BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
------------
LÊ BÍCH NGỌC
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHI NHÁNH HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHẠM THANH BÌNH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ
trợ từ Giáo viên hướng dẫn là TS. Phạm Thanh Bình và các anh chị trong chi
nhánh Hà Nội. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung
thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích,
nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau có
ghi trong phần tài liệu tham khảo.
Nếu có bất kỳ sự gian lận sai sót nào tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2015
NHTMCP PT TPHCM
: Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Thành
phố Hồ Chí Minh
HDBank
: Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Thành
phố Hồ Chí Minh
HDBank Hà Nội
: Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Thành
phố Hồ Chí Minh- Chi nhánh Hà Nội
DN
: Doanh nghiệp
HO
: Hội sở
NHTMCP
: Ngân hàng thương mại cổ phần
NHNN
: Ngân hàng nhà nước
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI....................................3
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................24
CHƯƠNG 2...............................................................25
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG. .25
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ.........25
HỒ CHÍ MINH – CHI NHÁNH HÀ NỘI.............................25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................68
CHƯƠNG 3...............................................................69
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN.........69
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – CHI NHÁNH HÀ NỘI..........69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3................................................92
KẾT LUẬN................................................................93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................94
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1:
Nguồn vốn huy động tại HDBank Hà Nội giai đoạn 2012- 2014......Error:
Reference source not found
Bảng 2.2:
Tình hình sử dụng vốn tại HDBank Hà Nội giai đoạn 2012- 2014.........Error:
Reference source not found
Bảng 2.3:
Kết quả hoạt động kinh doanh tại HDBank Hà Nội giai đoạn
Reference source not found
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cần thiết của đề tài
Trong quá trình đổi mới của đất nước, hệ thống của ngân hàng có tầm
quan trọng đặc biệt là kênh cơ bản cung ứng vốn cho nền kinh tế để thực hiện
các chỉ tiêu vĩ mô của nền kinh tế. Đồng thời là đòn bẩy thúc đẩy các chủ thể
kinh tế hình thành trí thức kinh doanh trong điều kiện mới: Từ hiệu quả sử
dụng nguồn vốn, lao động, nguyên vật liệu, đến tìm kiếm thị trường và đổi
mới công nghệ. Trong các hoạt động của ngân hàng, cho vay là họat động
quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập tiền lời
lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất của ngân hàng. Sự
thành công hay thất bại của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào quy mô và chất
lượng cho vay.
Do vai trò quan trọng như vậy nên thời gian qua, cùng với việc đổi mới
toàn diện nền kinh tế, hoạt động cho vay nền kinh tế cả nước đã được đổi mới
căn bản. Quy mô hoạt động và chất lượng tín dụng được nâng cao đáng kể.
Nhờ đó tín dụng ngân hàng đã góp phần to lớn trong việc thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, giải quyết việc làm và thực hiện
các nhiệm vụ kinh tế xã hội quan trọng và cấp bách khác.
Trong bối cảnh mới hiện nay, khi cả nước đang trong quá trình chuyển
sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mở của hội nhập
kinh tế quốc tế. NHTMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh đang đứng
trước những khó khăn, thử thách và áp lực cạnh tranh mới. Bản thân
NHTMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh - chi nhánh Hà Nội được hình
thành trong bối cảnh nền kinh tế thế giớ bị khủng hoảng nặng nề, chi nhánh
phải tự khẳng định mình về mọi hoạt động và phải chịu sự cạnh tranh lớn với
các ngân hàng thương mại khác trên cùng địa bàn. Do nhiều nguyên nhân
NHTMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh - chi nhánh Hà Nội đã có những
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục, các cụm từ viết tắt, nội
dung chính của đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những lý luận chung về chất lượng cho vay của ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Phát triển thành phố Hồ Chí Minh - chi nhánh Hà Nội.
2
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Phát triển thành phố Hồ Chí Minh - chi nhánh Hà Nội.
