Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Rèn kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận cho học sinh giỏi văn
theo định hướng phát triển năng lực người học sinh
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Công tác dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ 9/ 2016 đến 5/ 2017
4. Đồng tác giả: ..................., ..................., ...................
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến
- Tên đơn vị : Trường THPT ............................
6. Mã Sáng kiến: SK41
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
1. Xuất phát từ sự đổi mới dạy và học trong nhà trường phổ thông
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực
hóa học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với
những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt
động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giữa giáo
viên và học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã
hội. Để hiện thực hóa định hướng đổi mới này, các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều biện
pháp đổi mới khác nhau : từ việc cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống như
thuyết trình, đàm thoại… đến các phương pháp mới như phương pháp dạy học nêu và giải
quyết vấn đề, phương pháp dự án, phương pháp đàm thoại gợi mở, phương pháp dạy học
nhóm, và các kỹ thuật dạy học hiện đại… nhằm phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo
của người học, hình thành những năng lực chung ( Năng lực làm chủ và phát triển bản
thân: tự học, giải quyết vấn đề, sáng tạo và quản lý bản thân; Năng lực xã hội : năng lực
viết cần tạo cho học sinh cơ hội vận dụng được những điều đã học vào giải quyết những vấn
đề mà thực tiễn đặt ra phù hợp với trình độ của các em. Giống như rèn luyện và đánh giá
năng lực đọc hiểu, việc rèn luyện và đánh giá năng lực tạo lập văn bản của học sinh cũng
phải được tiến hành thường xuyên, trong đó có rèn luyện kĩ năng giải thích
3. Thực tế quá trình rèn luyện kĩ năng giải thích cho học sinh giỏi văn trong bài
văn nghị luận hiện nay
Tuy là những học sinh giỏi, có chất văn, có năng lực cảm thụ văn chương, có khả
năng diễn đạt tốt, nhưng các em vẫn còn yếu về kỹ năng làm bài, trong đó có kỹ năng từng
bước thực hiện các thao tác lập luận như phân tích, chứng minh, bình luận… trong đó ta
phải kể đến một khâu vô cùng quan trọng là viết phần giải thích. Để làm tốt một đề thi là
nghị luận văn học hay nghị luận xã hội, học sinh trước hết phải thuần thục các thao tác nghị
luận mà đầu tiên là kỹ năng giải thích.
Đề văn những năm gần đây ra theo lối mở theo tinh thần đổi mới của Bộ giáo dục
nhằm để phát huy tư duy sáng tạo của học sinh. Trong đề thường không có chỉ dẫn rõ ràng
về thao tác lập luận, thế nhưng khi làm bài các em cần thiết phải biết phối hợp nhuần
nhuyễn các thao tác nghị luận. Phần giải thích chiếm tỉ lệ điểm khá cao trong một bài văn,
nếu các em không làm tốt phần này sẽ mất đi một cơ số điểm quan trọng và không đạt yêu
cầu của một bài viết.
Với học sinh giỏi không làm tốt bài văn nghị luận có nhiều nguyên nhân cả về khách
quan lẫn chủ quan, nhưng trong đó phải kể đến một thiếu sót đáng tiếc thuộc về phía người
làm bài. Đó là có không ít học sinh quên không giải thích, có học sinh có giải thích nhưng
còn sơ sài chưa sâu sắc thấu đáo, kín cạnh và chưa thể hiện được cái chất của một học sinh
giỏi văn. Hoặc nhiều học sinh không biết cách giải thích cho dù có kiến thức. Có em không
biết viết đoạn giải thích sao cho phù hợp…Có những thiếu sót đó trong bài văn là do các em
học sinh còn thiếu kỹ năng và vận dụng kỹ năng giải thích chưa tốt khi viết bài.Có lẽ còn có
nguyên nhân từ phía người dạy, mải chú trọng đến cung cấp kiến thức mà ít chú ý tới việc
3
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
đi lệch đường ray.
- Có lúc giải thích lại góp phần làm sáng tỏ nguyên nhân của vấn đề. Ví dụ trong kiểu
bài so sánh văn học, một phần không thể thiếu sau khi đã tiến hành nghị luận so sánh là
chúng ta phải chỉ ra nguyên nhân tại sao có sự giống và khác nhau như vậy? Hoặc cũng cần
phải thực hiện thao tác giải thích nguyên nhân hình thành một hiện tượng văn học nào đó để
4
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
cho phần nghị luận thêm sâu hơn như: Những yếu tố nào làm nên vẻ đẹp cổ điển và hiện đại
trong thơ Hồ Chí Minh; Vì sao Thơ mới thường buồn?…
Có thể một bài văn nghị luận hay sẽ thấy rất ít dấu vết của kĩ năng, kĩ xảo. Nhưng có
một sự thật là: Nếu chỉ viết văn theo lối bản năng, không ý thức đầy đủ về nghệ thuật và kĩ
thuật viết thì ít khi có được bài văn hay. Đáng tiếc rằng, đa số học sinh, kể cả học sinh giỏi
văn vẫn chưa thực sự ý thức được điều này. Chính vì thế các em còn mắc khá nhiều lỗi với
kĩ năng giải thích.
