên
trờng đại học nông lâm
------------------------
đỗ bích nga
nghiên cứu khả năng sinh trởng, cải tạo
và chống xói mòn sạt lở đất của một số cây
che phủ đất tại lào cai
CHUYấN NGNH: TRNG TRT
M S: 60 62 01
Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Thỏi Nguyờn, nm 2010
đại học thái nguyên
2
trờng đại học nông lâm
------------------------
đỗ bích nga
nghiên cứu khả năng sinh trởng, cải tạo
và chống xói mòn sạt lở đất của một số cây
che phủ đất tại lào cai
CHUYấN NGNH: TRNG TRT
- Ban giám hiệu trường Trung cấp nghề Lào Cai và tập thể cán bộ
giáo viên khoa Nông lâm nghiệp, học sinh lớp Nông lâm K6A, lớp Chăn
nuôi thú y K1 đã hết sức giúp đỡ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn
thành luận văn này.
- Bộ môn hóa sinh – Viện khoa học sự sống – Đại học Thái Nguyên đã
trực tiếp giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, phân tích và sử lý số liệu.
- Bộ môn Nông lâm kết hợp – Viện Khoa học Nông nghiệp miền núi đã
tận tình giúp đỡ cung cấp giống cây trồng để tôi thực hiện đề tài.
- Khoa sau Đại học Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên, TS Lê Sĩ
Trung đã quan tâm, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và bảo
vệ luận văn.
- Sự đóng góp to lớn trong đào tạo của tập thể các thầy cô giáo, sự góp ý
chân thành của các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp đã giúp tôi nâng cao
được trình độ trong thời gian qua.
- Ngoài ra, tôi cũng nhận được sự quan tâm, động viên, tạo điều kiện và
giúp đỡ của gia đình, người thân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước những sự giúp đỡ quý báu đó.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2010
Tác giả
Đỗ Bích Nga
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Thống kê các loại cây cải tạo đất tại Lào Cai......................................55
Bảng 3.2: Tổng hợp DT trồng cây cải tạo đất tại các huyện điều tra..................62
Bảng 3.3: Thời tiết khí hậu của Lào Cai năm 2009..............................................65
Bảng 3.4: Chỉ tiêu dinh dưỡng của vùng đất thí nghiệm trước trồng...................67
(Tầng đất 0-30 cm)..............................................................................................67
Bảng 3.5: Chiều cao cây của các công thức thí nghiệm 1...................................68
Hình 3.1: Chiều cao cây thí nghiệm 1.............................................................64
Hình 3.2: Số lượng nốt sần thí nghiệm 1.........................................................70
Hình 3.3: Năng suất chất xanh thí nghiệm 1...................................................72
Hình 3.4: Tổng lượng dinh dưỡng trả lại cho đất thí nghiệm 1.......................76
Hình 3.5: Chiều cao cây thí nghiệm 2.............................................................87
Hình 3.6: Năng suất chất xanh thí nghiệm 2...................................................89
Hình 3.7: Lượng đất bị xói mòn thí nghiệm 2.................................................98
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................................8
1. Đặt vấn đề.......................................................................................................................8
2. Mục đích.........................................................................................................................9
3. Mục tiêu cụ thể.............................................................................................................10
4. Yêu cầu.........................................................................................................................10
TỔNG QUAN TÀI LIỆU.....................................................................................................11
1.1. Cơ sở lý luận..............................................................................................................11
1.1.1. Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cải tạo và chống xói
mòn sạt lở đất của một số cây che phủ đất...................................................................11
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu cây che phủ đất........................................14
1.1.3. Những kết quả nghiên cứu về tập đoàn cây cải tạo đất......................................17
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước...............................................................24
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới.....................................................................24
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................................28
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................................41
2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................................41
