SỰ ỨNG XỬ CỦA CHÍNH QUYỀN PHONG KIẾN MINH - THANH ĐỐI VỚI CÔNG GIÁO TỪ NĂM 1552 ĐẾN NĂM 1911 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ - Pdf 11

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trung Quốc là một trong những quốc gia có lịch sử lâu đời với một
nền văn hóa lớn, rực rỡ, có nhiều đóng góp cho lịch sử nhân loại. Nền văn hóa
ấy là sự hòa trộn những tinh hoa của các dân tộc khác nhau cùng sinh sống
trên lãnh thổ Trung Quốc. Không chỉ có vậy, Trung Quốc còn là mảnh đất
màu mỡ, là nơi các tôn giáo, tín ngưỡng bản địa cũng như tôn giáo ngoại sinh
gieo mầm và phát triển. Hiện nay, trên đất nước Trung Quốc tồn tại 5 tôn giáo
lớn bao gồm: Phật giáo, Tin Lành giáo, Công giáo, Islam giáo và Đạo giáo
“với khoảng 100 triệu tín đồ”[11;59], cùng với đó là rất nhiều các hình thức
tín ngưỡng bản địa. Tuy thời điểm du nhập vào Trung Quốc không đồng nhất,
song các tôn giáo ngoại sinh cùng với những tôn giáo, tín ngưỡng bản địa đã
cùng tồn tại, phát triển tương đối hòa bình và trong một chừng mực nào đó,
nó đã góp phần hình thành nét văn hóa mang đậm màu sắc Trung Quốc.
Trong lịch sử, Phật giáo khi du nhập vào Trung Quốc đã chứng tỏ khả năng
thích nghi tuyệt vời và một sức sống bền bỉ trong lòng dân chúng. Công giáo
cũng đã từng xuất hiện ở Trung Quốc dưới thời Đường, Nguyên và đã có ảnh
hưởng không nhỏ đến tín ngưỡng, văn hóa bản địa. Tuy nhiên, khi triều
Nguyên sụp đổ, Công giáo lại bị tuyệt tích ở nơi đây. Từ giữ thế kỉ XVI, với
vai trò tích cực của các giáo sĩ, Công giáo lại một lần nữa được truyền bá vào
Trung Quốc. Khi du nhập vào đất nước có bề dày truyền thống lịch sử và văn
hóa như Trung Hoa, Công giáo đã vấp phải sự phản kháng rất lớn từ phía
chính quyền phong kiến bởi nó xa lạ với đời sống văn hóa tinh thần của cư
dân “Hoa Hạ” vốn đã thấm đẫm tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo.
Những tôn giáo, tín ngưỡng đó đã ăn sâu, bám rễ trong đời sống tinh thần của
người dân Trung Quốc từ mấy ngàn năm, do đó Công giáo không dễ gì có thể
nhanh chóng đâm chồi, nảy lộc ở nơi đây. Hơn nữa, khi có sự tiếp xúc giữa
các tôn giáo, tất yếu sẽ nảy sinh sự va chạm giữa Công giáo với văn hóa, tín
1
ngưỡng bản địa. Vì thế, quá trình truyền bá Công giáo vào Trung Quốc là một

hướng nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Tuy là vấn đề tương đối mới, song việc tìm hiểu về Công giáo Trung
Quốc đã và đang được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Chúng ta có thể tìm
thấy những nội dung về vấn đề Công giáo Trung Quốc qua các công trình sau:
1. Cuốn “Giáo hội Công giáo Trung Quốc” của Yến Khả Giai,
(Nguyễn Thị Bạch Tuyết dịch), NXB Tôn giáo, 2007. Đây là công trình
nghiên cứu khá toàn diện về Công giáo từ khi du nhập đến nay ở Trung
Quốc. Cuốn sách cũng trình bày về quá trình truyền giáo ở Trung Quốc
trong đó có thái độ của chính quyền phong kiến đối với hoạt động truyền
giáo. Tuy nhiên, do trình bày về nhiều vấn đề của Công giáo ở Trung Quốc
từ khi du nhập đến nay nhưng chỉ được tác giả viết ngắn gọn trong hơn 100
trang nên các vấn đề mới chỉ dừng lại ở mức độ thống kê, khái lược. Song
đây chính là nguồn tài liệu quan trọng nhất giúp chúng tôi có cơ sở để
nghiên cứu nội dung của luận văn.
