BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THU NHƯỜNG
PHÁP LUẬT TÍN CHẤP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành
: Luật Dân sự
Mã số
: 60.38.50.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHÙNG TRUNG TẬP
HÀ NỘI – NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả.
Các số liệu, tài liệu trích dẫn, sử dụng trong luận văn là trung thực; những
kết luận khoa học hoặc những nhận xét của luận văn chưa được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG
NXB
: Nhà xuất bản
NHCSXH
: Ngân hàng chính sách xã hội
CP
: Chính phủ
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN CHẤP
8
1.1. Khái niệm, đặc điểm về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
1.1.1. Khái niệm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
8
8
1.1.2. Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự 10
1.4.1. Phạm vi bảo đảm bằng tín chấp
19
1.4.2. Mục đích bảo đảm bằng tín chấp
22
Kết luận chương 1
Chương 2. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÍN CHẤP
23
25
2.1. Đối tượng của tín chấp
25
2.2. Phạm vi áp dụng biện pháp bảo đảm tín chấp
27
2.3. Chủ thể của tín chấp
28
2.3.1. Bên được bảo đảm
28
55
2.5.2. Nội dung thỏa thuận bảo đảm bằng tín chấp
56
Kết luận chương 2
58
Chương 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TÍN CHẤP TẠI TỈNH ĐIỆN
BIÊN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÍN CHẤP
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về tín chấp tại tỉnh Điện Biên
59
59
3.1.1. Tác động của điều kiện kinh tế - xã hội đến việc áp dụng các quy
định về tín chấp tại tỉnh Điện Biên
59
3.1.2. Thực trạng áp dụng các quy định về tín chấp tại tỉnh Điện Biên
qua một số Bản án điển hình
62
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tín chấp và nâng cao hiệu
nghiệp, nông thôn nói riêng, việc quy định biện pháp bảo đảm cần linh hoạt.
Các biện pháp bảo đảm, bên cạnh các mục tiêu chung hướng tới lợi ích
của của tất cả các chủ thể trong xã hội thì ngoài ra, đối với cá nhân, hộ gia
đình nghèo Nhà nước đã ghi nhận chính sách bảo đảm riêng nhằm giúp đỡ
những chủ thể này có điều kiện tiếp cận nguồn vốn ngân hàng để xóa đói,
giảm nghèo, cải thiện về chất lượng cuộc sống. Đó là nguyên nhân, biện pháp
bảo đảm tín chấp ra đời và được kế thừa ghi nhận trong BLDS năm 2015.
Riêng trong lĩnh vực cho vay tín dụng bằng hình thức tín chấp tuy đã có
nhiều quy định cụ thể cả về nội dung và hình thức, nhưng vẫn còn tồn tại
nhiều bất cập, làm hạn chế hiệu quả chính sách lớn của Đảng và Nhà nước
về nông nghiệp, nông thôn.
Trước tình hình đó việc hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến
hình thức tín chấp nhằm làm cho quy định bảo đảm bằng tín chấp được thực
hiện lành mạnh, góp phần làm cho xã hội nói chung, kinh tế nông nghiệp,
nông thôn nói riêng phát triển bền vững, ổn định là một yêu cầu cấp thiết.
Để có cái nhìn tổng thể về cơ sở lý luận và thực tiễn trong hoạt động
cho vay tín dụng bằng hình thức tín chấp và những thuận lợi, khó khăn trong
quá trình thực hiện, vấn đề đảm bảo công bằng giữa lợi ích các bên như thế
nào, việc áp dụng pháp luật giải quyết gặp những thuận lợi và khó khăn gì
trên thực tế; những cam kết từ những quan hệ xã hội cần được giải quyết như
thế nào… từ đó có thể đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hình
7
thức tín chấp. Nhằm nâng cao tính thực tiễn của đề tài, tác giả nghiên cứu
về thực tiễn tín chấp áp dụng tại tỉnh Điện Biên – một trong các tỉnh có tỉ lệ
hộ nghèo cao nhất cả nước. Trước thực tế đó, học viên đã lựa chọn đề tài:
“Pháp luật tín chấp và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Điện Biên” làm đề tài
luận văn thạc sĩ.
đảm thực hiện nghĩa vụ trong dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi.
- Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, luận án
tiến sĩ luật học, Ngô Quốc Kỳ, Đại học Luật Hà Nội, năm 2003.
- Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật
dân sự Việt Nam hiện hành, luận án tiến sỹ, Vũ Thị Hồng Yến, Đại học Luật
Hà Nội, năm 2013.
- Bùi Thị Duyên (2014), Pháp luật về thế chấp tài sản để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, luận văn thạc
sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia, Hà Nội.
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế đối với
các quan hệ thương mại trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, luận án tiến sỹ,
Dương Quỳnh Hoa, Học viện Khoa học xã hội, năm 2012.
- Pháp luật về bảo lãnh thực hiện hợp đồng tín dụng, thực trạng và
phương hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ, Nguyễn Thị Minh Chi; Đại học
Luật Hà Nội, năm 2004.
- Bảo đảm tiền vay ngân hàng, thực trạng và giải pháp, luận văn thạc
sỹ, Lê Thu Hiền, Đại học Luật Hà Nội, năm 2003.
- Hoàn thiện pháp luật về quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng, luận văn
thạc sĩ, Lê Kim Thanh, Đại học Luật Hà Nội, năm 2008.
9
- Bài viết của tác giả Trần Đình Hảo bình luận về dự thảo Nghị định
163/NĐ-CP “Về giao dịch bảo đảm” có một phần nội dung về tín chấp
(9.2007).
- Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Phương đăng trên Tạp chí Ngân
hàng số 11/2007 bình luận, so sánh riêng về xử lý tài sản bảo đảm giữa Nghị
định 178/NĐ-CP có một phần nội dung về tín chấp.
nên chủ yếu luận văn nói về vấn đề này; luận văn phân tích, bình luận các quy
định của pháp luật về tín chấp như: đối tượng tín chấp, chủ thể tín chấp, quyền
và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch tín chấp…Trên cơ sở phân tích các quy
định của pháp luật, tác giả nghiên cứu về thực tiễn áp dụng các quy định của
pháp luật dân sự về tín chấp của cá nhân hộ gia đình nghèo và các tổ chức tín
dụng tại tỉnh Điện Biên. Dựa trên các phân tích, bình luận về pháp luật và thực
tiễn áp dụng các quy định về tín chấp, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm hoàn
thiện các quy định của pháp luật về tín chấp và phương thức giải quyết tranh
chấp có liên quan đến hình thức bảo đảm là tín chấp.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện thành công luận văn này, học viên đã sử dụng một cách
đồng bộ và tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học. Trước hết đó là
phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngoài phương pháp
nghiên cứu có tính chất lý luận cơ bản này, tác giả cũng đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu truyền thống khác như: phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh tài liệu cũng như qua thực tiễn xét xử của Tòa án. Những
phương pháp này giúp tác giả tiếp cận các đối tượng nghiên cứu một cách có
cơ sở khoa học, đảm bảo tính hiệu quả của quá trình nghiên cứu.
5. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ ở làm rõ biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ bằng tín chấp, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
11
dụng ngân hàng bằng Tòa án liên quan đến tranh chấp mà biện pháp bảo đảm
là tín chấp; nghiên cứu việc vận dụng quy định về tín chấp trong các giao dịch
dân sự ngoài xã hội qua thực tiễn thực hiện tại tỉnh Điện Biên để tìm ra các
giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Thứ hai, phân tích thực tiễn giải quyết một số tranh chấp hợp đồng tín
dụng ngân hàng liên quan đến các hình thức bảo đảm, trong đó có hình thức
tín chấp của Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên.
Thứ ba, đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tín
chấp; tín chấp trong giao dịch dân sự ngoài xã hội và phương thức giải quyết
các tranh chấp về biện pháp bảo đảm bằng tín chấp bằng trình tự Tòa án nhằm
nâng cao hiệu quả công tác xét xử.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục,
nội dung của Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tín chấp
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về tín chấp
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về tín chấp tại tỉnh Điện Biên
và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tín chấp.