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.............................................................................41
2.3. Nội dung nghiên cứu.................................................................................................41
2.4. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................................41
2.5. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................................41
khối lớn tại các vùng đất dốc của Lào Cai.......................................................................91
3.4.1. Khả năng sinh trưởng, phát triển của cây trồng.................................................91
3.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá đất....................................................................................98
3.4.3. Đánh giá hiện tượng, khả năng bị sạt lở...........................................................105
3.4.4. Nhận định chung:.............................................................................................105
3.5. Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của việc trồng cây che phủ, cải tạo đất
........................................................................................................................................107
3.5.1. Hiệu quả kinh tế...............................................................................................107
3.5.2. Hiệu quả xã hội, môi trường.............................................................................111
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ................................................................................................112
1. Kết luận......................................................................................................................112
2. Đề nghị.......................................................................................................................113
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................................114
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đê
Lào Cai là tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc Việt Nam, địa hình tương
đối phức tạp, đất có độ dốc lớn trên 25 0 chiếm 84% diện tích toàn tỉnh, vì vậy
khả năng xói mòn sạt lở đất mạnh. Toàn tỉnh có 805.708 ha diện tích đất tự
nhiên. Trong đó: diện tích đất nông nghiệp là 89.273 ha, chiếm 11,08%; diện
tích đất lâm nghiệp là 249.447 ha, chiếm 30,95%. Hiện nay diện tích đất gò
đồi tại Lào Cai chiếm một tỷ lệ rất lớn 60-70% trong tổng số diện tích đất
nông nghiệp và đất tự nhiên. Diện tích đất trống, đồi trọc cần phủ xanh là
405.083 ha, chiếm trên 50%. Đây là loại đất có độ phì thấp, cần phải cải tạo
để đưa vào sử dụng.
Lào Cai là vùng có nguy cơ sạt lở cao do tác động của mưa và lũ
quét. Hàng năm xói mòn và sạt lở đất xảy ra liên tục, gây nhiều thiệt hại
về người, tài sản; làm giảm diện tích canh tác, giảm độ mầu mỡ của đất.
10
Nghiên cứu một số loài cây phân xanh có khả năng cải tạo và chống xói
mòn sạt lở đất tại Lào Cai, góp phần đa dạng hóa cơ cấu các giống cây trồng
tại các vùng đất đã bị thoái hóa bạc màu do sử dụng đất không hợp lý, các
vùng đất có nguy cơ sạt lở cao nhằm hướng tới một nền sản xuất nông nghiệp
bền vững, an toàn cho con người và môi trường sinh thái.
3. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá các loại cây cải tạo đất bản địa và thực trạng sử dụng cây cải
tạo đất tại địa phương nghiên cứu.
- Xác định được các cây cải tạo đất phù hợp cho vùng đất dốc bị thoái
hoá tại Lào Cai.
- Thử nghiệm một số loại cỏ trồng trên đất dốc phù hợp cho chống xói
mòn sạt lở đất.
4. Yêu cầu
- Đánh giá, xác định được khả năng cải tạo đất của một số cây bản địa.
- Thử nghiệm, nghiên cứu và đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát
triển, của một số cây che phủ đất tại các khu vực đất bạc màu.
- Nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh trưởng, chống xói mòn sạt lở đất
của một số cây che phủ có sinh khối lớn tại vùng đất dốc, có nguy cơ bị xói
mòn sạt lở cao của Lào Cai.
- Xây dựng mô hình để nhân rộng và phát triển trên địa bàn.
11
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận
mưa với mặt đất trống mới là nguyên nhân quan trọng nhất, vì nó tách các hạt
đất khỏi nền đất. Sau đó các hạt đất này mới bị dòng chảy bề mặt cuốn trôi đi
[45].
Nguyên nhân thứ hai gây xói mòn đất là do tác động của dòng chảy bề
mặt. Một thí nghiệm đã xác định 90% đất bị xói mòn do sự va đập của hạt
mưa với đất trần và chỉ 10% đất bị xói mòn do dòng chảy bề mặt. Tuy nhiên,
theo chúng tôi thì chính việc cày bừa, làm đất kỹ, và đốt tàn dư thực vật làm
cho mặt đất bị bóc trần cũng là nguyên nhân gây xói mòn và thoái hóa đất [8].