2. Cuốn “Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc” (3
tập) của Cát Kiếm Hùng, NXB Văn hóa-Thông tin Hà Nội, 2003. Ở tập III,
tác giả đề cập đến lịch sử triều Minh, Thanh, trong đó có trình bày về quá
trình du nhập Tây học vào Trung Quốc, qua đó cũng giúp chúng ta hiểu được
một phần về công cuộc truyền giáo của các giáo sỹ cũng như mối quan hệ
giữa truyền giáo với quá trình Tây học ở Trung Quốc.
3. Cuốn “Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc” của Ngô Vĩnh Chính
(cb) (Lương Duy Thứ dịch), NXB Văn hóa-Thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh,
1994. Tác giả trình bày một cách khái lược các vấn đề thuộc văn hóa Trung
3
Quốc từ cổ đại đến đầu thế kỉ XX, trong đó có thời Minh-Thanh. Cuốn sách có
trình bày khá rõ về sự tiếp xúc của Trung Quốc với văn hóa phương Tây.
4. Cuốn “Hành trình và truyền giáo” của Alexandre de Rhodes, (Hồng
Nhuệ biên dịch) NXB Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh,
1994. Trong cuốn sách này, tác giả có nói về thời gian truyền giáo của mình

Cận đại, khoa học kĩ thuật của phương Tây đã du nhập vào Trung Quốc như
thế nào?. Những bài viết đó cũng đã phác họa những nét cơ bản về Công giáo
Trung Quốc.
9. Cuốn “Lịch sử truyền giáo” của Lê Hoàng Phu (Tài liệu lưu trữ của
Viện Nghiên cứu Tôn giáo). Đây là bản viết tay của tác giả, mặc dù chỉ hơn
30 trang song đây cũng là một công trình nghiên cứu về công cuộc truyền
giáo của các giáo sĩ Công giáo, mối liên hệ giữa truyền giáo và thực dân ở
Trung Quốc thời Minh-Thanh.
10. Cuốn “Tôn giáo ở Trung Quốc 100 câu hỏi và trả lời” của Lữ Vân,
NXB Văn hóa - Thông tin Hà Nội, 2003. Cuốn sách này được coi là cẩm nang
để giải quyết một số thắc mắc về vấn đề tôn giáo ở Trung Quốc, trong đó có
vấn đề Công giáo.
11. Cuốn “Đại cương lịch sử tư tưởng Trung Quốc” của Lê Văn Quán,
NXB Giáo dục Hà Nội, 1997. Cuốn sách gồm 22 chương được chia làm 4
thiên, ở thiên thứ 3 tác giả khái quát về xã hội, tư tưởng thời Tống, Nguyên,
Minh, Thanh. Trong đó, tác giả đã phân tích và khẳng định sự thay đổi về xã
hội, tư tưởng thời Minh-Thanh cũng chịu sự tác động của Công giáo. Điều đó
cho ta thấy được vai trò của Công giáo đối với xã hội Trung Quốc.
12. Bài viết: “Lịch sử hình thành và phát triển đạo Công giáo ở Trung
Quốc” của Hải Bằng, Phúc Nguyên đăng trên tạp chí Công tác Tôn giáo số 6
năm 2011. Bài viết cũng nêu khái lược về công cuộc truyền giáo ở Trung
Quốc và thực trạng Công giáo Trung Quốc hiện nay.
