Một số biện pháp giáo dục và rèn kĩ năng sống cho học sinh qua môn khoa học 4 - Pdf 51

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC VÀ RÈN KĨ NĂNG SỐNG
HỌC SINH QUA MÔN KHOA HỌC 4

CHO

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Tiên học lễ, hậu học văn” lời dạy của ông cha ta từ xưa đến nay vẫn còn
đó. Lễ nghĩa bao giờ cũng đi đầu trong mọi việc. Bác Hồ kính yêu cũng đã từng
nói : “Có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thành
người vô dụng”. Chính vì lẽ đó mà việc giáo dục con người phải song song hai
mặt.
Để việc giáo dục một con người trở thành người toàn diện hai mặt là việc
làm không dễ. Ngay trong thời điểm này đây, trọng trách của nhà trường, của
người giáo viên nhất là giáo viên chủ nhiệm lớp phải phát huy hết năng lực của
mình, phải làm sao cho học sinh “Học được và được học”, cũng như đồng chí
Phạm Văn Đồng cũng đã nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất vì nó tạo ra
những con người sáng tạo”.
Kết quả học tập chỉ tốt khi học sinh yêu thích môn học đồng thời các em
cũng tìm được cảm hứng từ môn học đó. Việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi
mới hình thức tổ chức hoạt động là một việc làm không phải dễ và cũng không
phải ngày một ngày hai mà làm được. Nó đòi hỏi một sự đầu tư lâu dài, một quá
trình rèn luyện không ngừng của người giáo viên. Mỗi một sự cố gắng dù rất nhỏ
trong nhận thức của giáo viên về đổi mới phương pháp, hình thức dạy học đều là
động lực tạo hứng thú học tập cho các em học sinh, góp phần nâng chất lượng dạy
và học.
Để thực hiện được điều này, từ thực tế thực hiện nhiệm vụ trong nhiều năm
học qua, tôi đã đúc kết được “Một số biện pháp giáo dục và rèn kĩ năng
sống cho học sinh qua môn khoa học 4” và trong năm học 2017-2018, tôi đã
mạnh dạn chọn đề tài này để nghiên cứu.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận :

như chúng ta đã biết, môn Khoa học là môn vừa chứa các yếu tố xã hội vừa chứa
các yếu tố tự nhiên. Qua môn học này, người giáo viên không chỉ giáo dục cho các
em lòng say mê Khoa học mà còn giáo dục cho các em lòng yêu quê hương, đất
nước.
Với đề tài sáng kiến kinh nghiệm này tôi chỉ hướng vào các nội dung cơ bản
sau đây :
1. Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài và đồ dùng học tập.
2. Dạy học kết hợp giáo dục kiến thức thường thức cuộc sống.
3. Giáo dục kĩ năng tư duy, học tập và sáng tạo.
4. Rèn luyện và phát triển kĩ năng giao tiếp và tương tác.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ CÁC GIẢI PHÁP
Tận dụng tiềm năng giáo dục trong trường và ngoài xã hội để đạt tới hiệu quả
trong việc thực hiện giáo dục là một nhiệm vụ đặc trưng của người giáo viên trong
trường phổ thông. Giải quyết tốt nhiệm vụ này cũng chính là thực hiện xã hội hoá
giáo dục, một trong những giải pháp trọng yếu thực hiện chiến lược phát triển giáo
dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Giáo dục kĩ năng sống cho HS tiểu học là trang bị cho HS những kiến thức,
giá trị, thái độ, kĩ năng phù hợp. Hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành
mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi thói quen tiêu cực. Giúp các em có khả năng
ứng phó phù hợp và linh hoạt trong các tình huống cuộc sống hàng ngày. Các em
vận dụng tốt kiến thức đã học, làm tăng tính thực hành. Tạo cơ hội để các em thực
hiện quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần
và đạo đức.
Để làm tốt công tác giáo dục và rèn kĩ năng sống cho học sinh, nhiệm vụ đầu
tiên của tôi là nghiên cứu để nắm vững tình hình học tập chung của lớp và của từng
học sinh. Tạo điều kiện cho từng học sinh thể hiện sự quan tâm của mỗi thành viên
trong lớp.
2