Cải thiện lớp che phủ đất để ngăn chặn sức và đập của hạt mưa với mặt
đất và ‘‘bắt trước’’ một cách tốt nhất cơ chế hệ sinh thái rừng và nền đất rừng
để bảo vệ cũng như làm tăng sức sản xuất của đất. Quan tâm cải thiện độ mùn
để tăng độ tơi xốp của đất cho nước mưa thấm vào đất nhiều hơn và giảm
13
được dòng chảy bề mặt. Với các biện pháp trên, chúng ta sẽ hạn chế tối đa
được sự va đập của hạt mưa và dòng chảy bề mặt tức là đã hạn chế được
những yếu tố chính gây xói mòn đất dốc [8]
Đất rừng có độ phì cao và hệ sinh thái của nó rất bền vững nhờ có tán
rừng che chở bảo vệ và luôn được bổ sung các chất dinh dưỡng hữu cơ từ việc
phân huỷ và rễ lá rụng, thân và rễ của những cây chết. Cũng nhờ có sự che
phủ của rừng mà đất không bị xói mòn, dung tích hấp thụ cao, phần lớn nước
mưa được rừng và đất rừng giữ lại, thiên tai lũ lụt cũng được giảm nhiều. Tuy
nhiên, một khi đất bị bóc trần khỏi thảm thực vật che phủ, đất sẽ rất dễ bị xói
mòn và thoái hoá. Đây là yếu tố hạn chế lớn nhất đang kìm hãm và đe dọa
tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp vùng cao cũng như an ninh lương
thực toàn quốc. Đất thoái hoá thường nghèo dinh dưỡng, chua, độc, cứng,
không ngậm nước và thiếu hoạt động sinh học. Để phát triển sản xuất bền
vững trên đất dốc, cần đảm bảo hai điều kiện bắt buộc sau đây: (a) Bảo vệ đất
mét khối phù sa bị cuốn trôi ra sông biển.
Tạo nguồn nước và chống bốc hơi: thảm cây phủ đã giữ lại nước mưa,
tích tụ lại thành nguồn và nhả dần ra cung cấp cho đất quanh năm. Dưới tác
dụng của tầng lá, sức công phá của các hạt mưa rơi đã bị giảm đi rõ rệt. Dòng
nước lọc qua tán cây, chạy theo cành, thân, rễ khi tiếp xúc với mặt đất lại bị
cản bởi lớp cành lá rụng làm chậm tốc độ, tạo lên nguồn nước mặt và nước
ngầm rất phong phú và hữu hiệu.
Nghiên cứu của Nguyễn Tử Siêm - Thái Phiên 2002 cho thấy: ở Việt
Nam, thí nghiệm trồng không có băng phân xanh, lượng đất bị xói mòn bình
quân là 30 tấn/ha/năm; có băng phân xanh, lượng đất bị xói mòn bình quân là
5,0 tấn/ha/năm, giảm so với đối chứng không có băng phân xanh là 83,3%.
1.1.2.2. T¸c dông cải tạo đất và điều hòa dinh dưỡng
Nhiều thí nghiệm ở Việt Nam cho thấy, biện pháp sinh học cải thiện độ
phì nhiêu của đất là toàn diện và không gây ra bất cứ hệ quả tiêu cực nào.
Cải thiện chế độ mùn: về bản chất, suy thoái đất là sự suy giảm mức
năng lượng hàm chứa trong chất hữu cơ đất và được chuyển hóa bởi quần thể
vi sinh vật đất. Vì vậy, tốc độ phục hồi độ phì nhiêu đất phụ thuộc rất lớn vào
15
việc sản xuất liên tục sinh khối và cung cấp cho đất lượng chất hữu cơ đủ lớn
để bù lại lượng chất hữu cơ bị mất do khoáng hóa và rửa trôi.
Cây phủ đất cải thiện tính chất vật lý - nước của đất: các quan trắc về
cây phủ đất đều cho thấy, đất sau khi trồng cây che phủ trở nên tơi xốp, khả
năng thấm và giữ nước tốt hơn. Độ ẩm đất dưới lớp cây phủ luôn cao hơn trên
đất trống hoặc đất bỏ hóa. Đất sau 3 năm trồng và vùi cốt khí có độ xốp
55,7% (đất trống có độ xốp là 46,4%), ẩm độ đất sau 3 năm trồng và vùi cốt
khí là 35,5% (đất trống ẩm độ đất là 29,6%).
Cải thiện chế độ cấu trúc đất: cấu trúc đất cũng được cải thiện rõ rệt xét
Phủ đất để khống chế cỏ dại: trong điều kiện nhiệt đới ẩm, cỏ dại nhất là
cỏ tranh có thân ngầm là mối đe dọa thường xuyên đối với canh tác đất dốc.