5
* Đạo Cơ Đốc: Tên gọi khác của đạo Kitô, đạo Công giáo là một trong ba nhánh chính của Kitô giáo
13. Bài viết: “Vấn đề tiếp thu văn hóa phương Tây của Trung Quốc và
Việt Nam cuối thế kỉ XIX” của Hoàng Văn Hiến đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
Lịch sử số 3, năm 2000. Bài viết này cũng giúp tác giả có được những thông tin
quan trọng về giai đoạn đầu của công cuộc truyền bá Công giáo ở Trung Quốc.
14. Bài viết “Quá trình truyền bá Cơ Đốc giáo và văn hóa cận đại
phương Tây ở Trung Quốc” của Hương Thảo đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

Về không gian: Luận văn nghiên cứu Công giáo ở Trung Quốc (quá
trình du nhập và sự ứng xử của chính quyền phong kiến Minh-Thanh đối với
Công giáo), trong đó có sự liên hệ với Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng hai phương pháp chính là
phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Ngoài ra, còn kết hợp sử dụng
các phương pháp, phân tích, tổng hợp, so sánh để lý giải nguyên nhân dẫn
đến sự thay đổi trong ứng xử của chính quyền phong kiến Minh-Thanh đối
với Công giáo.
5. Đóng góp của đề tài.
Trên cơ sở khái quát công cuộc truyền giáo của các giáo sỹ ở Trung
Quốc, tác giả tập trung tìm hiểu sự ứng xử của chính quyền phong kiến Minh-
Thanh đối với Công giáo từ năm 1552 đến năm 1911. Từ đó luận văn nhằm
giải quyết một số vấn đề:
+ Các giáo sỹ Công giáo đã làm thế nào để tạo được chỗ đứng cho mình ở
một quốc gia có truyền thống “Tam giáo đồng nguyên” như Trung Quốc ?
+ Chính quyền phong kiến Minh-Thanh đã ứng xử như thế nào đối với
Công giáo?
+ Những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trong cách ứng xử đối với Công
giáo của chính quyền phong kiến Minh-Thanh từ năm 1552 đến năm 1911 ?.
7
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm hai chương:
Chương I. Quá trình du nhập đạo Công giáo vào Trung Quốc thời
Minh-Thanh.
Chương II. Sự ứng xử của chính quyền phong kiến Minh-Thanh đối với
Công giáo từ năm 1552 đến năm 1911.
8
B. NỘI DUNG

Thượng Đế đền đáp sau khi chết, nhằm mục đích khiến Kitô giáo từng bước
thích ứng với nhu cầu của tầng lớp thống trị. Từ khi trở thành quốc giáo của
đế quốc Rôma (cuối thế kỉ IV) thì quyền lực chính trị và thực lực kinh tế của
đạo Kitô không ngừng được củng cố và phát triển. Giáo hội Rôma trở thành
chúa phong kiến lớn nhất, giàu có nhất ở Tây Âu. Đến năm 756, giáo hội đã
có lãnh thổ riêng, lập nên một nhà nước Kitô giáo độc lập. Như vậy, từ chỗ là
tôn giáo của người nghèo giờ đây Kitô giáo đã trở thành tôn giáo của người
giàu, thành công cụ của giai cấp thống trị. Lịch sử đã cho thấy rằng, từ khi
giáo hội Rôma trở thành quốc giáo thì cây gươm tinh thần của Thánh Paul đã
luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm thép thực sự. “Kinh thánh đã
ghi: Ai lấy hãy vâng phục chính quyền cai trị mình vì chẳng có một quyền lực
nào không do chúa Trời mang đến, quyền lực nào cũng do Chúa Trời tạo
nên… cho nên ai chống lại kẻ cầm quyền là chống lại mệnh lệnh chúa Trời”
[32;14]. Trong suốt lịch sử phát triển của mình, Kitô giáo không ngừng lan
tỏa để tìm kiếm những quê hương mới (để “mở rộng nước Chúa” hay là để
“giải phóng đất Thánh”). Với nhiều cách khác nhau, như thông qua việc buôn
bán, giao lưu văn hóa hay các chiến binh ở lại sau các cuộc chiến tranh, hoặc
một cách chủ động tìm đến những vùng đất mới để truyền giáo, chủ yếu là
thời kì tiền thực dân và thực dân. “Giáo lý Cơ Đốc tuyên bố rằng: Thượng Đế
(Chúa trời) sáng tạo thế giới, là đấng toàn thiện-toàn trí-toàn năng, tín đồ tất
phải tôn kính, phục tùng, chấp nhận sự an bài của Thượng Đế, nếu phục tùng
ý chí Chúa Trời, người ta sau khi chết sẽ được lên Thiên đàng…” [32;15].