ăn cần ăn đủ, ăn có mức độ, ăn ít và ăn hạn chế. Đồng thời giúp các em có dụng cụ
để tham gia trò chơi học tập theo nhóm.
Bài 10. Ăn nhiều rau và quả chín. Sử dụng thực phẩm sạch và an toàn.
-Yêu cầu các em chuẩn bị theo nhóm, như : Một số rau, quả (cả loại tươi và
héo úa); một số đồ hộp hoặc vỏ đồ hộp.
Mục đích giúp các em biết phân biệt được tiêu chuẩn của thực phẩm sạch và
an toàn, biện pháp thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm; biết xem hạn sử dụng các
thức ăn, thức uống đóng hộp, đóng chai.
Hoặc :
Bài 18, 19. Ôn tập : Con người và sức khỏe (Phiếu học tập ghi lại tên thức ăn,
thức uống của bản thân học sinh trong tuần qua.... Các tranh, ảnh, mô hình như :
các loại rau, quả, con giống bằng nhựa hay vật thật các loại thức ăn. Để các em
3


củng cố lại chất dinh dưỡng trong thức ăn, vai trò của chúng. Từ đó các em sẽ ghi
nhớ sâu hơn về cách chọn rau, củ, quả tươi ngon.
Bài 20. Nước có những tính chất gì ? (Chuẩn bị theo nhóm : 2 cốc thủy tinh
giống nhau : 1 cốc đựng nước, 1 cốc đựng sữa; chai và một số vật chứa nước có
hình dạng khác nhau bằng thủy tinh hoặc bằng nhựa trong có thể nhìn thấy bên
trong; 1 tấm kính hoặc 1 mặt phẳng không thấm nước và 1 khây đựng nước-như
hình SGK/trang 43; 1 miếng vải, bông, giấy thấm, miếng mút, túi nilong…; một ít
đường, muối, cát,… và thìa). Xuất phát từ cuộc sống hàng ngày, các em sẽ dự đoán
và làm được thí nghiệm với những gì mình chuẩn bị được để tìm hiểu kiến thức về
tính chất, hình dạng của nước.
Bài 25. Nước bị ô nhiễm. (Chuẩn bị theo nhóm : 1 chai nước ao, hồ hoặc nước
đã giặt khăn lau bảng, 1 chai nước giếng hoặc nước máy; 2 chai không có nước; 2
phễu lọc nước; bông để lọc nước. 1 kính lúp (nếu có)). Đây là những vật dụng
hàng ngày các em đều có thể chuẩn bị được và sẽ quan sát, làm thí nghiệm để biết
được một số đặc điểm của nước sạch và nước bị ô nhiễm.



cách đọc nhiệt kế và sử dụng nhiệt kế thật. Biết đo nhiệt độ cơ thể người; nhiệt độ
của hơi nước đang sôi; nhiệt độ của nước đá đang tan.
Bài 52. Vật dẫn nhiệt và vật cách nhiệt (Chuẩn bị chung : phích nước nóng,
xoong, giỏ ấm, cái lót tay,…. Chuẩn bị theo nhóm : 2 chiếc cốc như nhau, muỗng
kim loại, muỗng gỗ, muỗng nhựa, vài tờ giấy báo; dây chỉ, len hoặc sợi; nhiệt kế ).
Sau thí nghiệm các em sẽ lí giải việc sử dụng các chất dẫn nhiệt, các chất cách
nhiệt và sử dụng hợp lí trong những trường hợp đơn giản, gần gũi. Biết được
những vật dẫn nhiệt tốt và vật dẫn nhiệt kém.

