1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ BẢO NGỌC
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG
LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014 VÀ LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ BẢO NGỌC
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG
LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014 VÀ LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014
4
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành
đến Phó Giáo sư - Tiến sỹ Dương Đăng Huệ – người thầy đã tận tình hướng
dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên
cứu Luận văn của mình.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám
hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học,
Khoa Pháp luật kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn thạc sĩ.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè đã luôn ở
cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên
cứu của mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm
luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Bảo Ngọc
5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CTCP
: Công ty cổ phần
DNNN
1.1.3. Khái niệm bảo đảm quyền tự do kinh doanh
14
1.1.4. Ý nghĩa của quyền tự do kinh doanh và bảo đảm quyền tự do kinh doanh
18
1.2. Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh
21
1.2.1. Pháp luật củng cố tiền đề kinh tế để thực hiện quyền tự do kinh doanh
21
1.2.2. Pháp luật thiết lập tiền đề pháp lý để thực hiện quyền tự do kinh doanh
23
1.2.3. Pháp luật ngăn chặn hành vi cản trở hoạt động kinh doanh thông qua việc
quy định các chế tài pháp lý.
24
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh và bảo đảm quyền tự do
kinh doanh
25
1.3.1. Chế độ chính trị
25
1.3.2. Cơ chế quản lý kinh tế
26
1.3.3. Văn hóa kinh doanh
27
1.4. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong pháp luật một số quốc gia trên thế
giới.
29
1.4.1. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong pháp luật Cộng hòa liên bang Nga
29
1.4.2. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong pháp luật Hàn Quốc
30
CHƯƠNG 2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM
58
2.2.3. Luật Đầu tư khuyến khíchhoạt động đầu tư ra nước ngoài
62
CHƯƠNG 3. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ THỰC THI
LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014 VÀ LUẬT ĐẦU TƯ NĂM 2014,
GÓP PHẦN BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP
65
3.1. Tình hình thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014
65
3.1.1. Các kết quả đạt được
65
3.1.2. Một số khó khăn, vướng mắc
68
3.2. Kiến nghị giải pháp đưa Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm
2014 vào cuộc sống nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp74
3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp và đầu tư
74
3.2.2. Các giải pháp thực thi Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư năm 2014
để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp
79
KẾT LUẬN
85
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế, ở từng giai đoạn khác nhau,vấn đề
quyền tự do kinh doanh được nhìn nhận dưới các mức độ khác nhau và được ghi
9
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề tự do kinh doanh và bảo đảm quyền tự do kinh doanh không phải
là vấn đề mới và đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu dưới các góc độ khác
nhau. Có thể kể đến những công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu như:
Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam của PGS.TS Ngô Huy
Cương (2006), Nxb. Tư pháp; Tự do ý chí trong pháp luật Việt Nam của PGS.TS
Ngô Huy Cương (Chủ nhiệm) (2007) – Đề tài nghiên cứu đặc biệt cấp Đại học
Quốc gia Hà Nội; Pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh của tác giả
Nguyễn Thị Khế (2007), Nxb. Tư pháp; Quyền tự do kinh doanh theo pháp luật
Liên minh châu Âu và Việt Nam – sách chuyên khảo của tác giả Phạm Huy Hồng
và Nguyễn Thanh Tú (2012), Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật; Một số vấn đề
về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam của TS.
Bùi Ngọc Cường (2004), Nxb. Chính trị quốc gia;Tự do kinh doanh và vấn đề
bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, sách chuyên khảo của tác giả Mai Hồng
Quỳ (2012), Nxb. Lao động....
Các công trình chuyên sâu liên quan trực tiếp đến đề tài mà tác giả lựa
chọn có thể kể đến: Một số vấn đề cấp thiết cần giải quyết để đảm bảo quyền tự
do kinh doanh của PGS.TS Dương Đăng Huệ (1992) – Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, số 78/1992; Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo
quyền tự do kinh doanh ở nước ta của tác giả Bùi Ngọc Cường (2001), Luận án
tiến sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội; Tự do kinh doanh: Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn của tác giả Bùi Xuân Hải (2011), Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
06/2011...
Gần đây, một số luận văn Thạc sỹ Luật học cũng đề cập đến vấn đề quyền
tự do kinh doanh và bảo đảm quyền tự do kinh doanh dưới góc độ pháp luật
hoặc gắn với Luật chuyên ngành, như: Luật Doanh nghiệp 2005 với việc mở
rộng quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam của Trần Anh Tuấn (2006), luận văn
Thạc sỹ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội; Bảo vệ quyền tự do kinh doanh
theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 của Nguyễn Thị Giang (2012), luận
nghiệp ở Việt Nam.