Những điều đó là sự đối nghịch với các chính quyền phong kiến và với các
tôn giáo, tín ngưỡng khác ở những nơi mà nó muốn đặt chân đến. Bởi vậy,
10
không dễ gì tôn giáo này có thể có được chỗ đứng và ảnh hưởng tới những
vùng đất nó truyền đến. Trong điều kiện đó, Kitô giáo đã bộc lộ tính lan tỏa
trong quá trình mở rộng ảnh hưởng của mình ở những thời kì khác nhau với
các biện pháp khác nhau. Kitô giáo thời Trung cổ được truyền bá như một
công cụ chống lại quần chúng khi đề cao tình yêu thương lẫn nhau, để nhẫn

cũng như văn hóa của cộng đồng sản sinh ra nó. Bởi vậy, phong trào truyền
giáo đã đóng một vai trò không nhỏ trong lịch sử văn hóa thế giới không hẳn
do nó đem tôn giáo đến với các dân tộc bản địa mà chủ yếu là do phổ biến một
số thành tựu của nền văn minh châu Âu sang phương Đông. Ở mỗi quốc gia,
trong những thời kì khác nhau, các giáo sỹ đã có những phương cách tiếp cận
khá linh hoạt để đưa tôn giáo này thâm nhập và phát triển. Quá trình du nhập
của Công giáo vào Trung Quốc dưới thời phong kiến Minh-Thanh chính là
biểu hiện cụ thể tính lan tỏa của tôn giáo này ở nơi đây.
1.1.2. Trung Quốc - một địa bàn hấp dẫn cho công cuộc mở rộng “nước Chúa”
của giáo hội Công giáo và sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương
Tây.
Từ khi trở thành quốc giáo của đế quốc Rôma, Công giáo đã trở thành
công cụ của giai cấp phong kiến châu Âu, khi nó là một bộ phận của thượng
tầng kiến trúc. Đến thế kỉ XV, khi chủ nghĩa tư bản dần hình thành thì nó
nhanh chóng trở thành công cụ hữu hiệu cho giai cấp tư sản trong việc thực
hiện tham vọng của mình. Các cuộc phát kiến địa lý diễn ra ở thế kỉ XV, cùng
tham gia với các đoàn thương nhân còn có mặt thường xuyên và đông đảo các
giáo sỹ để đảm nhiệm sứ mạng chinh phục các linh hồn. Khi giai cấp tư sản ra
đời và đóng vai trò quyết định trong đời sống xã hội phương Tây thì quyền
lực chính trị và kinh tế của giáo hội Công giáo La Mã dần dần bị triệt tiêu,
12
song quyền lực về tinh thần tuy có bị hạn chế nhưng vẫn tồn tại, bởi ngay
chính quyền mới, chính quyền của giai cấp tư sản, vẫn cần có sự quy phục của
nhân dân ở chính quốc cũng như ở thuộc địa mà Công giáo là công cụ tinh
thần đắc lực để duy trì sự qui phục đó. Vì vậy, giai cấp tư sản phương Tây,
mặc dù có lúc muốn thủ tiêu hoàn toàn quyền lực của giáo hội, song ngay sau
đó lại thỏa hiệp không những vẫn để cho giáo hội Công giáo tự do hành đạo ở
chính quốc mà còn ủng hộ và tài trợ cho các tổ chức truyền giáo ra vùng đất