13
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN CHẤP
1.1. Khái niệm, đặc điểm về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
1.1.1. Khái niệm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, ngày càng nhiều các hợp
đồng được giao kết giữa các chủ thể trong xã hội, các biện pháp bảo đảm
được xem như một công cụ hữu hiệu giúp cho các chủ thể bảo vệ quyền lợi
của mình, khái niệm “bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” được nhiều nhà
khoa học đưa ra:
Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thoả thuận giữa các bên
nhằm qua đó đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để bảo
đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những
“Nghị định 163/2006”); Nghị định 11/2012/NĐ – CP ngày 22 tháng 02 năm
2012 Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP
ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi
là “Nghị định 11/2012”); Nghị định 83/2010/NĐ – CP ngày 23 tháng 07 năm
2010 Về đăng ký giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là “Nghị định 83/2010”)…
(ii) Biện pháp bảo đảm được hình thành chủ yếu trên cơ sở thỏa thuận
giữa các bên chủ thể. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được tiếp cận
dưới góc độ giao dịch bảo đảm – được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa
bên bảo đảm và bên được bảo đảm. Các chủ thể này thỏa thuận lựa chọn biện
pháp bảo đảm trong các biện pháp được pháp luật ghi nhận, đối tượng bảo
đảm, giá trị bảo đảm và các nội dung liên quan khác.
(iii) Mục đích của các biện pháp bảo đảm là nâng cao trách nhiệm của
các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ,
đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra.
15
Theo BLDS năm 2015, có 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự. Đó là: Cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký cược; ký quỹ; bảo lãnh,
tín chấp, cầm giữ và bảo lưu quyền sở hữu. Phụ thuộc vào nội dung, tính chất
của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể, cũng như phụ thuộc vào điều kiện của các
chủ thể tham gia quan hệ ấy mà mỗi một biện pháp đảm bảo mang một đặc
điểm riêng biệt.
1.1.2. Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự
Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh
chủ yếu từ sự thoả thuận giữa các bên. Nghĩa vụ dân sự có thể phát sinh từ
thừa nhận từ lâu trong hệ thống pháp lý của Việt Nam. Tuy nhiên, đến thời
điểm hiện nay, chưa có bất kì một công trình nào nghiên cứu toàn diện,
chuyên sâu về vấn đề này.
Tín chấp là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015. Sự góp mặt của các tổ chức
chính trị - xã hội, sự tham gia của các tổ chức tín dụng mà cụ thể là Ngân
hàng chính sách xã hội và những hộ gia đình nghèo là dấu hiệu rõ nhất để
nhận biết về biện pháp bảo đảm này.
Theo từ điển Tiếng Việt, “tín chấp là vay tiền bằng sự tín nhiệm, không
thế chấp tài sản”. Theo cách hiểu này, tín chấp là một hình thức vay tiền ngân
hàng mà trong hình thức này, sự tín nhiệm hay là uy tín được xem là một sự
bảo đảm để vay tiền mà không cần có tài sản đưa ra để thế chấp. Điều 344
BLDS năm 2015 quy định: “Tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở có thể bảo
đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ
chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp
luật”. Thực chất, đây chỉ là quy định của pháp luật về biện pháp tín chấp mà
17
chưa phản ánh được bản chất của biện pháp này. Quy định này bao gồm các
nội dung như: (i) Bên bảo đảm bằng tín chấp; (ii) Bên được bảo đảm bằng tín
chấp; (iii) Bên nhận bảo đảm bằng tín chấp; (iv) Phạm vi áp dụng của biện
pháp tín chấp; (iv) Mục đích vay tiền trong hợp đồng vay được bảo đảm bằng
biện pháp tín chấp. Còn Nghị định 163/2006/ NĐ – CP – văn bản pháp lý
quan trọng, quy định trực tiếp, chi tiết về biện pháp tín chấp, xây dựng khái
niệm tín chấp như sau: “Tín chấp là việc tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở
bằng uy tín của mình bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản
tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ” (Điều 49).
Như vậy, có thể thấy rằng, khái niệm tín chấp được nghiên cứu dưới
nghĩa vụ như việc bảo lãnh thông thường khác. Gía trị nghĩa vụ được bảo đảm
bằng tín chấp thường không lớn, thông thường tín chấp chỉ bảo đảm cho việc
vay một khoản tiền nhỏ của cá nhân, hộ gia đình nghèo tại tổ chức tín dụng
với mục đích sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ hoặc tiêu dùng theo quy định
của Chính phủ
- Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ, thì
tổ chức chính trị – xã hội cơ sở có trách nhiệm đề xuất, giải trình để giãn nợ,
xin giảm lãi suất để hỗ trợ các chủ thể vay vốn. Trong trường hợp đặc biệt
khó khăn như gặp thiên tai, bất khả kháng nghiêm trọng có thể đề nghị xóa nợ
theo chủ trương của Chính phủ đối với những vùng khó khăn đặc biệt khi gặp
thiên tai.