Việc nghiên cứu đề tài cũng không mở rộng ra các văn bản quy phạm
pháp luật khác ngoài Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014. Luật Doanh
nghiệp 2005 và Luật Đầu tư 2005 và một số văn bản pháp luật trong lĩnh vực
khác được đề cập đến chỉ để nhằm so sánh, minh họa làm nổi bật lên những
điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014 và làm sâu sắc hơn
11
vai trò của những Luật này trong việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh của
doanh nghiệp.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là thông qua phân tích các quy định của
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2014, đặc biệt là những quy định mới so với
các đạo luật đã ban hành trước đây, chứng minh vai trò đặc biệt quan trọng của
hai Luật này trong việc hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh ở nước ta. Ngoài
ra, qua việc nghiên cứu thực tiễn thi hành hai đạo Luật này trong thời gian qua,
luận văn còn đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện về mặt quy định
pháp luật cũng như về mặt thực thi pháp luật, bảo đảm quyền tự do kinh doanh
được tôn trọng và thực hiện triệt để hơn nữa trong những năm tiếp theo.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn hướng tới trả lời các câu hỏi sau:
- Thế nào là quyền tự do kinh doanh và bảo đảm quyền tự do kinh doanh?
- Thực trạng quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014
về bảo đảm quyền tự do kinh doanh.
- Thực hiện quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014
đã đạt được những kết quả gì và có vướng mắc như thế nào đối với việc bảo
đảm quyền tự do kinh doanh?
- Giải pháp hoàn thiện Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014 và
đưa các quy định của pháp luật vào cuộc sống để đảm bảo hơn nữa quyền tự do
đạo luật đó, quan trọng hàng đầu là Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư
2014.
Từ thực tiễn thực thi Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014 trong
thời gian qua, tác giả kiến nghị một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật và thực
thi pháp luật đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta. Các giải pháp trong
luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan ban hành
pháp luật, thực thi pháp luật, tổ chức cá nhân có liên quan cũng như phục vụ cho
công tác nghiên cứu khoa học.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền tự do kinh doanh và bảo đảm
quyền tự do kinh doanh;
Chương 2: Vai trò của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm
2014 đối với việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp;
13
Chương 3: Kiến nghị giải pháp hoàn thiện và thực thi Luật Doanh nghiệp
năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014 góp phần bảo đảm quyền tự do kinh doanh
của doanh nghiệp.
14
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO KINH
DOANH VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
1.1. Khái niệm, nội dung, ý nghĩa của quyền tự do kinh doanh và bảo
đảm quyền tự do kinh doanh
1.1.1 Khái niệm quyền tự do kinh doanh
Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú, phức tạp nhất của
khái niệm trìu tượng cũng không chỉ là quyền cá nhân con người mang tính tự
nhiên bẩm sinh mà luôn gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã hội, chịu sự chi
phối của chế độ chính trị, chế độ kinh tế… Khái niệm quyền tự do của con
người phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân. “Với quan niệm đó,
quyền con người được Chủ nghĩa Mác - Lê nin xem là giá trị được xã hội hóa,
nghĩa là phải được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật thì mới trở
thành hiện thực.”1.
Như vậy, có thể hiểu quyền con người mang tính chất tự nhiên, không
phải do ai ban tặng nhưng khi chưa được Nhà nước quy phạm hóa bằng pháp
luật thì quyền con người chưa được thừa nhận.
Tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, quyền
tự do kinh doanh được đặt trong chương “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân”. Như vậy, quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền
con người, quyền của công dân Việt Nam đã được Hiến định.
Quyền tự do kinh doanh là một trong những bộ phận quan trọng nhất
trong hệ thống các quyền con người, quyền công dân. Đó là quyền trong lĩnh
vực kinh tế, “nhằm phục vụ nhu cầu vật chất của con người, tạo ra giá trị vật
chất cho xã hội và là động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của xã hội. Chính
vì vậy, quyền tự do kinh doanh còn là mục tiêu nhà nước cần hướng tới nhằm
phát triển kinh tế, xã hội.”2.