ngoại. Bởi vậy, các giáo sỹ truyền đạo đã trở thành những người môi giới cho
việc buôn bán, cung cấp những thông tin quan trọng về mọi mặt của quốc gia

buôn bán, một nơi để khai thác nguyên liệu phục vụ cho sự phát triển nền
kinh tế công nghiệp, một nơi có nguồn nhân công dồi dào, giá rẻ. Các nước tư
bản phương Tây đã nhanh chóng phát hiện ra điều này ở Trung Quốc. Do đó,
việc tìm đến Trung Quốc đã trở thành tâm điểm, là mục tiêu của chủ nghĩa
thực dân phương Tây. Khi Marcô Pôlô từ Trung Quốc trở về sau cuộc hành
trình dài ngày thì cuốn sánh “Truyện ký về hành trình của Marcô Pôlô” được
công bố, nhiều người truyền tay nhau tập bản thảo ký sự đó. Đến thế kỉ XV,
bộ sánh được lưu truyền trên toàn thế giới. Do đó, người ta có được những
hiểu biết về phương Đông, trong đó có Trung Quốc là nơi có nền kinh tế phồn
vinh với nhiều vàng bạc và có nền văn minh cao lúc bấy giờ. Trong quyển
sách này, Marcô Pôlô đã khen ngợi Trung Quốc: “ là Đế Quốc Trung Hoa, có
thành thị và thôn ấp chạy dài liên miên bất tận và thủ đô của nước này có
mặt bằng rộng lớn, đường đi chi chít như bàn cờ, xinh đẹp không thể tả, còn
cung điện thì tráng lệ nguy nga. Ông cho rằng Tuyền Châu thời bấy giờ là
một hải cảng lớn nhất thế giới, trong thương cảng này có rất nhiều hàng hóa,
bảo thạch, trân châu. Số lượng của những thứ hàng hóa này nhiều đến nỗi ai
14
nhìn cũng phải giật mình” [26;594]. Bởi vậy, một loạt các quốc gia phương
Tây đã tìm cách đến và gây ảnh hưởng của mình ở Trung Quốc. Năm 1553,
người Bồ Đào Nha lấy cớ phơi đồ đạc bị ướt đã đổ bộ lên Áo Môn. Sự kiện
đó đã trở thành sự kiện mở đầu cho các nước thực dân phương Tây tiến vào
Trung Quốc. Từ đó trở đi, Áo Môn đã trở thành đầu cầu và căn cứ địa của
người châu Âu để lấn sâu vào nội địa Trung Quốc. Những hoạt động thực
dân, mậu dịch của người châu Âu được tiến hành đồng bộ với hoạt động
truyền giáo. Thế là, thực dân châu Âu đã bắt đầu mở những cuộc thăm dò vào
Trung Quốc. Thực dân Hà Lan mà đại diện là công ty Đông Ấn đã đổ bộ xâm
chiếm đảo Đài Loan. Họ lấy thành Đài Loan (nay là An Bình) và thành Xích
Khảm (nay là Đài Nam) làm trung tâm, thiết lập sự thống trị thực dân của họ,
đồng thời liên tiếp quấy rối khu vực bờ biển phía đông nam của Trung Quốc.
Cùng với những hoạt động trên, bắt đầu từ buổi giao thời hai triều đại Minh-

sớm, khoảng trước hoặc sau công nguyên mà “con đường tơ lụa” là con
đường chủ yếu đưa Phật giáo đến nơi đây. Khi truyền vào Trung Quốc, Phật
giáo có vẻ xa lạ, song không mâu thuẫn với các tôn giáo, tín ngưỡng vốn có.