Trên thực tế chúng tôi nhận thấy học sinh hay mắc những lỗi như sau:
- Với yêu cầu giải thích để tìm ra vấn đề nghị luận
+ Không giải thích: Học sinh bỏ qua bước giải thích mà đi vào bàn bạc luôn hoặc chỉ
coi việc phân tích, chứng minh hiện tượng là đủ.
+ Giải thích sai: Học sinh thực hiện giải thích nhưng không hiểu đúng khái niệm,
thuật ngữ, hình ảnh, cơ chế chuyển nghĩa tu từ, cách diễn đạt... dẫn tới hiểu sai vấn đề nghị
luận.
+ Giải thích thiếu: Học sinh có tiến hành giải thích nhưng không nhạy cảm, không
xác định được nội dung quan trọng cần giải thích nên giải thích thiếu hoặc rất sơ sài, khái
lược và khái quát không đầy đủ được vấn đề nghị luận.
+ Giải thích thừa, dài dòng: Học sinh đi quá tỉ mỉ vào câu chữ mà không xác định
được từ ngữ nào quan trọng để giải thích. Đó là tình trạng chẻ sợi tóc làm tư khiến cho lối
giải thích trở thành “lẩm cẩm”.
nghiệp.
III. Giải pháp
Xuất phát từ vai trò quan trọng của kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận, từ thực
tế bài làm của học sinh, để nâng cao kĩ năng giải thích trong bài văn nghị luận cho học sinh,
chúng tôi đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:
* Về nhận thức tư tưởng
- Nhận thức đúng về mục tiêu dạy học
+ Kiến thức: Học sinh hiểu được thế nào là giải thích, thao tác lập luận gải thích
trong bài văn nghị luận
+ Kĩ năng: Học sinh được nhận diện, phân tích, thực hành tạo lập các đoạn giải thích,
bài văn có sử dụng thao tác lập luận giải thích trong sự kết hợp với các thao tác lập luận
khác.
+ Thái độ: Có ý thức thường xuyên và nghiêm túc rèn luyện kỹ năng giải thích trong
quá trình làm bài văn nghị luận
- Nhận thức đúng về dạy học phát triển năng lực của người học sinh: Không phải
là dạy để người học biết kiến thức gì mà dạy cách người học được làm chủ kiến thức, vận
dụng linh hoạt kiến thức trong những tình huống cụ thể như thế nào? Bằng những kỹ năng
nào?
* Giải pháp trọng tâm
6
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
1. Trang bị cho học sinh những hiểu biết chung về lập luận và lập luận giải thích
trong bài văn nghị luận
1.1 Lập luận trong văn nghị luận
- Lập luận: là kết nối, tổ chức các luận cứ, luận điểm thành một mối liên kết lô-gíc,
chặt chẽ, làm cho quan điểm, ý kiến của mình trở nên rõ ràng, nổi bật, thuyết phục được
người đọc (người nghe).
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
+ Chứng minh là đẻ cho người ta tin. Trong văn nghị luận, nhu cầu chứng minh chỉ
xuất hiện khi có ai đó còn hoài nghi trước một vấn đề, một ý kiến, một nhận xét. Chứng
minh đưa người ta đến chỗ tin tưởng hơn, công nhận điều đó là đúng đắn, rõ ràng.
+ Lập luận chứng minh cần phải: Xác định nội dung cần chứng minh, phân chia thành
từng phương diện rồi sắp xếp theo một trình tự khoa học, chặt chẽ, rõ ràng. Sau đó lần lượt
chứng minh từng yếu tố bằng các luận cứ (lí lẽ và dẫn chứng) thích đáng, đặc biệt, sức
thuyết phục của chứng minh là ở chứng cứ.
- Thao tác lập luận bác bỏ
+ Bác bỏ là hoạt động đối lập với hoạt động chứng minh ở chỗ: chứng minh có nhiệm
vụ khẳng định, qua đó giúp con người tin tưởng vào điều đúng đắn. Bác bỏ là phủ định, làm
nảy sinh trong con người lòng hoài nghi, ý muốn gạt bỏ, loại trừ, để vượt lên trên một điều
không đúng đắn.