Quyền tự do kinh doanh nằm trong hệ thống các quyền con người, quyền
công dân, bao gồm các quyền trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, giáo
dục, khoa học công nghệ,… Quyền tự do kinh doanh và các quyền khác của
công dân có mối quan hệ mật thiết, bổ trợ, tác động lẫn nhau, vừa là tiền đề, điều
kiện, vừa là kết quả của nhau.
1 Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành
ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.17.
2 Trần Anh Tuấn (2006), Luật Doanh nghiệp 2005 với việc mở rộng quyền tự do kinh doanh ở Việt
Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.8.
quyền sở hữu), khi đó sẽ làm nảy sinh ý định kinh doanh của nhà đầu tư. Như
vậy, cũng có nghĩa là với mục đích làm tăng quyền sở hữu tài sản nhà đầu tư
mới nghĩ tới việc lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh, ngành nghề kinh doanh,
quy mô kinh doanh và địa điểm kinh doanh, tiến hành thành lập doanh nghiệp,
17
tổ chức kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường. Khi quyền sở hữu bị xâm hại,
nhà đầu tư lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp để bảo vệ tốt nhất quyền
lợi của mình. Những hoạt động này chịu sự chi phối của quyền sở hữu đồng thời
là sự hiện thực hóa quyền sở hữu, bảo đảm cho quyền sở hữu được thực hiện.
Mặt khác, chỉ khi quyền sở hữu của nhà đầu tư được bảo đảm thì mới tạo ra tâm
lí yên tâm, thúc đẩy nhà đầu tư hăng hái bỏ vốn vào quá trình kinh doanh.
1.1.2.2. Quyền tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh, ngành nghề
kinh doanh, quy mô kinh doanh và địa điểm kinh doanh.
Quyền tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh, ngành nghề kinh
doanh, quy mô kinh doanh và địa điểm kinh doanh là công đoạn đầu tiên của
quá trình kinh doanh. Theo đó, nhà đầu tư có quyền chủ động lựa chọn theo ý
chí của mình và phù hợp với những quy định của pháp luật.
Mỗi mô hình tổ chức kinh doanh đều thể hiện những ưu điểm nổi bật đáp
ứng tốt nhất những nhu cầu tổ chức kinh doanh của từng chủ thể kinh doanh
trong từng thời kì nhất định. Nhà đầu tư có quyền chủ động lựa chọn mô hình
kinh doanh và thay đổi mô hình kinh doanh theo ý chí của mình trong toàn bộ
quá trình kinh doanh. Quyền tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh sẽ giúp
nhà đầu tư tự chủ, linh hoạt trong tổ chức quản lí doanh nghiệp phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh, phù hợp với yêu cầu ngành nghề, quy mô kinh doanh.
Ngành nghề kinh doanh là lĩnh vực hoạt động thường xuyên, chủ yếu của
nhà kinh doanh. Nhà đầu tư không những được quyền tự do lựa chọn một hoặc
nhiều ngành nghề phù hợp với quy định của pháp luật và khả năng của mình mà
còn được quyền thay đổi các ngành nghề đó toàn bộ quá trình kinh doanh.
thông qua người đại diện tiến hành đúng và đầy đủ các trình tự thủ tục theo quy
định của pháp luật. Khi thực hiện quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh
của mình, nhà đầu tư còn có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do của các chủ thể
khác, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và toàn xã hộ. Vì chỉ như vậy nhà đầu tư mới
có thể bảo vệ tốt nhất quyền tự do kinh doanh của mình.
Tự do tổ chức lại doanh nghiệp là việc nhà đầu tư tự chủ động theo ý chí
của mình trong việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp, chuyển đổi
hình thức pháp lý của doanh nghiệp... phù hợp với quy định của pháp luật.
Quyền tự do tổ chức lại doanh nghiệp có vai trò giúp doanh nghiệp linh hoạt
trong tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh, chớp được những vận hội kinh
doanh và hạn chế đến mức tối đa những tác động tiêu cực cho doanh nghiệp,
góp phần bảo đảm tốt nhất quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư.
Quyền tự do rút khỏi thị trường là việc nhà đầu tư có quyền tự chủ chuyển
nhựng vốn góp, cổ phần, yêu cầu doanh nghiệp mua lại vốn góp, cổ phần và
19
những hoạt động khác nhằm rút khỏi thị trường theo ý chí của mình phù hợp với
quy định của pháp luật. Sau khi góp vốn kinh doanh, nhà đầu tư có thể chủ động
rút vốn khỏi quá trình kinh doanh theo ý chí của mình. Tuy nhiên việc rút khỏi
thị trường phải tuân thủ những trình tự thủ tục và điều kiện luật định nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và của các chủ thể có liên quan.