Thật sự hiệu quả, trước đây các em chỉ tìm hiểu bài với phương pháp đàm thoại
thầy hỏi-trò trả lời, kiến thức do giáo viên truyền đạt, tiết học trầm lắng, chỉ một số
em phát biểu xây dựng bài học cùng giáo viên, giờ đây với sự chuẩn bị như đã dặn
dò, đa số học sinh tham gia các hoạt động học tập sôi nổi hơn, tiếp nhận thông tin
bài học chủ động hơn, ghi nhớ bài nhanh hơn.
Giải pháp 2. Dạy học kết hợp giáo dục kiến thức thường thức cuộc sống.
Thường thức cuộc sống là gì ? Là những kiến thức sống và kĩ năng cơ bản để
tồn tại, chuẩn bị ứng phó với mọi tình huống phát sinh trong cuộc sống. Giúp các
em HS có hiểu biết về xã hội và những tri thức cuộc sống, từ những giá trị đạo đức,
lễ nghi; thích nghi với sự đa dạng của môi trường,… để từ đó có thái độ và ứng xử
phù hợp trong những ngữ cảnh khác nhau của cuộc sống. Ngoài ra HS cũng cần có
những kĩ năng quan trọng về sức khỏe cá nhân, tự phục vụ và kĩ năng sinh tồn để
có thể ứng phó và tự bảo vệ mình trước những tình huống bất ngờ có thể nảy sinh
trong cuộc sống hàng ngày.
Kĩ năng sống không tự nhiên có được mà phải hình thành dần trong quá trình
học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống. Quá trình hình thành kĩ năng sống
diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục. Kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân,
vừa mang tính xã hội.
Chẳng hạn khi dạy :

Rèn được cho các em kĩ năng tự nhận thức về lợi ích của các loại rau, quả chín.
Hoạt động 2 : Biện pháp giữ vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Tơi chia lớp thành 6 nhóm, hai nhóm thực hiện một nhiệm
vụ.
+ Nhóm 1, 4 : Thảo luận về cách chọn thức ăn tươi, sạch;
cách nhận ra thức ăn ôi, héo.
+ Nhóm 2, 5 : Thảo luận về cách chọn đồ hộp và những
thức ăn đóng gói.
+ Nhóm 3, 6 : Thảo luận về sử dụng nước sạch để rửa thực
phẩm, dụng cụ nấu ăn; sự cần thiết phải nấu thức ăn chín.
-Sau khi các nhóm trình bày kết quả thảo luận, tơi sẽ chốt cách
làm đúng và cho các em rút ra bài học.
Rèn được cho các em kĩ năng nhận diện và lựa chọn thực phẩm sạch và an toàn trong
cuộc sớng hàng ngày, u thích việc nội trợ, tự giác giúp người thân mua sắm, nấu ăn.

Bài 15 - Bạn cảm thấy thế nào khi bị bệnh ? - Trang 32.
-Hoạt động 2. Chia lớp thành các nhóm 5-6 em. Sắm vai chơi trò « Mẹ ơi, con...
sớt ! »
+ Cá nhân nêu được dấu hiệu cơ thể khơng khỏe mạnh.
+Chia sẻ nhóm đơi.
+Tởng hợp theo nhóm 5-6. Trình bày trước lớp, các nhóm khác nhận xét, bở sung
thêm những dấu hiệu của cơ thể khơng khỏe mạnh.
+GV tởng hợp, chớt kiến thức Giáo dục các em phải biết nói với cha mẹ hoặc
người lớn khi trong người cảm thấy khó chịu, khơng bình thường. Động viên,
khích lệ những em chưa mạnh dạn, thiếu tự tin trong giao tiếp cùng tham gia.
 Rèn cho các em kĩ năng tự nhận thức bản thân để nhận biết một sớ dấu hiệu khơng
bình thường của cơ thể. Tìm kiếm sự giúp đỡ khi có những dấu hiệu khi bị bệnh.
Bài 49. Ánh sáng và việc bảo vệ đơi mắt – trang 98.