+ Thao tác lập luận bác bỏ: Là cần thực hiện những yêu cầu bác bỏ với mức độ cao
hơn: trình bày trung thực phản đề; bác bỏ phản đề theo một trong các hướng: bác bỏ luận
điểm của đối phương bằng cách chứng minh luận điểm đó trái ngược với chân lí, hoặc bác
bỏ luận cứ của đối phương làm cho người đọc thấy luận cứ đó không thật, không hợp lẽ
phải.
- Thao tác lập luận bình luận
+ Bình luận là bàn và nhận định, đánh giá về một tình hình, một vấn đề nào đó. Bình
luận vốn có nguồn gốc từ trong cuộc sống bởi từ tình hình, vấn đề thực tế có những quan
điểm, ý kiến riêng, không giống, đôi khi còn đối lập gay gắt với ý kiến của một số người
khác. Khi đã đủ tự tin vào sự nhận định người ta tự khắc có nhu cầu phát biểu những ý kiến
đó với mọi người. Đó là những lời bình luận.
+ Thao tác lập luận bình luận là bày tỏ quan điểm, ý kiến về một vấn đề xã hội hoặc
văn học. Bình luận chỉ có ý nghĩa khi người bình luận tin chắc rằng quan điểm, ý kiến của
mình là đúng, có căn cứ trong chân lí và thực tế và tin chắc rằng có thể bảo vệ được quan
2.1 Đối với việc giải thích để tìm ra vấn đề nghị luận
2.1.1 Giải thích cái gì?
- Trong đề văn nghị luận, luận đề được nêu dưới nhiều hình thức khác nhau. Có khi
nêu trực tiếp, có khi nêu gián tiếp đòi hỏi người viết phải giải mã ngôn từ, hình ảnh để tìm
ra.
+ Luận đề được nêu trực tiếp
Ví dụ 1: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân qua tác phẩm Chữ người tử tù.
Ví dụ 2: Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu đã xây dựng
được một tình huống truyện đặc sắc. Anh/ chị hãy phân tích làm sáng tỏ.
+ Luận đề được nêu dưới dạng 1 nhận định, 1 văn bản ngắn
Ví dụ 1: Có ý kiến cho rằng Mỗi chúng ta hãy học cách viết những đau buồn, thù hận
lên cát và khắc những ân nghĩa lên đá.
Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn
đề trên.
Ví dụ 2: Ta hỏi một con chim: “Ngươi cần gì?”. Chim trả lời: “Ta cần bay. Một con
chim được ăn kê béo trong lồng sẽ trở thành con gà bé bỏng tội nghiệp và vô dụng”. Ta hỏi
một dòng sông: “Ngươi cần gì?”. Sông trả lời: “Ta cần chảy. Một dòng sông không chảy sẽ
trở thành vũng nước khô cạn dần rồi biến mất”. Ta hỏi một con tàu: “Ngươi cần gì?”. Con
9
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
tàu trả lời: “Ta cần được ra khơi. Một con tàu không ra khơi chỉ là vật biết nổi trên mặt
nước và sẽ chìm dần theo thời gian”. Ta hỏi một con người: “Ngươi cần gì?”. Con người
này trả lời: “Ta cần được lao động trong sáng tạo”.
(Những câu hỏi không lãng mạn - Nguyễn Quang Thiều,
Vietnamnet, thứ 5, ngày 7 tháng 1 năm 2010)
Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề được đặt ra trong đoạn văn trên.
- Đứng trước những cách hỏi khác nhau, để khái quát vấn đề nghị luận chính xác,
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
xúc; câu mệnh lệnh thường để thể hiện những đề nghị hoặc lời khuyên...). Ví dụ: Câu nói
Hãy biến mình thành ngọn lửa, ngọn lửa sẽ làm bùng lên ánh sáng của sự thành công được
tổ chức dưới hình thức câu cầu khiến có ý nghĩa như một lời đề nghị, lời khuyên về thái độ
sống tích cực: đam mê, nhiệt huyết, nỗ lực vươn lên để khẳng định bản thân và cống hiến.
Hoặc với câu thơ Ôi! Sống đẹp là thế nào, hỡi bạn? (Tố Hữu) là một câu hỏi đầy băn khoăn
hướng đến các bạn trẻ để tìm kiếm lời giải đáp về lối sống đẹp.
Có thể lí giải hình thức câu khẳng định, phủ định để tìm ra quan điểm, lập trường của
người nói, người viết thể hiện trong câu văn. Ví dụ: Với lời phát biểu của Nam Cao trong
truyện ngắn Giăng sáng: Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là
ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm
than, học sinh cần nhận thấy ý nghĩa của cách sử dụng câu phủ định, câu khẳng định trong
việc thể hiện quan điểm nghệ thuật của nhà văn là phủ nhận quan điểm sáng tạo văn chương
thoát li, thi vị hóa hiện thực cuộc đời đồng thời khẳng định quan niệm sáng tác vì cuộc đời
và con người.