Không những thế, Phật giáo còn đem lại cho đương thời những giải thích mới
mẻ về nỗi khổ của con người, về nguyên nhân khổ đau, về con đường thoát
khổ, đồng thời nó kêu gọi lòng từ bi hỷ xả, một chủ trương đáp ứng được khát
vọng muốn cứu vớt của con người vốn nhiều rủi ro và lắm tai ương lúc bấy
giờ. Vì vậy, nó nhanh chóng tìm được chỗ đứng và có điều kiện bám rễ chắc
chắn ở nơi đây. Phật giáo nhanh chóng được chính quyền phong kiến Trung
Quốc tiếp nhận, đến thời nhà Đường thì nó đã đạt đến giai đoạn cực thịnh.
Khi truyền vào, Phật giáo đã hội nhập với truyền thống văn hóa bản địa, dần
phát triển thành một bộ phận quan trọng của văn hóa Trung Quốc. Trong quá
16
trình phát triển ở Trung Quốc, cùng với Nho giáo và Đạo giáo, Phật giáo đã
kết hợp bổ sung, pha trộn vào nhau làm nên những yếu tố chung trong hệ tư
tưởng mới ở đây. Đó chính là cơ sở hình thành truyền thống “tam giáo đồng
nguyên”. Những giáo lý, giáo luật, quy tắc là chất kết dính các tôn giáo này.
“Đối với nhu cầu đức tin, người Trung Quốc ngả về Phật giáo; với nhu cầu
về kĩ thuật, họ đến với Đạo giáo; và với nhu cầu giáo dục xã hội, họ đến với
Nho giáo” [18;56].
Các sách sử Trung Quốc có chép lại rằng: khi hai vị tăng sư Ấn Độ là
Ca Diếp Ma Đằng (Kasypâmtanga) và Trúc Pháp Lan (Dharmaraksa) đến
Trung Quốc đã được vua Minh Đế rất tôn kính, vua cho dựng chùa Bạch Mã,
là ngôi chùa đầu tiên ở Trung Quốc để phiên dịch kinh điển. Như vậy, cái
cách mà Phật giáo có thể thâm nhập vào Trung Quốc trong giai đoạn đầu chủ
yếu là việc dịch các sách kinh Phật từ chữ Phạn sang chữ Trung Quốc, dần
dần còn có các tăng sư người Trung Quốc tham gia biên dịch sách kinh Phật.
Điều này đã góp phần truyền bá giáo lý Phật giáo trong nhân dân. Mặc dù có
hai thời kì bị “phế Phật” đó là thời Võ Đế Bắc Ngụy (năm 466) và thời Võ Đế
Bắc Chu (năm 560), song Phật giáo về cơ bản vẫn phát triển một cách tương

hoạt động giao thương giữa các thương nhân Ả rập với người Trung Quốc,
nhiều người trong số họ trở thành dân ngụ cư lâu dài tại kinh thành và một số
thành thị ven biển của Trung Quốc. Trong thời Đường-Tống, Islam giáo ảnh
hưởng chủ yếu ở các vùng thuộc tây bắc Trung Quốc. Do tín ngưỡng Islam
giáo phải thường xuyên làm lễ nên họ sống tương đối tập trung hình thành
nên những khu vực gọi là “phiên phường” (khu người nước ngoài sinh sống).
Tại đó, họ xây dựng nhà thờ, nghĩa trang công cộng. Những người này
thường sống ở Trung Quốc lâu dài, kết hôn với người Trung Quốc, qua nhiều
18
thế hệ và dần trở thành người Hồi giáo Trung Quốc. Một số người Trung
Quốc cũng chịu ảnh hưởng của họ và tin theo Islam giáo. Như vậy, sự du
nhập của Islam giáo vào Trung Quốc trong giai đoạn đầu là từ các thương
nhân, quá trình du nhập không diễn ra một cách ồ ạt, bởi thế nó không tạo ra
sự đối kháng gay gắt với các tôn giáo, tín ngưỡng bản địa.