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Những vấn đề về chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm cho vay của ngân hàng thương mại
Từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện chế độ
chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Cùng với sự tan rã của chế dộ cộng sản
nguyên thủy, quan hệ sản xuất ra đời, phân hóa thành người giàu, người
nghèo. Xu hướng của cải ngày càng tập trung vào nhóm người có quyền lực,
làm họ ngày càng trở nên giàu có, trong khi nhiều người có thu nhập thấp lại
rất cần vốn. Để giải quyết mâu thuẫn trên, quan hệ tín dụng ra đời.
3
Khi sản xuất hàng hóa phát triển, nhu cầu về vốn ngày càng lớn, quan
hệ cho vay mượn trực tiếp giữa các nhà tư bản với nhau không thể đáp ứng
các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa
thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng tiền đó.
- Sự chuyển nhượng vốn từ ngân hàng sang khách hàng dựa trên cơ sở
lòng tin.
- Thời gian chuyển nhượng vốn là có hạn và được xác định rõ khi cho vay.
Ngân hàng xác định thời hạn cho vay chủ yếu dựa vào chu kỳ luân
chuyển vốn của khách hàng.
Cho vay nói chung và cho vay của ngân hàng nói riêng có một nguyên
tắc là hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn. Đây là thuộc tính riêng của cho vay.
Đối với các ngân hàng, nguyên tắc này càng quan trọng vì ngân hàng về bản
chất là một doanh nghiệp kinh doanh vốn.
1.1.2. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại.
Đối với hoạt động cho vay của NHTM việc áp dụng phương thức cho
vay phù hợp nhằm tạo ra sự thích ứng giữa luân chuyển vốn sản xuất và kinh
doanh của đơn vị vay vốn. Thực hiện được điều này, sẽ dẫn đến tình trạng cân
bằng giữa “dòng tiền” của ngân hàng và “dòng hàng”của người vay vốn, nếu
xét trên bình diện vĩ mô thì tránh được một trong những nguyên nhân của tình
trạng thừa thiếu tiền tại các thời điểm, biểu hiện của lạm phát và giảm phát
trong nền kinh tế. Dưới góc độ quản lý thì áp dụng phương thức cho vay phù
hợp sẽ dẫn đến việc tiết kiệm chi phí, tiết kiệm vốn và hạn chế được rủi ro
trong sử dụng vốn. Có các hình thức vay vốn thường được dựa trên một số
tiêu thức nhất định. Căn cứ đó ngân hàng thiết lập quy trình cho vay, nâng cao
hiệu quả tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng được tốt hơn.
a) Căn cứ mục đích sử dụng
-
Cho vay bất động sản: Bao gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn
5
b) Căn cứ vào kỳ hạn
-
Cho vay ngắn hạn: Thời hạn cho vay đến một năm và được sử dụng
để bổ sung, bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân
-
Cho vay trung hạn: Thời hạn vay từ trên 1 năm đến 5 năm để đầu tư
mua tài sản cố định, cải tiến đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng kinh doanh…
-
Cho vay dài hạn: Thời hạn cho vay từ trên 5 năm, tối đa có thể lên
đến 20, 30 năm, một số trường hợp lên đến 40 năm, căn cứ vào nhu cầu sử
dụng và khả năng nguồn vốn của ngân hàng.
c) Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
-
Cho vay có đảm bảo: là hình thức cho vay dựa trên cơ sở thế chấp,
cầm cố các tài sản bảo đảm của chính khách hàng hoặc của người thứ ba sẵn
sàng dùng tài sản của mình cam kết bảo đảm cho khoản vay của khách hàng.
-
Cho vay không có tài sản đảm bảo: là hình thức cho vay không có
6
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với
một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một
tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức khác.
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn ngân hàng và khách hàng xác định và
thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc chưa được chia ra để trả
nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Phương thức này áp dụng đối với
các khách hàng có nhu cầu vay trả thường xuyên, tình hình kinh doanh ổn
7
định, vòng quay vốn nhanh và có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng.
- Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn
để thực hiện các dự án đầu tư sản xuất.