1.1.2.4. Quyền tự do giao kết hợp đồng
Quyền tự do hợp đồng được coi là bộ phận cấu thành quan trọng, là biểu
hiện sinh động nhất của quyền tự do kinh doanh. Thông qua giao kết hợp đồng,
các chủ thể kinh doanh mới thiết lập được quan hệ kinh doanh với các chủ thể
khác theo ý chí của mình và phù hợp với quy định của pháp luật. Quyền tự do
hợp đồng thể hiện thông qua việc các chủ thể kinh doanh có thể tự do lựa chọn
đối tác kí kết hợp đồng, tự do lựa chọn đối tượng của hợp đồng, tự do xác lập,
thực hiện và thay đổi hợp đồng... trên cơ sở phù hợp với những quy định của
Dưới tác động của quy luật cạnh tranh và sự tự do hóa các hoạt động kinh
tế, các tranh chấp trong hoạt động kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh là điều tất
yếu. Trong bối cảnh đó, quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhà đầu tư.
Quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là việc doanh
nghiệp có quyền tự chủ lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp theo ý chí
của mình phù hợp với những quy định của pháp luật.
Mỗi hình thức giải quyết tranh chấp đều có những ưu thế phù hợp với đặc
điểm của từng tranh chấp. Khi có tranh chấp xảy ra các chủ thể kinh doanh có
quyền quyết định có đưa vụ việc ra giải quyết tranh chấp hay không. Đồng thời
có quyền tự do lựa chọn một trong các hình thức giải quyết tranh chấp: Hòa giải,
thương lượng, tố tụng trọng tài, tố tụng tòa án. Đặc biệt trong hai hình thức giải
quyết tranh chấp thông qua hòa giải, thương lượng, quyền tự do định đoạt của
các chủ thể được đề cao. Các bên tranh chấp có toàn quyền quyết định về mọi
vấn đề liên quan đến trình tự và nội dung giải quyết tranh chấp, tuy nhiên phải
phù hợp với quy định của pháp luật.
Quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp có vai trò quan
trọng trong việc bảo đảm các nội dung khác của quyền tự do kinh doanh được
thực hiện. Mặt khác, quyền này góp phần bảo vệ công bằng quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ thể kinh doanh, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh an
toàn, lành mạnh qua đó bảo đảm và khuyến khích nhà đầu tư thực hiện quyền tự
do kinh doanh.
1.1.3. Khái niệm bảo đảm quyền tự do kinh doanh
21
Kinh doanh là hoạt động tạo ra giá trị vật chất cho xã hội, là động lực phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhưng không chỉ mang lại những hiệu quả
tích cực như vậy, kinh doanh bản thân nó cũng ẩn chứa những yếu tố tiêu cực
mà nếu không có sự điều chỉnh phù hợp thì sẽ gây ra những hậu quả cho kinh tế,
Trước sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của những năm cuối thập kỷ
tám, chín mươi thế kỷ trước, đặc biệt là đổi mới về kinh tế đã được Đảng ta đề
xướng và lãnh đạo, Hiến pháp 1992 đã phản ánh đúng quy luật phát triển kinh tế
xã hội. Điều 57 Hiến pháp này đã quy định: “Công dân có quyền tự do kinh
doanh theo quy định của pháp luật.”. Với quy định này, lần đầu tiên, quyền tự do
kinh doanh của công dân được xác lập một cách đầy đủ rõ ràng trong một văn
kiện có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà nước.
Với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước, nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra, đòi hỏi
pháp luật phải được điều chỉnh nhằm bảo đảm các quyền về kinh tế trong đó có
quyền tự do kinh doanh của công dân được bảo đảm đầy đủ hơn. Trong mối liên
hệ đó, Hiến pháp 2013 đã quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh
trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.” (Điều 33). Quyền tự do kinh
doanh đang được tiếp tục cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật, bảo
đảm cho mọi công dân đều được hưởng thực quyền của mình trong lĩnh vực
kinh tế.