- Do tính chất đặc trưng của bảo đảm thực hiện hợp đồng bằng hình
thức tín chấp nên không có việc bán tài sản hoặc xử lý tài sản bảo đảm trong
quá trình thu hồi nợ vì đối tượng của tín chấp là uy tín – một giá trị nhân thân
của tổ chức chính trị - xã hội.
- Chủ thể được bảo đảm nghĩa vụ bằng hình thức tín chấp được xác
định là cá nhân, hộ gia đình nghèo. Đây là những chủ thể có thu nhập và mức
sống dưới chuẩn trung bình của xã hội. Xuất phát từ mục tiêu xóa đói, giảm
19
nghèo mà tín chấp được ghi nhận để tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình
nghèo vay vốn nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Khoản tiền vay được bảo đảm bằng tín chấp được xác định rõ ràng về
mục đích sử dụng (để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp
luật – trước đây, Bộ luật dân sự 2005 quy định là làm dịch vụ).
- Chủ thể trong hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tín chấp là tổ chức
tín dụng nói chung. Chủ thể cho cá nhân - hộ gia đình nghèo vay tín chấp chủ
yếu là các ngân hàng chính sách xã hội. Cũng như đã phân tích, đối tượng
đói, giảm nghèo của Nhà nước; (ii) Nghiệp vụ cho vay tín chấp: bên cho vay
là các ngân hàng, triển khai nghiệp vụ cho khách hàng đủ điều kiện vay tín
chấp.
Thứ năm, mục đích sử dụng tiền vay: (i) Trong biện pháp tín chấp: cá
nhân, hộ gia đình nghèo vay nhằm mục đích phát triển kinh tế, thoát nghèo;
(ii) Đối với cho vay tín chấp của ngân hàng thương mại: việc sử dụng tài sản
của khách hàng đa dạng, với nhiều mục đích khác nhau như phát triển sản
xuất, kinh doanh, vay tiêu dùng…
1.3.2. Phân biệt giữa biện pháp tín chấp và biện pháp bảo lãnh
Trong Bộ luật Dân sự năm 1995 trước đây, biện pháp bảo đảm bằng tín
chấp được coi là một trường hợp thuộc biện pháp bảo lãnh. Khi đó biện pháp
bảo lãnh được hiểu gồm hai loại là bảo lãnh bằng tài sản và bảo lãnh không
bằng tài sản (tín chấp) của bên thứ ba. Điều 376 Bộ luật dân sự năm 1995 quy
định: “1. Tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở có thể bảo lãnh bằng tín chấp
cho cá nhân và hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền nhỏ tại ngân hàng hoặc
tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định của
Chính phủ.
2. Việc cho vay có bảo lãnh bằng tín chấp phải được lập thành văn bản
có ghi rõ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền và nghĩa vụ
21
và trách nhiệm của người vay, ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay và tổ
chức bảo đảm”.