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ
chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong
phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút
tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là các đại lý của tổ
chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, TCTD và
khách hàng phải tuân theo các quy định của hính phủ và NHNN.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết
đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng
nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của
hạn mức tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng
thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên
tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ
và NHNN Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán.
giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của DN để đản bảo các khoản vay
được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.
-
Hoạt động cho vay góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả:
+ Các NHTM thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng, góp phần
làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông. Lượng tiền này nếu không
được huy động và sử dụng kịp thời thì có thể ảnh hưởng xấu đến lưu thông
tiền tệ.
+ NHNN bằng các hoạt động cụ thể và công cụ lãi suất chiết khấu, tái
chiết khấu để điều tiết lượng tiền trong lưu thông.
-
Hoạt động cho vay là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước
Như ta đã biết cơ cấu kinh tế được quyết định bởi cơ cấu đầu tư mà
hoạt động cho vay lại quyết định đến cơ cấu đầu tư. Nhà nước thông qua hoạt
động của các NHTM, chủ yếu là hoạt động cho vay để điều chỉnh cơ cấu
kinh tế. Ngoài ra cho vay cũng là cách để NH giúp Nhà Nước quản lý tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong nền kinh tế thông qua cơ
9
chế giám sát hoạt động cấp tín dụng của các NHTM.
1.1.4. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng
thương mại
Cho vay là một trong những hoạt động chính của ngân hàng, mang lại
thu nhập lớn nhất cho ngân hàng đồng thời cũng mang lại rủi ro lớn nhất cho
Chất lượng cho vay được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng
(người vay tiền), phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo sự tồn tại
phát triển của ngân hàng. Vì vậy chất lượng cho vay là một khái niệm vừa cụ
thể: Thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận, nợ quá hạn, rủi ro cho vay (RRCV), vừa
mang tính trừu tượng: Thể hiện ở việc thu hút khách hàng, khả năng cạnh
tranh. Do đó ngân hàng nào hiểu đúng được bản chất của chất lượng cho vay
sẽ đạt được kết quả cao trong hoạt động kinh doanh và đứng vững trong nền
kinh tế thị trường. Chất lượng cho vay thể hiện trên nhiều khía cạnh:
a. Đối với bản thân ngân hàng
Chất lượng cho vay được hiểu ở phạm vi, mức độ, giới hạn cho vay
phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh
tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi, hạn chế đến
mức thấp nhất rỉu ro trong quá trình hoạt động, mang lại lợi nhuận và đảm
bảo tính thanh khoản cho ngân hàng. Bởi hoạt động cho vay là hoạt động
truyền thống của ngân hàng, là chức năng cơ bản của NHTM. Hoạt động cho
vay đem lại thu nhập chính và chiếm phần lớn thu nhập trong tổng thu nhập
của ngân hàng. Nhưng bên cạnh đó rủi ro trong lĩnh vực này rất cao. Vì vậy
hoạt động tín dụng lành mạnh có chất lượng và hiệu quả cao đảm bảo duy trì
hoạt động của ngân hàng góp phần lành mạnh hệ thống ngân hàng.
b. Đối với khách hàng
Chất lượng cho vay được thể hiện ở chỗ cho vay phải có một mức lãi
suất hợp lý để khách hàng không phải chịu giá cao và kỳ hạn hợp lý để tiện kế
hoạch sử dụng vốn vay và trả nợ cho ngân hàng, thủ tục đơn giản và thuận tiện
cho khách hàng. Thu hút khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc cho vay.
11
c. Đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Chất lượng cho vay là sự phục vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và lưu
Các chỉ tiêu định tính là các chỉ tiêu không lượng hóa được, các chỉ tiêu
định tính thường dùng để đánh giá chất lượng cho vay là:
a. Uy tín ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường luôn có sự cạnh tranh để tồn tại và phát
triển các ngân hàng phải chấp nhận sự cạnh tranh như sự lựa chọn tất yếu. Vì
cạnh tranh là một quy luật tự nhiên, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển.
Trong cùng một môi trường như nhau các ngân hàng phải tận dụng được cơ
hội vươn lên đối thủ cạnh tranh khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế.