Từ thế kỉ thứ XIII, khi Thành Cát Tư Hãn đem quân Tây tiến, tín đồ
Hồi giáo ở Tây Vực và một bộ phận người Ba Tư (Iranians) Ả rập buộc phải
chạy sang phía Đông nội địa Trung Quốc, phần lớn trong số họ trở thành binh
lính trong quân đội triều Nguyên, thời chiến ra trận, thời bình khai khẩn đồn
điền. Sau này họ định cư ở Trung Quốc, kết hôn và sinh con đẻ cái với người
địa phương, nhân khẩu cứ thế dần tăng theo năm tháng, cuối cùng hình thành
dân tộc Hồi mà sử sách gọi là “Hồi Hồi”. Thời kì đầu, địa bàn sinh sống của
họ phân bố chủ yếu ở dải hành lang tỉnh Hà Tây và các tỉnh Hà Nam, Sơn
Đông, Thiểm Tây và Vân Nam. Khi đó, những người này còn giữ tên họ vốn
có của dân tộc mình, về sau mới lần lượt đổi sang tên họ của người Hán. Hồi
giáo và những nhân vật cao cấp của tôn giáo này được triều Nguyên khá coi
trọng, có nhiều người đã trở thành quan chức trong chính quyền triều Nguyên.
Vương triều này còn xây dựng Quốc Tử Học dành riêng cho con em dân tộc
Hồi. Ở các địa phương, nhà nước còn cho phép họ xây dựng nhà thờ Hồi giáo
để tín đồ có nơi hành lễ. “Họ phân bố khắp các nơi trong đất Trung Quốc,
được người Mông Cổ trọng dụng nên đạo Islam nhanh chóng bén rễ ở Trung

dòng của Kitô giáo phương Tây. Triều Đường đã có sự giao lưu, tiếp xúc với
Ba Tư và đế quốc Rôma, nên giáo hội Kitô ở Ba Tư đã sai tăng lữ Alaben
người Xyri sang Trung Quốc truyền đạo. Đoàn của Alaben đến Trung Quốc
vào năm Trinh Quán thứ 9 đời Đường (năm 635). Ban đầu, họ xây nhà thờ ở
20
Trường An, tiếp đó mở rộng ra các nơi. Khi đó, đạo Kitô của họ được gọi là
Cảnh giáo, giáo hội gọi là Cảnh Môn, giáo học đường gọi là Cảnh Tự hoặc
Đại Tần Tự. Cảnh giáo được chính quyền phong kiến nhà Đường tiếp nhận và
đối xử rất tốt: “Khi tín đồ Cảnh giáo vừa đến Trường An, Đường Thái Tông
sai tể tướng Phòng Huyền Linh ra ngoại thành phía Tây đón tiếp một cách
long trọng sau đó lại xuống chiếu nói: đạo này “Lời không nói nhiều, lý lẽ có
thể bắt chước, giúp vật lợi người, truyền bá thích hợp trong thiên hạ” và
thưởng cho xây dựng một nhà thờ”[68;317]. Dưới triều vua Đường Cao Tông,
ông đã có nhiều chính sách nâng đỡ cho sự phát triển của tôn giáo này. Như
vậy, do được tầng lớp quan lại triều Đường từ Thái Tông đến Đức Tông cả
sáu triều vua đều tiếp nhận, hậu đãi và ra sức giúp đỡ Cảnh giáo nên giáo lý
được truyền khắp bốn phương, nhà thờ mọc lên khắp thành thị. Các giáo sỹ
phương Tây đến Trung Quốc ngày càng nhiều. “Theo sự ghi chép của bia
Cảnh giáo, đồng thời với Alaben và những người đi sau ông ta có tới 65 tăng
lữ có tiếng của Cảnh giáo. Điều đó đủ thấy Cảnh giáo lúc đó truyền bá ở
nước ta đã có quy mô không nhỏ” [68; 317]. Điều đặc biệt là, thời kì này còn
có sự hợp tác giữa những tín đồ Cảnh giáo với tín đồ Phật giáo trong việc