Hay khoản 10 Điều 2 Nghị định số 178/1999/NĐ – CP về Bảo đảm tiền
vay của các tổ chức tín dụng: “Bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể
chính trị - xã hội là biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay
không có bảo đảm bằng tài sản, theo đó tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại
cơ sở bằng uy tín của mình bảo lãnh cho cá nhân và hộ gia đình nghèo vay
cho nhiều loại nghĩa vụ trong các hợp đồng khác nhau như hợp đồng mua
bán, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng dịch vụ, vận chuyển…;
Thứ hai, về bên bảo đảm: (i) Trong biện pháp tín chấp, bên bảo đảm
phải là tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở như hội phụ nữ, hội cựu chiến binh,
hội nông dân…; (ii) Đối với biện pháp bảo lãnh, bên bảo đảm có thể là bất cứ
chủ thể nào cam kết bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ cho chủ thể có nghĩa vụ
trước bên có quyền;
Thứ ba, về người được bảo đảm: (i) Chủ thể được bảo đảm bằng biện
pháp tín chấp chỉ có thể là cá nhân, hộ gia đình nghèo - là thành viên của tổ
chức chính trị - xã hội ở cơ sở; (ii) Chủ thể được bảo lãnh có thể
bất cứ cá nhân, pháp nhân nào với tư cách là chủ thể trong quan hệ pháp luật
dân sự;
Thứ tư, về đối tượng trong các biện pháp bảo đảm: (i) Đối với biện
pháp tín chấp, đối tượng được bảo đảm chính là uy tín của tổ chức chính trị xã hội ở cơ sở đó; (ii) Đối tượng của biện pháp bảo lãnh là lợi ích vật chất
nhất định (tài sản hoặc công việc theo sự thỏa thuận giữa bên bảo lãnh và bên
nhận bảo lãnh);
Thứ năm, về xử lý đối tượng bảo đảm: (i) Đối tượng của tín chấp là uy
tín của tổ chức chính trị - xã hội; do đó, trong trường hợp cá nhân, hộ gia đình
nghèo vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng thì cũng không thể xử lý
(bán, chuyển giao sở hữu…) đối với uy tín; (ii) Đối với biện pháp bảo lãnh,
23
trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật, tài sản
của bên bảo lãnh được xử lý để bảo đảm quyền lợi của bên nhận bảo lãnh.
1.4. Phạm vi và mục đích bảo đảm bằng tín chấp
Phạm vi bảo đảm bằng tín chấp là một nội dung được tiếp cận dưới
nhiều góc độ khác nhau như: phạm vi giao dịch được bảo đảm bằng biện pháp
tín chấp; phạm vi chủ thể được bảo đảm; phạm vi giá trị nghĩa vụ được
thực hiện các chính sách lớn của Đảng và nhà nước về nông nghiệp, nông
thôn) nên pháp luật dân sự đã linh hoạt quy định hình thức tín chấp để giúp
các cá nhân, hộ gia đình nghèo có thể vay được một khoản tiền nhất định
nhằm ổn định sản xuất, chăn nuôi, làm dịch vụ, kinh doanh và tiêu dùng. Biện
pháp phi kinh tế này đang là nguồn để ổn định cuộc sống của những hộ gia
đình nghèo ở miền núi, nông thôn. Tuy nhiên, về phương diện khoa học, đây
vẫn là đề tài còn nhiều tranh luận.
1.4.1. Phạm vi bảo đảm bằng tín chấp
1.4.1.1. Phạm vi áp dụng của biện pháp tín chấp
Trong 9 biện pháp bảo đảm được ghi nhận trong BLDS năm 2015 gồm:
cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, kí cược, kí quỹ, bảo lãnh, cầm giữ,
bảo lưu quyền sở hữu, tín chấp thì mỗi biện pháp có phạm vi áp dụng riêng.
Có một số biện pháp có phạm vi áp dụng rộng như cầm cố, thế chấp, đặt cọc,
kí quỹ, bảo lãnh – đây là những biện pháp có thể được áp dụng để bảo đảm có
các loại nghĩa vụ khác nhau được hình thành từ nhiều hợp đồng cụ thể như
hợp đồng mua bán, hợp đồng vay, hợp đồng trao đổi và các hợp đồng có đối
tượng là công việc như hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng gia
công…Trong khi đó, có một số biện pháp bảo đảm, phạm vi áp dụng hẹp, chỉ
được áp dụng với một hoặc một số nghĩa vụ phát sinh từ loại hợp đồng cụ thể
như: biện pháp kí cược chỉ được áp dụng để bảo đảm nghĩa vụ trả lại tài sản
thuê của bên thuê trong hợp đông thuê động sản; biện pháp bảo lưu quyền sở
hữu chỉ bảo đảm cho việc thanh toán tiền mua bán tài sản trong các hợp đồng
25
mua bán theo phương thức trả chậm, trả dần…Tín chấp cũng là một trong các
biện pháp bảo đảm có phạm vi áp dụng hẹp – chỉ được áp dụng để bảo đảm
cho nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản giữa một bên là cá nhân, hộ
gia đình nghèo và một bên là tổ chức tín dụng.