Do vậy uy tín của ngân hàng là rất quan trọng với sự phát triển và tồn tại của
ngân hàng
b. Việc chấp hành pháp luật của ngân hàng
Pháp luật của ngân hàng như là luật NHNN, luật tổ chức tín dụng, việc
chấp hành văn bản chỉ đạo của nhà nước, chính phủ và của ngân hàng, chấp
hành quy chế, quy trình nghiệp vụ, chế độ thể lệ tín dụng trong quá trình thực
hiện quy chế cho vay. Khi thực hiện nghiệp vụ cho vay các ngân hàng phải
tuân thủ các điều kiện, các nguyên tắc các quy định của nhà nước và của
thống đốc NHNN.
c. Tín dụng ngân hàng góp phần tăng trưởng, phát triển kinh tế và khả
năng tạo việc làm cho nguồn nhân lực xã hội.
Việc nâng cao chất lượng cho vay sẽ góp phần vào việc đổi mới nền
kinh tế. Đây là hệ quả tất yếu khi khách hàng và ngân hàng hoạt động có hiệu
quả, đem lại lợi ích của hai bên.
d. Thiện chí trong việc trả nợ của khách hàng
Khách hàng là một yếu tố quan trọng cần phải xem xét khi đánh giá
chất lượng cho vay. Khách hàng chính là một phần quan trọng trong quan hệ
cho vay có được cải thiện hay không một phần phụ thuộc vào thiện chí trong
việc trả nợ của khách hàng.
1.1.6.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng
a. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn
Số dư nợ xấu
=
Tổng dư nợ
X 100
Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu chứng tỏ chất lượng cho vay của ngân
hàng đó rất thấp và lúc này phải xem xét lại toàn bộ hoạt động cho vay của
mình, nếu không sẽ không lường trước được hậu quả có thể xảy ra.
c. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi
Nợ không có khả năng thu hồi chính là nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)
Tỷ lệ nợ có khả năng
thu hồi (%)
=
Nợ có khả năng mất
Tổng dư nợ
X 100
Tỷ lệ này càng cao thì chất lượng cho vay của ngân hàng càng thấp,
nguy cơ ngân hàng không thu hồi đủ nợ gốc, tổn thất với ngân hàng rất cao.
d. Nhóm chỉ tiêu tổng dư nợ
Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cung
cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay
Một khoản cho vay có chất lượng cao thì sẽ mang lại cho ngân hàng
một khoản thu nhập. Nguồn thu từ hoạt động cho vay là nguồn thu chủ yếu
của ngân hàng. Lợi nhuận từ hoạt động cho vay mang lại chứng tỏ các khoản
vay không những thu hồi được vốn mà còn lãi, đảm bảo sự an toàn của nguồn
vốn cao.
Tóm lại: Để đánh giá chất lượng cho vay của một ngân hàng có rất
nhiều chỉ tiêu. Việc kết hợp các chỉ tiêu để đánh giá sẽ đem lại kết quả chính
xác hơn chất lượng cho vay từ đó giúp ngân hàng quản lý hiệu quả và an toàn
hoạt động này.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng
Chất lượng cho vay là một vấn đề được quan tâm hàng đầu tại các
NHTM. Chính vì vậy các NHTM đã và đang nỗ lực để tìm ra các nhân tố ảnh
hưởng tới chất lượng cho vay nhằm tìm lời giải cho bài toán nâng cao chất
lượng cho vay tại ngân hàng mình. Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới chất
lượng cho vay tại NHTM. Có các nhân tố chủ quan và các nhân tố khách
quan. Đối với mỗi ngân hàng, tùy theo quy mô, trình độ quản lý và mục tiêu
15
hoạt động, các nhân tố này sẽ có ảnh hưởng ở mức độ khác nhau. Tuy vậy
nhìn chung có một số nhân tố chủ yếu sau:
1.2.1 Nhân tố khách quan
Là nhóm nhân tố bên ngoài ngân hàng không do chủ quan của ngân hàng
a. Môi trường kinh tế
Đây là nhân tố quan trọng trong nhóm nhân tố khách quan vì bất kỳ
hoạt động kinh tế nào diễn ra trong một môi trường kinh tế nhất định và chịu
tác động mạnh mẽ của môi trường đó. Vì vậy môi trường kinh tế xã hội có
ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động cho vay của ngân hàng.