phiên dịch kinh Phật: “Giáo sỹ Cảnh giáo thường làm công tác phiên dịch,
không những dịch ra một số kinh điển của đạo Cơ Đốc mà còn hợp tác với
tăng nhân đạo Phật phiên dịch kinh Phật. Không những họ tuyên truyền cho
tư tưởng nhất thần luận mà còn tuyên truyền “Thánh Thượng đều do thần
sinh ra” để xu nịnh hoàng đế triều Đường ” [68; 317-318]. Cũng bởi lẽ đó mà
sau sự kiện hoàng đế nhà Đường là Đường Vũ Tông ra lệnh “sùng Đạo phế
Phật” thì Cảnh giáo cũng bị đả kích nặng nề và mất cơ hội truyền bá ở Trung
Nguyên. Tuy nhiên, với các dân tộc du mục ở miền Bắc và miền Tây Bắc thì

văn tự Mông Cổ phiên dịch Tân ước Thánh kinh và Cựu ước Thành kinh thi
thiên” [68;319]. Năm 1307, John Monte de Corvino được tòa thánh Rôma
phong làm Tổng Giám mục Hãn Bát Lý (Bắc Kinh). Ngoài ra, còn một số
giáo sỹ khác cũng được tòa thánh Rôma cử sang truyền giáo ở đây. Các nhà
thờ và tu viện được xây dựng ở nhiều nơi thuộc miền nam Trung Quốc như
Tuyền Châu, Hàng Châu. “Tổng Giám mục John cai quản Giáo phận Bắc
Kinh trong hơn 30 năm và nói rằng ông đã làm lễ rửa tội cho hơn 6.000
người” [13;10] . “Năm Hoàng Khánh 12(1313), lập giáo khu tại Tuyền Châu
(Phúc Kiến). Lúc bấy giờ Thiên Chúa giáo đã có mặt tại các vùng Ngũ
Nguyên (Nội Mông), Y Lợi (Tân Cương), Dương Châu (Giang Tô) và Hàng
Châu (Triết Giang), tín đồ khoảng 60 nghìn người” [53;37]. Triều Nguyên đã
đặt ra một cơ quan gọi là Sùng Phúc Ty để quản lý đạo này, tín đồ có đến ba
bốn vạn người đều thuộc Mông Cổ hoặc người Tây Á nhập cư vào Trung
Quốc, phân bổ các địa phương trên toàn quốc mà chủ yếu là ở Bắc Kinh, Đại
Đồng, Tuyền Châu. “Năm 1315, trong cả nước có 72 ty quản giáo” [70;114],
do đó đã góp phần mở ra thời kì hoàng kim của Công giáo ở Trung Quốc. Tuy
nhiên, khi triều Nguyên bị diệt vong và triều Minh lên cai trị đất nước thì
Công giáo cũng dần biến mất, đơn giản chỉ vì hầu hết tín đồ đều là người
Mông Cổ hoặc người Tây Á nhập cư Trung Quốc. “Tất cả điều đó chỉ như
một đóa hoa chớm nở, cùng với sự diệt vong của đế quốc Nguyên, đạo Cơ
Đốc lại một lần nữa dần dần mất đi ở đất Trung Nguyên”[68;319].
Như vậy, tôn giáo Trung Quốc đã hoàn chỉnh cùng với bước khải hoàn
của Khổng học trong vai trò hệ tư tưởng quốc gia và việc tế tự của nhà nước,
với sự đua nở mọi hình thức dân gian của Đạo giáo và việc chấp nhận đạo
Phật như một trong những nền tảng khai lập của lịch sử tôn giáo Trung Quốc.
Có thể thấy, vào cuối thời Hán hoặc không bao lâu trước đó, các thành tố bản
sắc văn hóa Trung Quốc đã hội tụ đủ. Nhưng truyền thống Trung Quốc, giống
23
như chính bản thân khái niệm Đạo, năng động, luôn tự thay đổi và tái cấu trúc
theo dòng chảy của thời gian. Tôn giáo trong lịch sử Trung Quốc luôn thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status