Có thể lí giải cách tổ chức và mối quan hệ giữa các vế trong một câu để hiểu rõ nội
dung câu nói cần nhấn mạnh. Ví dụ: Với câu nói Đừng sống bằng thói quen, hãy sống bằng
trải nghiệm, người viết cần quan tâm lí giải mối quan hệ đối lập giữa hai vế của câu nói để
rút ra bài học đúng đắn là cần từ bỏ những nếp sống cũ mòn để khám phá những điều mới
mẻ của hiện thực cuộc sống.
Có thể tìm hiểu hiệu quả của việc sử dụng các phép tu từ cú pháp trong việc biểu đạt
nội dung câu nói. Với câu văn sử dụng phép lặp cấu trúc pháp, ngoài việc tăng sức hấp dẫn
về hình thức ngôn từ còn có tác dụng nhấn mạnh, làm nổi bật nội dung luận đề. Với mệnh
đề có sử dụng chêm xen thường làm cụ thể hóa một khía cạnh nào đó của vấn đề. Với
trường hợp sử dụng liệt kê thường thể hiện sự phong phú, đa dạng các phương diện của vấn
đề. Ví dụ: Với câu nói Khi của cải mất, chẳng có gì mất cả. Khi sức khỏe mất, mất một vài
thứ rồi. Khi ý chí mất, chẳng còn lại gì nữa, người viết cần thấy được tác dụng của phép lặp
cú pháp kết hợp với phép liệt kê trong việc nhấn mạnh nội dung nghị luận là vai trò của ý
(Theo Lâm Ngữ Đường, Tinh hoa xử thế)
- Cách liệt kê các biểu hiện: Dùng để nêu những phương diện khác nhau của vấn đề.
Ví dụ: Đạo đức gồm cả luân lí mà luân lí chỉ là một phần trong đạo đức mà thôi. Đã
gọi là người thì phải có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cần, kiệm. Nhân là có lòng thương người;
Nghĩa là làm việc phải; Lễ là ăn ở cho có lễ độ; Trí để làm việc cho đúng; Tín là nói với ai
cũng giữ lời cho người ta tin mình mới làm được việc; Cần là làm việc phải siêng năng;
Kiệm là ăn ở dành dụm trong lúc no để phòng lúc đói, lúc có để phòng lúc không...
(Trích Đạo đức và luân lí Đông Tây – Phan Châu Trinh)
- Cách so sánh, đối chiếu với các hiện tượng khác: Dùng khi cần phân biệt những khái
niệm gần gũi với vấn đề giải thích, tránh gây nhầm lẫn.
Ví dụ: Tự phụ là đánh giá bản thân quá cao, không dựa trên những khả năng thực sự
của mình và luôn xem thường người khác. Những người tự phụ thường lầm tưởng mình là
tự tin nhưng thực sự người tự tin phải là người đánh giá đúng năng lực của mình trong
cuộc sống, lấy đó làm điểm tựa để hành động quyết đoán.
(Bài làm của học sinh)
2.2 Đối với việc giải thích để triển khai luận điểm, luận cứ
Sức thuyết phục của bài văn nghị luận chính là ở hệ thống luận điểm, luận cứ và cách
tổ chức lí lẽ và dẫn chứng. Để đưa người đọc từ chỗ chưa hiểu đến chỗ hiểu đúng, hiểu sâu,
12
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
người viết cần nêu chính xác, rõ ràng luận điểm cần giải thích, tìm đầy đủ các luận cứ để
làm sáng rõ cho các luận điểm. Muốn xây dựng được hệ thống luận cứ, phải biết đặt câu
hỏi. Tương ứng với mỗi câu hỏi, người học sẽ tìm được lí lẽ phù hợp gắn liền với một cách
giải thích tương ứng. Hệ thống câu hỏi có thể đặt ra để tìm lí lẽ là: Vì sao lại thế? Muốn thế
phải thế nào?
2.2.1 Nguyên tắc tìm và tổ chức lí lẽ
- Nguyên tắc tìm lí lẽ: Lí lẽ được dùng để giải thích cần phải
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
Để trả lời câu hỏi này, người viết phải sử dụng kết hợp các thao tác giải thích, phân
tích, chứng minh nhằm chỉ rõ các mặt lợi, hại của vấn đề; nguyên nhân, hậu quả... một cách
thấu đáo.
Ví dụ 1: Tại sao con người phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là một cuộc
đua tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng, nhưng thật ra chỉ là
những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể
đem so sánh với mọi người cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài năng đến đâu cũng
luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi.