hàng và khách hàng đều phải nắm bắt được tiến bộ khoa học công nghệ.
d. Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh
doanh. Những biến động bất khả kháng xảy ra trong môi trường tự nhiên như
thiên tai, động đất, hạn hán, hỏa hoạn,… đều làm ảnh hưởng tới hoạt động sản
xuất kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là khách hàng trong các ngành
nông, lâm, ngư nghiệp là những ngành có hoạt động sản xuất kinh doanh chịu
ảnh hưởng rất lớn từ môi trường khí hậu tự nhiên. Vì vậy, khi môi trường tự
nhiên không thận lợi thì các cá nhân, tổ chức các doanh nghiệp sẽ khó khăn
trong sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa, tức nó đã gián tiếp tác động
tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy có thể làm giảm chất lượng
cho vay của NHTM.
e. Môi trường pháp luật
Cũng như các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường , hoạt
động của NHTM luôn bị điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật. Với môi trường
pháp luật hoàn thiện ổn định, các luật và văn bản dưới luật dược ban hành một
cách đồng bộ và kịp thời sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngân
hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng. Do vậy môi trường pháp lý
cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay.
f. Môi trường quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, vấn đề hội nhập quốc tế là tất
17
yếu khách quan với tất cả các quốc gia trên thế giới. Tháng 11/2007 Việt Nam
chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại WTO. Mặt
khác nền kinh tế Việt Nam là một bộ phận của nền kinh tế thế giới chính vì vậy
môi trường quốc tế cũng tác động tới kinh tế Việt Nam, qua đó ảnh hưởng đến
hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong đó có chất lượng cho vay.
vấn đề phát sinh khi thu hồi nợ vay. Quy trình cho vay là linh hoạt đối với
từng đối tượng vay trong từng thời kỳ tùy thuộc vào đường lối đã nêu trong
các chính sách cho vay. Một quy trình cho vay tốt là phải đảm bảo được sự
phối hợp nhịp nhàng giữa các bước thực hiện cấp tín dụng. Điều đó sẽ tạo
điều kiện cho vốn vay được luân chuyển theo đúng kế hoạch đã định. Chất
lượng một khoản vay cao hay thấp chịu ảnh hưởng không nhỏ của quy trình
cấp tín dụng.
+ Chất lượng đội ngũ cán bộ
Con người luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của bất
kỳ một tổ chức nào, trong đó có ngân hàng. Trong hoạt động cho vay,
CVQHKH là người tham gia trực tiếp vào mọi khâu của quy trình cho vay. Một
ngân hàng với đội ngũ lãnh đạo tốt sẽ đưa ra những chính sách hợp lý và
phương thức phát triển phù hợp với khuynh hướng phát triển của nền kinh tế.
Một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm cao sẽ đánh
giá chính xác tính khả thi của dự án, xác định khả năng trả nợ hay năng lực
thực sự của khách hàng. Cán bộ còn phải có khả năng dự đoán trước những
biến động có thể xảy ra để tư vấn cho khách hàng, xây dựng điều chỉnh phương
án kinh doanh phù hợp. Bên cạnh đó người cán bộ phải có tư cách đạo đức tốt,
làm việc có tính tập thể để mang lại lợi ích cao nhất cho ngân hàng.
+ Kiểm tra kiểm soát nội bộ
Nếu như chất lượng cho vay phụ thuộc không nhỏ vào chất lượng của
các cán bộ thực hiện cho vay thì việc kiểm kiểm soát nội bộ chính là một biện
pháp để kiểm tra, giám sát các hoạt động của các cán bộ thực hiện. Thông qua
công tác kiểm soát nội bộ việc thực hiện cấp tín dụng sẽ được giám sát dựa
trên quy chế và các quy định của pháp luật. Mặt khác, khi kiểm tra kiểm soát
19