Việc diệt trừ chúng bằng thuốc hóa học chỉ là biện pháp tình thế, khá tốn kém
và gây ô nhiễm. Một số loại cây phủ đất thân bò, lá rộng có thể kiểm soát cỏ
dại hữu hiệu lại tránh được những vấn đề trên như đậu Mèo, đậu Ván dại, cỏ
Stylo...
1.1.2.3. Tác dụng điều hòa tiểu khí hậu
Lớp đất mặt là nơi tập trung bộ rễ cây và cường độ hoạt động vi sinh vật
mạnh nhất lại là nơi biên độ tiểu khí hậu dao động mạnh hơn cả. Theo quan
trắc nhiều năm cho thấy thảm cây phân xanh là một lớp đệm tốt điều chỉnh
chế độ nhiệt và ẩm của tầng canh tác. Theo Nguyễn Tử Siêm - Thái Phiên,
2002: dưới thảm cây che phủ đất, ẩm độ thường cao hơn khoảng 5% so với
tầng đất mặt và ở độ sâu tới 60cm độ ẩm vẫn cao hơn so với đất trống.
1.1.2.4. Góp phần xóa đói, giảm nghèo
Nhiều loại cây che phủ đất có thể cho thân, lá, củ, quả, hạt ăn được, bổ
sung đáng kể lương thực hiếu hụt, đặt biệt ở vùng núi. Sản phẩm của cây họ
đậu rất giàu Protein là nguồn đạm quan trọng trong bữa ăn đạm bạc thiếu dinh
dưỡng của người dân nghèo. Trồng cây phủ đất vừa dùng để che phủ đất, vừa
làm thức ăn cho chăn nuôi (cỏ Ghinê, cỏ Stylo, đậu Mèo...). Ngoài ra, củi đun
17
và sưởi ấm cũng là vấn đề khó khăn đối với những vùng đất trống. Việc trồng
một số loại cây che phủ thân gỗ cho sinh khối cao và nhanh như keo, muồng...
là vô cùng ý nghĩa và thiết thực.
1.1.2.5. Góp phần tôn tạo cảnh quan văn hóa
Môi trường xanh, sạch, đẹp luôn là chủ đề thời sự ở tất cả các quốc gia.
Cảnh quan đẹp cũng là nguồn lợi kinh tế rất đáng kể cho đất nước vốn có lợi
thế về du lịch sinh thái. Do vậy, việc phát triển cây phủ đất không chỉ nhằm
sóc đặc biệt, hạt dễ nảy mầm không cần qua xử lý. Cốt khí dùng để cải tạo đất
và che bóng cho cây con, vì có vi khuẩn cố định đạm cho nên được trồng để
phủ xanh phục hồi bảo vệ đất và làm phân xanh rất tốt. Ở điều kiện thích hợp
sau trồng 5 tháng có thể cho 30 tấn sinh khối tươi/ha, là nguồn hữu cơ đáng
kể ( Cục khuyến nông, Khuyến lâm,1999) [6].
1.1.3.2. Cây muồng hoa vàng – Cassia siamea
Hay còn gọi là muồng đen, có nguồn gốc Đông Nam Á, sinh trưởng
trong phạm vi vũ lượng 500-2.800 mm/năm, nhiệt độ 14-360C, cao độ 0-1.300
m. Có thể thích ứng được mùa khô kéo dài 4-8 tháng. Cây ưa sáng mạnh, có
thể chịu đất chua đến hơi kiềm (pH = 4,5-7,5), thoát nước tốt.
Chiều cao cây thành thục 200-250 cm, đường kính ngang ngực 50 cm, có
khả cố định đạm. Thường trồng làm cây đường phố, cây bóng mát, chắn gió
đường lô. Có thể trồng bằng hạt, cây con ươm trong bầu ( 10 tháng ). Hạt có
vỏ cứng, có thể bảo quản lâu, trước khi gieo phải xử lý nước sôi. Muồng hoa
vàng có thể trồng làm đai rừng, băng chắn, cây đường lô, đường phố, công
viên. Để làm đai chắn gió trồng khoảng cách 3 x 3 m, 3 x 2 m, có thể thu cành
củi nhiều năm. Đây cũng là cây che bóng phổ biến cho ca cao, chè, cà phê.