(Theo Lâm Ngữ Đường, Tinh hoa xử thế)
Ví dụ 2: Trong “Truyện Kiều” cái gì quy định sự thể hiện các nhân vật? Cái gì làm
cho sự miêu tả các nhân vật Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Đạm Tiên khác với các nhân vật
như Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh? Phải chăng một đằng đã bước sang chủ nghĩa
hiện thực, còn đằng kia thì chưa thoát khỏi trói buộc của mĩ học phong kiến? Nhưng nếu
như vậy, thì tại sao chỗ này thoát khỏi còn chỗ kia thì bó tay? Ở đây có một quan niệm nghệ
thuật gắn liền với hình thức mô tả đó. Kiều, Kim Trọng... là loại người được mô tả như các
“đấng”, “bậc” trong xã hội (“đấng anh hùng”, “đấng tài hoa”, “bậc tài danh”, “bậc bố
kinh”...). Mà đã là “đấng”, “bậc” thì không thể mô tả như những người phàm tục và phải
tuân thủ theo các mẫu mực có sẵn. Còn bọn Tú, Mã, Sở... thực tế là quân vô loài, mà đã là
quân vô loài thì còn có quy tắc chuẩn mực nào ràng buộc được? Mẫu mực duy nhất để
miêu tả chúng là hiện thực, do tác giả quan sát khái quát trực tiếp.
(Trần Đình Sử)
- Tìm lí lẽ để trả lời câu hỏi Như thế nào?
Đây là câu hỏi quan trọng nhằm tìm ra lí lẽ để tìm ra giải pháp khắc phục hoặc phương
hướng duy trì, phát triển hiện tượng, vấn đề, từ đó có nhận thức và hành động đúng đắn.
Ví dụ 1: Muốn yêu thì phải hiểu, muốn người trẻ yêu âm nhạc dân tộc, hãy dạy cho họ
ý nghĩa của ca từ đặt trong hoàn cảnh ra đời của một tác phẩm. Tuy nhiên, cái khó khăn
cũng được đặt ra: khoảng cách thời đại, khoảng cách lịch sử và phong cách sống làm dài
thêm chặng đường người trẻ tiếp cận được chữ “hiểu”. Nhưng những nỗ lực tuyệt vời của
đề, đọc có ghi chép với những nội dung thiết thực.
3.2 Hướng dẫn học sinh quan sát, tìm hiểu, đánh giá những hiện tượng đời sống
có tính thời sự trong xã hội
3.3 Hướng dẫn học sinh hệ thống hóa những kiến thức đã tìm hiểu vào sổ tay ghi
chép một cách khoa học
Trong sổ ghi chép, người học cần phân loại kiến thức thành các lĩnh vực, ở từng lĩnh
vực có thể lập bảng hệ thống để thuận lợi cho việc ghi chép, tra cứu, học tập. Trong đó, cần
tạo khoảng mở cho những mục nêu ý nghĩa, bài học để thường xuyên bổ sung. Học sinh có
thể tham khảo các bảng mẫu sau:
Ví dụ 1: Bảng hệ thống các biện pháp tu từ
Tên biện pháp
STT
1
So sánh
Khái niệm,
đặc điểm
- Đem sự vật này đối
chiếu với sự vật khác
có nét tương đồng.
- Cấu trúc so sánh: cái
Hiệu quả
- Gợi hình ảnh
cụ thể.
- Sinh động, gợi
những cảm xúc
Ví dụ
đó.
thẩm mỹ.
Tăng tính tạo
hình, hàm súc,
thể hiện một
cách kín đáo, tế
nhị nội dung
biểu đạt.
hai, chim én gặp
mùa...
(Chế Lan Viên)
Thuyền về có
nhớ bến chăng/
Bến thì một dạ
khăng khăng đợi
thuyền.
(Ca dao)
Ví dụ 2: Bảng hệ thống các hiện tượng đời sống xã hội
STT
Hiện tượng
1 Reo hò, cổ vũ, ghi
lại cảnh ẩu đả và
tung lên mạng
2 Một bộ phận người
...
- Tôn trọng
những quy
định chung.
- Tôn trọng
lợi ích người
khác.
- Văn hóa
ứng xử nơi
16
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
công cộng.
...
3
...
3.4 Hướng dẫn học sinh thường xuyên có ý thức bổ sung, cập nhật các kiến thức
4. Hướng dẫn học sinh thực hành thao tác lập luận giải thích
4.1 Thực hành nhận diện
- Với bài tập nhận diện, giáo viên cần giúp học sinh nhận biết và phân biệt được giải
thích với các thao tác khác trong quá trình lập luận.