Có quyền tự do kinh doanh đã là một bước tiến lớn, nhưng có quyền tự do
kinh doanh mà không có cơ chế để bảo đảm cho quyền này được thực thi thì tự
do kinh doanh chỉ là khẩu hiệu tồn tại trên giấy. Vì vậy, bảo đảm quyền tự do
kinh doanh là việc làm rất cần thiết mà Nhà nước phải đảm nhận. Cả hệ thống
pháp luật của Nhà nước ta có trách nhiệm ghi nhận các cơ chế, biện pháp để bảo
đảm quyền này được thực thi trên thực tế. Trong số các đạo luật do Nhà nước ta
ban hành thì LDN và Luật Đầu tư (LĐT) có vai trò cực kỳ quan trọng.
Dưới góc độ pháp lý, có thể hiểu bảo đảm quyền tự do kinh doanh là sự
ghi nhận của Nhà nước về quyền tự do kinh doanh của công dân, đồng thời tạo
ra một hệ thống các cơ chế, công cụ, phương tiện kinh tế, pháp lý để góp phần
làm cho quyền tự do kinh doanh được thực thi trong thực tiễn.
Như vậy, để quyền tự do kinh doanh được bảo đảm thì việc đầu tiên đó là
nó phải được pháp luật ghi nhận.Ở nước ta hiện nay, quyền tự do kinh doanh đã
trở thành một quyền hiến định, tức là nó được ghi nhận trong văn bản pháp có
Bên cạnh hình thức tự bảo vệ, pháp luật còn xây dựng thêm những cơ chế,
theo đó, Nhà nước sẽ can thiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh
nghiệp khi doanh nghiệp có yêu cầu. Trước hết, đó là việc bảo vệ quyền tự do
kinh doanh bằng biện pháp hành chính. “Với phương thức này, chủ thể có quyền
yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có biện pháp can thiệp để các chủ thể khác
không xâm phạm đến quyền tự do kinh doanh của mình. Tuy nhiên, trên thực tế,
nhiều khi quyền tự do kinh doanh lại bị xâm phạm bởi chính các cơ quan quyền
24
lực nhà nước.”3. Ví dụ như trong hoạt động đăng ký kinh doanh thì không ít
trường hợp cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ ghi nhận ngành nghề kinh doanh có
trong hệ thống mã ngành của Việt Nam mà không ghi nhận những ngành nghề
không có trong hệ thống. Đây là hành vi xâm phạm đến quyền tự do kinh doanh
vì không đúng với tiêu chí “công dân được làm những gì mà pháp luật không
cấm.”.
Để bảo đảm cho công dân thực hiện quyền tự do kinh doanh, Nhà nước còn
phải thiết lập những thiết chế chuyên trách để giải quyết các tranh chấp phát sinh
trong hoạt động sản xuất – kinh doanh. Bởi vậy, việc xây dựng hệ thống các cơ
quan tư pháp mà trung tâm là Tòa án được hết sức chú trọng. Thông qua Tòa án,
các chủ thể có quyền khởi kiện chính cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân
khác khi họ xâm phạm quyền tự do kinh doanh của mình.
Như vậy, để bảo đảm quyền tự do kinh doanh, pháp luật nước ta đã ghi
nhận và xây dựng nên nhiều cơ chế và thiết chế tương ứng. Không có các cơ
chế, thiết chế này thì quyền tự do kinh doanh chỉ còn là khẩu hiệu tồn tại trên
giấy mà không thể được thực hiện trong thực tiễn.
1.1.4. Ý nghĩa của quyền tự do kinh doanh và bảo đảm quyền tự do
kinh doanh
1.1.4.1. Ý nghĩa chính trị
1.1.4.3. Ý nghĩa kinh tế
Tự do kinh doanh là điều kiện và động lực cho sự phát triển kinh tế. Nó là
cơ sở quan trọng cho việc giải phóng và thúc đẩy mọi tiềm năng trong xã hội,
tạo ra cơ hội đầu tư, cơ hội việc làm cho mọi người trong xã hội. Lịch sử phát
triển của xã hội Việt Nam là một minh chứng rõ nét cho việc không có quyền tự
do kinh doanh thì không có sự phát triển về kinh tế. Thời kỳ kinh tế tập trung,
quan liêu, bao cấp, mọi hoạt động kinh doanh đều rất hạn chế, các doanh nghiệp
chủ yếu là vừa và nhỏ, bị Nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất
kinh doanh, thành phần kinh tế tư nhân không có điều kiện phát triển. Nó đã thủ
tiêu cạnh tranh, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích
thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh. Thu nhập
quốc dân và năng suất lao động thấp, không đảm bảo được nhu cầu tiêu dùng
của xã hội. Thậm chí, lương thực, vải mặc và các hàng tiêu dùng thiết yếu đều
thiếu...