Muồng có hoa vàng tươi phô trên tán cao do vậy rất thường trồng ven đường,
nơi thắng cảnh, công viên.
1.1.3.3. Súc sắc - Crotalalia spp
19
Là những cây họ đậu mọc dại rất nhiều ở Việt Nam, thân thảo hoặc hoá
gỗ, chịu hạn và đất xấu rất tốt, dễ trồng, nhiều loài có thể duy trì màu xanh
hoàn chỉnh trong mùa đông. Đây là một đặc tính rất quí để duy trì độ che phủ
đất trong mùa đông khô và lạnh. Cây có thể dùng che phủ, cải tạo đất, làm
phân xanh và làm củi đun. Có thể trồng súc sắc bằng hạt với mật độ gieo tuỳ
ý. Hạt súc sắc dễ nảy mầm và không cần phải chăm sóc nhiều. Cây được
tại nước này. Là cây chịu lạnh khá ở vùng cao nhiệt đới, thích ứng rộng rãi
với nhiều loại đất nhưng không chịu úng và mặn.
21
Công dụng quan trọng nhất của đậu triều là thực phẩm cho người và gia
súc. Khẩu vị và thành phần dinh dưỡng đậu triều gầu với đậu xanh hơn là đậu
tương. Trung bình hạt khô chứa 25% Protein, giàu các Acid có giá trị như
Methionin và Systin. Quả non được sử dụng như rau xanh và giống với đậu
Hà Lan. Năng suất hạt khô có thể đạt 5 - 8 tấn/ha/vụ.
Khả năng phủ đất của đậu triều phát triển rất tốt. Nếu gieo tháng 3 thì
tháng 6 đã có thể khép tán. Năng suất phân xanh đạt 15 đến 20 tấn
khô/ha/năm nếu thu hoạch vào đầu vụ hoa (tháng 10). Với đất tốt có thể thu
hoạch 3 năm liền bằng phương pháp chặt chồi ở độ cao 20cm hoặc tỉa bớt
cành của năm cũ vào đầu mùa xuân năm sau (tháng 2). Mùa hoa có bọ cánh
cứng ăn quả non. Nếu trồng trên diện tích lớn thì tỷ lệ bị phá sẽ giảm đi.
Nguồn giống dễ bị lai tạp với giống địa phương nên chất lượng giảm [16].
1.1.3.6. Cỏ Vetiver
Cỏ Vetiver không có thân ngầm, nhưng bộ rễ đồ sộ của nó phát triển rất
nhanh, trong một số điều kiện, ngay trong năm đầu tiên rễ đã ăn sâu tới 3- 4
m. Nhờ đó nó có khả năng chịu hạn đặc biệt và giúp hạn chế xói mòn đất
ngay cả khi có dòng nước xiết chảy qua. Phần thân trên mặt đất của cỏ Vetiver
mọc thẳng đứng và rất cứng, chắc. Khi trồng đủ dày, cỏ sẽ mọc sát với nhau
tạo thành một hàng rào kín, giúp nó chịu được dòng nước chảy xiết, hạn chế
xói mòn đất và phân tán nước mặt chảy tràn rất hiệu quả.
Cỏ Vetiver chịu được những biến đổi lớn về khí hậu như hạn hán, ngập
úng và khoảng dao động nhiệt độ rất rộng. Cỏ Vetiver có thể thích nghi được
với rất nhiều loại đất có độ pH dao động từ 3,3 đến 12,5 mà không cần đến
biện pháp cải tạo đất nào. Khi trồng ở những nơi nền đất không ổn định, dễ bị
Voi cho năng suất 240-350 tấn/ha/năm (Nguyễn văn Tuyền, 1973).
Cỏ Voi dùng làm thức ăn tươi hay ủ cho năng suất cỏ cao. Sau khi trồng
3 tháng có thể thu lứa đầu, sau đó 40-45 ngày thì cắt lần tiếp theo. Ở Việt
nam, cắt tốt nhất sau 80 ngày (cao 90-100 cm). Cắt lần đầu sát mặt đất cho
23
cõy sinh trng v nhỏnh nhiu, khụng tri lờn trờn. Nu s dng tt cho
nng sut cao trong 10 nm lin [25].