- Để hướng dẫn học sinh nhận diện, giáo viên có thể đưa ra một số văn bản, mỗi văn
bản sử dụng một thao tác khác nhau để học sinh chỉ ra văn bản có sử dụng thao tác giải
thích hoặc đưa ra một văn bản sử dụng kết hợp các thao tác để học sinh chỉ ra thao tác giải
thích trong văn bản. Từ đó, học sinh nêu dấu hiệu nhận biết thao tác giải thích trong văn
bản.
Trăng soi người biệt li “Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”; trăng gợi một kỉ niệm tình
cũ đau buốt “Mày ai trăng mới in ngần”. Lãng đãng trên các trang Kiều, người ta vẫn gặp
những vầng trăng xao xuyến lòng người. Ở nơi khác, trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du vẫn
nói về trăng có câu như sau đây:
Lúc cùng đường trăng lại đến thăm ta,
Ba mươi năm trăng theo ta suốt chân trời góc biển.
Đọc hai câu thơ trên tôi bàng hoàng nghiệm ra rằng nếu không có ba mươi năm
“chân trời góc biển” kia thì làm sao có được vầng trăng ấy trong “Truyện Kiều”.
(Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường)
Đoạn văn trên có sử dụng kết hợp các thao tác lập luận như phân tích, chứng minh, giải
thích. Với yêu cầu đề bài, học sinh cần chỉ ra cách giải thích trong đoạn văn là cắt nghĩa vì
sao trong thơ Nguyễn Du thường có những vầng trăng xao xuyến lòng người. Việc sử dụng
thao tác giải thích giúp người đọc hiểu rõ nguyên nhân là nhờ có ba mươi năm chân trời
góc biển trong cuộc đời Nguyễn Du. Đó cũng là một cách khẳng định mối liên hệ máu thịt
giữa cuộc đời và sáng tác của nhà thơ, những năm tháng lênh đênh, phiêu bạt đó đã trở
thành vốn sống phong phú tạo tiền đề cho sáng tác.
Ví dụ 2: Chỉ ra cách giải thích và tác dụng của việc sử dụng thao tác giải thích trong
đoạn văn sau:
Trong “Truyện Kiều” cái gì quy định sự thể hiện các nhân vật? Cái gì làm cho sự miêu
tả các nhân vật Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Đạm Tiên khác với các nhân vật như Sở Khanh,
Tú Bà, Mã Giám Sinh? Phải chăng một đằng đã bước sang chủ nghĩa hiện thực, còn đằng
kia thì chưa thoát khỏi trói buộc của mĩ học phong kiến? Nhưng nếu như vậy, thì tại sao chỗ
này thoát khỏi còn chỗ kia thì bó tay? Ở đây có một quan niệm nghệ thuật gắn liền với hình
thức mô tả đó. Kiều, Kim Trọng... là loại người được mô tả như các “đấng”, “bậc” trong
xã hội (“đấng anh hùng”, “đấng tài hoa”, “bậc tài danh”, “bậc bố kinh”...). Mà đã là
“đấng”, “bậc” thì không thể mô tả như những người phàm tục và phải tuân thủ theo các
mẫu mực có sẵn. Còn bọn Tú, Mã, Sở... thực tế là quân vô loài, mà đã là quân vô loài thì
còn có quy tắc chuẩn mực nào ràng buộc được? Mẫu mực duy nhất để miêu tả chúng là
hiện thực, do tác giả quan sát khái quát trực tiếp.
18
thách, vững bước trên mọi chặng đường đời, không nhụt chí mà vẫn kiên cường giương cao
cánh buồm tâm hồn mình trước bao sóng gió. Với cách nói hình ảnh, câu nói trích trong
Nhật kí Đặng Thùy Trâm đã tái hiện một cách chân thực nếp sống tâm hồn của lớp trẻ trong
thời kì kháng chiến đầy hiểm nguy, gian khổ nhưng vẫn cất cao tiếng hát vượt trên mọi khói
bom, bạo tàn đồng thời khẳng định lối sống cao đẹp, sống ngẩng cao đầu trước mọi bão tố
phong ba, đặt trọn niềm tin vào tương lai tươi sáng.”
(Bài viết của học sinh Trần Hải Yến lớp 12 Văn,
trường THPT ............................, Nam Định)
19
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
Trong đoạn văn trên, người viết đã biết giải thích ý nghĩa của từ ngữ, hình ảnh, cách
diễn đạt để khái quát nội dung của câu nói, tìm ra vấn đề nghị luận. Người viết cũng đã biết
vận dụng phương pháp nêu định nghĩa để giải thích vấn đề.
Ví dụ 2: Đoạn giải thích tìm ra vấn đề nghị luận với đề bài “Từ ý nghĩa văn bản Nơi
dựa, Nguyễn Đình Thi, hãy trình bày suy nghĩ của em về nơi dựa của mỗi người trong cuộc
sống”.
“Giản dị thôi, văn bản bày ra hai cảnh trái ngược: một người đàn bà trẻ đẹp dắt đứa
con thơ trên đường, đứa con chân lẫm chẫm, tay hoa hoa một điệu múa kì lạ, bé chưa nói rõ
tiếng vậy mà đứa bé còn bước chưa vững chãi lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia.
Thời gian tính bằng đời người trôi qua, em bé lớn lên, thành người chiến sĩ. Người chiến sĩ
đã trải qua những cuộc trường chinh, đã đối mặt với cái chết, anh đỡ bà cụ già lưng còng,
bước run rẩy, khuôn mặt già nua, đã chịu nỗi cực nhọc gắng gỏi một đời thế nhưng bà cụ
bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách.
Câu chuyện nhỏ nhưng ngụ ý nhiều chiêm nghiệm sâu xa. Một đứa trẻ vô tư, yếu ớt, một bà
cụ lưng còng, sức yếu lại trở thành chỗ dựa cho người lớn, cho người chiến sĩ - những con
người tưởng như phải mạnh mẽ, vững vàng hơn. Phải chăng, con đường mà họ đang đi
chính là con đường đời mỗi chúng ta phải bước, và những chỗ dựa không phải mang ý
lặp lại nào nên mỗi nhà văn đều tìm cho mình những khám phá riêng. Ngoài ra, phong cách
riêng của mỗi tác giả cũng in dấu đậm nét trong tác phẩm của họ. Một Tô Hoài sở trường
miêu tả nội tâm nhân vật. Một Kim Lân mạnh về tạo lập các trường đoạn đối thoại. Một Tô
Hoài gắn bó nặng lòng với phong tục, văn hóa vùng cao. Một Kim Lân đã trải nghiệm
những năm tháng cơ hàn và cháo cám thì tôi với vợ tôi cũng từng ăn rồi.”
(Trích bài làm của học sinh Hoàng Mai Anh lớp 12 Anh 2
trường THPT ............................, Nam Định)
Trong đoạn văn trên người viết đã sử dụng thao tác giải thích để lí giải nguyên nhân
của sự gặp gỡ và những khám phá riêng trong cách khai thác đề tài về người phụ nữ dưới xã
hội thực dân phong kiến. Người viết cũng đã huy động những hiểu biết về lí luận văn học,
về thời đại, về phong cách nhà văn; sử dụng hình thức nêu câu hỏi gợi dẫn kết hợp với
phương pháp liệt kê để bàn luận một cách thuyết phục những lí do tạo nên sự sáng tạo riêng
trong mỗi tác phẩm của mỗi nhà văn.
Ví dụ 4: Đoạn giải thích để triển khai luận điểm với đề bài “Bàn về truyện ngắn,
Phong Lê nói: Truyện ngắn chỉ là một khoảnh khắc nhưng đó là khoảnh khắc của ngàn đời.
Nó là giọt sương phản chiếu cả bầu trời, là giọt nước mắt mang chứa cả cõi lòng thiên hạ.
Anh/ chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn
Minh Châu.”
“Tôi có thể khẳng định rằng, bạn khó mà nhớ hết, yêu hết tất cả những mẩu vụn trong
cuốn tiểu thuyết ưa thích nhất của mình. Bởi một cuốn tiểu thuyết hay không nhất định phải
toàn bích, nó chỉ cần tạo được một số điểm nhấn đủ để giữ độc giả lại với trang sách. Nhưng
với truyện ngắn thì khác. Do sự hạn chế về số lượng câu chữ, khoảnh khắc trong truyện
ngắn phải thực sự đắt giá, khoảnh khắc của ngàn đời như một lát cắt trên thân cây cho ta
thấy trăm năm đời thảo mộc. Nói cách khác, khoảnh khắc được lựa chọn trong truyện ngắn
không thể không biết nói hoặc không mang một ý nghĩa khái quát nhất định, để trông thấy
một thế giới trong một hạt cát (W.Blake). Muốn làm được điều này, mỗi khoảnh khắc được
chớp lấy đóng vai trò như giọt sương phản chiếu cả bầu trời - càng có sức gợi và độ căng
21
mòn. Thêm vào đó, người trẻ hiện nay tiếp xúc mạnh mẽ với văn hóa phương Tây và Hàn
Quốc, Trung Quốc. Đó đều là những nền văn hóa ảnh hưởng mạnh mẽ đến âm nhạc Việt. Và
nếu âm nhạc Âu Mĩ, Hàn Quốc... không hay, không thu hút, liệu người trẻ Việt Nam có yêu
thích?”
(Trích bài làm của học sinh Vũ Phạm Tuyết Nhung lớp 12 Anh 2
trường THPT ............................, Nam Định)
22
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
Trong bài văn nghị luận, các thao tác lập luận thường được sử dụng kết hợp với nhau.