1.1.3.8. C Goatemala (Tripsacum laxum)
C Goatemala thuc nhúm c hũa tho, l cõy cú mt lỏ mm, lỏ mc
thnh hai dóy, b lỏ to, phin lỏ di, võn lỏ song song. Thõn c thuc loi thõn
c nh c Voi, Goatemala cú r thuc loi r chựm...[5]. C hũa tho sinh
trng v tỏi sinh tri qua 3 giai on:
- Giai on 1: c mi gieo trng hoc sau khi ct, lỳc ny tc sinh
trng chm.
- Giai on 2: sau khi gieo trng hoc thu ct 15-20 ngy, c sinh trng
v phỏt trin nhanh.
- Giai on 3: sau khi gieo trng hoc thu ct 40-70 ngy, c sinh trng
chm hoc ngng hn [2].
C Goatemala l ging c cú kh nng tỏi sinh tt, nng sut cao cht
xanh cao, t 150-200 tn/ha/nm. C cng cho nng sut cao thỡ yờu cu
lng phõn bún cng ln [15].
Cú kh nng sinh trng tt trờn t chua cú hm lng nhụm di ng
trong t cao. c bit c cú cú th sinh trng tt trong mựa lnh, trờn vựng
nỳi ỏ. Cỏ có bộ rễ ăn sâu, thân lá rất phát triển, có chiều cao
đến 2m, thân to, mập, khoẻ hơn các giống cỏ khác nên cỏ
Goatemala vừa là cây thức ăn gia súc vừa có tác dụng chống
xói mòn đất rất tốt.
bóng và phủ đất trồng xen với chè đã nhận xét: việc duy trì hợp lý cây phủ đất
25
sẽ ngăn chặn quá trình mất đạm bởi quá trình nitrat hóa. Đốn tỉa hoặc cày vùi
cây họ đậu cho chè đã đem lại hiệu quả kinh tế lớn, tiết kiệm nhiều công vận
chuyển, bốc dỡ, trả lại cho đất hàm lượng dinh dưỡng mà cây họ đậu đã sử
dụng, đồng thời cung cấp thêm cho đất một lượng lớn chất hữu cơ do cây họ
đậu tổng hợp được.
Obaga.S.M.O, Othieno.C.O,1987 [46] khi nghiên cứu tác dụng chống
xói mòn của một số loại cây họ đậu cho biết: đất trồng chè sau 4 năm, không
được trồng cây họ đậu lượng đất bị mất 143 tấn/ha do bị xói mòn, khi trồng
xen cây Crolataria lượng đất bị mất 39 tấn/ha, cây Weeds lượng đất bị mất 15
tấn, cây Eragrostis lượng đất bị mất 15 tấn, còn trồng cây Cymbopogon lượng
đất chỉ mất 10 tấn.
Trên thế giới có hàng nghìn loài cây cố định đạm nhưng đến nay mới
biết được hơn 460 loài và chỉ có khoảng 20% trong số cây đó mới có được
hiểu biết tương đối đầy đủ. Hầu hết các loài cây cố định đạm được biết là 11
họ thực vật. Trong đó, cây họ đậu được chia thành 3 họ phụ, trong đó có họ
phụ trinh nữ (Mimosoideae) có 98%, họ phụ vang (Caesalpinisoideae) có
60% và họ phụ cánh bướm (Papilionideae) có 30% cây cố định đạm. Cây cố
định đạm được biết cũng nằm trong 18 chi quan trọng nhất là các chi: bản xe,
tống quá sủ, cẩm lai, còng, cốt khí, dáng hương, điền thanh, gõ nước, găng gà,
hồng đào, keo, keo dậu me keo, muống pháo, phi lao, phèo heo, trinh nữ và
vông [6].
Trong những năm 1926-1927 nhà nông học Pháp Chauvin đã thu thập và
thử nghiệm tại Playcu một tập đoàn phân xanh gồm 62 giống bản địa và nhập
nội từ Jakarta. Kết quả đã chọn được 12 giống phân xanh thích hợp để làm
cây tiên phong cải tạo đất hoặc trồng xen trong vườn cây lâu năm như chè, cà