Ở đoạn văn trên, để lí giải cho quan điểm về hiện tượng nhiều bạn trẻ đang quay lưng lại với
âm nhạc dân tộc là một khó khăn tất yếu trong thời đại mới, cùng với thao tác giải thích,
người viết còn kết hợp với thao tác bình luận, chứng minh. Trên cơ sở đó, lí lẽ và dẫn chứng
được tổ chức một cách lô-gic, khoa học.
4.3.2 Thực hành viết bài nghị luận có sử dụng thao tác giải thích
Làm văn nghị luận, suy cho cùng là biết tổ chức hệ thống luận điểm, luận cứ để bàn
luận thuyết phục về một vấn đề nào đó. Vì vậy, những hiểu biết và việc rèn kĩ năng về thao
tác giải thích chỉ thực sự có ý nghĩa khi người viết biết vận dụng vào việc viết bài văn nghị
luận. Trong quá trình hướng dẫn học sinh thực hành lập dàn ý và viết bài nghị luận, để tập
trung rèn tốt kĩ năng giải thích, chúng tôi yêu cầu học sinh xác định rõ: các thao tác lập luận
được sử dụng trong từng phần của bài viết, đâu là những đoạn cần kết hợp các thao tác, thao
tác nào là chính, trong đó đặc biệt chú ý những vị trí thường sử dụng thao tác giải thích.
Dưới đây là một số bài viết tham khảo của học sinh.
Ví dụ 1.
Đề bài: “Tiền là người đầy tớ tốt và là ông chủ tồi.”
Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận trình bày quan điểm của mình về vấn đề trên.
Bài làm
Có người đã từng nói: Tiền bạc là nguồn gốc của mọi tội lỗi, người khác lại cho rằng:
dụng đồng tiền, nó sẽ trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho việc làm giàu chính đáng, góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đối với xã hội, đồng tiền là người đầy tớ tốt khi nó được đầu tư, sử dụng hợp lí, có
mục tiêu, phương hướng. Đồng tiền được nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống
bệnh viện, trường học, các khu vui chơi giải trí cho trẻ em… sẽ làm tăng chất lượng cuộc
sống cộng đồng. Đồng tiền phúc lợi dành cho người cao tuổi, thương bệnh binh sẽ giảm bớt
khó khăn, lo toan. Đồng tiền cứu trợ cho những em nhỏ lang thang, cơ nhỡ sẽ thay đổi biết
bao số phận con người. Đặc biệt, dưới suy nghĩ và những mục đích cao thượng, đồng tiền sẽ
trở thành phép màu nhiệm: đồng tiền tình nghĩa của người miền xuôi gửi tới sẽ sẻ chia với
đồng bào vùng lũ, đồng tiền bảo trợ dành cho những đứa bé đáng thương nhiễm HIV… Đó
là những đồng tiền không phải được sử dụng bằng những toan tính thiệt hơn mà được trao
đi bởi những tấm lòng, những trái tim luôn biết rung động trước cuộc sống.
Thế nhưng, đồng tiền cũng có những mặt trái của nó. Chưa từng bao giờ đồng tiền lại
có sức mạnh đáng sợ như hiện nay. Con người đã tạo ra tiền bạc với mục đích trao đổi, buôn
bán tiện lợi, nhanh gọn song giờ đây đồng tiền không chỉ còn là một công cụ. Với sức mạnh
và quyền năng lớn lao, nó đã trở thành cả một thế lực chi phối, điều khiển con người. Nhiều
người xem đồng tiền là tất cả để rồi mờ mắt vì lợi nhuận. Đồng tiền “giúp” con người thăng
quan, tiến chức, có được sự nghiệp, danh vọng. Đồng tiền bưng bít, che giấu sự thật, đổi
trắng thay đen. Đồng tiền chi phối hành động của con người, gây ra những hậu quả đau xót.
Năm 2009, đã có 1415 vụ án tham những kinh tế ở khi vực phía Nam với số tiền lên đến
hàng chục tỉ đồng. Thích Quảng Độ nhân danh tôn giáo, tổ chức chống phá Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - chỉ vì một món tiền khổng lồ được nhận từ bọn phản động
ngoại bang. Đồng tiền không chỉ khiến chúng ta hành động sai trái mà còn tước đi cả lương
tâm và nhân phẩm con người.
24
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016-2017
Nói về đồng tiền, những lợi ích và tác hại, chúng ta cũng cần phải suy ngẫm: liệu có
Hơn 200 năm trước, trong xã hội phong kiến, đại thi hào Nguyễn Du đã từng đau đớn
thốt lên:
Một ngày lạ thói sai nha
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền
25