-Sau khi HS tìm hiểu những trường hợp ánh sáng quá

biết cách lập luận, phản biện, phân tích, kiến tạo những ý tưởng hay giải pháp
mang tính sáng tạo, phá bỏ tư duy lới mòn.
Học để làm gì ? “Học để biết”, “Học để làm người”, “Học để sớng với người
khác”, “Học để làm”. … Cho nên giáo dục Kĩ năng tư duy là giáo dục khả năng
phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng,… xảy
ra. Còn kĩ năng tư duy và sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề một
cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, khả năng khám phá và kết nới
mới quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan điểm, sự việc; độc lập trong suy
nghĩ.
Chẳng hạn khi dạy:
Bài 26. Ngun nhân làm nước bị ơ nhiễm-trang 54.
Hoạt động 1.
-Tơi u cầu HS quan sát hình 1 đến hình 8/trang 54/SGK, trả lời câu hỏi:
+Hãy mơ tả những gì em nhìn thấy trong hình vẽ.
+Theo em, việc làm đó sẽ gây ra điều gì ?
-Cá nhân suy nghĩ tìm câu trả lời-Chia sẻ theo nhóm đơi.
-Trình bày trước lớp-Các nhóm nhận xét, bở sung cho nhau.
-GV nhận xét, chớt kết quả…
+Em hãy nêu hiện trạng nước ở đòa phương mình ?
+Theo em những nguyên nhân nào dẫn đến ng̀n nước
nơi em ở bò ô mhiễm ?
7


+Trước tình trạng nước ở đòa phương như vậy. Theo em,
mỗi người dân ở đòa phương ta cần làm gì ? …
Kết thúc hoạt động này, tơi đã giúp các em biết tự tìm kiếm và xử lí thơng tin về
ngun nhân làm nước bị ơ nhiễm. Bình luận và đánh giá về các hành động gây ơ
nhiễm mơi trường.
Bài 35. Khơng khí cần cho sự cháy-trang 70.

- Chia lớp thành các nhóm 5-6 HS/1 nhóm u cầu các em vẽ lại chuỗi
thức ăn trên.
- Tiếp theo tơi sẽ hình thành khái niệm chuỗi thức ăn trong tự
nhiên.
+ Làm việc cá nhân-chia sẻ theo nhóm đôi : Nêu một số ví
dụ khác về chuỗi thức ăn trong tự nhiên.
+ Chuỗi thức ăn là gì?
-Chớt kiến thức.
8


Rèn được cho HS kĩ năng phân tích, phán đoán. Đảm nhận trách nhiệm xây
dựng kế hoạch và kiên định thực hiện kế hoạch cho bản thân để ngăn chặn các
hành vi phá vỡ cân bằng chuỗi thức ăn trong tự nhiên.
...
Để dạy tốt môn khoa học, bên cạnh việc hướng dẫn HS tìm hiểu bài học,
truyền tải kiến thức mới thì người giáo viên cần phải biết phối kết hợp các phương
pháp dạy học nhằm khuyến khích sự tò mò khoa học, thói quen đặt câu hỏi, tìm
câu giải thích khi các em được tiếp cận với thực tế, qua đó các em dễ dàng ghi nhớ
nội dung bài học. Tư duy trong học tập không chỉ là một « công cụ » dạy học mà
nó còn là con đường sáng tạo xuyên suốt quá trình học tập của học sinh. Nó tạo
cảm giác thoải mái, tự tin, sự sáng tạo, nhanh trí, óc tư duy, tưởng tượng của các
em... Khi bị khép vào luật chơi, các em dần có trật tự hơn, kỷ luật hơn. Thông qua
trò chơi, học sinh được tập luyện, làm việc cá nhân, làm việc theo đơn vị tập thể
trong sự phân công với tinh thần hợp tác, giao lưu.
Giải pháp 3. Rèn luyện và phát triển kĩ năng giao tiếp và tương tác.
Đây là năng lực quan trọng đòi hỏi sự tích hợp nhiều « trí thông minh » như
ngôn ngữ, tương tác, cảm xúc, nội tâm và năng lực tự phát triển bản thân. Mỗi con
người đều đang sống và tương tác trong những cộng đồng khác nhau, có thể cộng
đồng hẹp như gia đình, rộng hơn là nhà trường, ngoài xã hội. Ở mọi ngữ cảnh HS

khác nhận xét, bổ sung thêm những dấu hiệu của cơ thể không khỏe mạnh.
-GV tổng hợp, chốt kiến thức Giáo dục các em phải biết nói với cha mẹ hoặc
người lớn khi trong người cảm thấy khó chịu, không bình thường.
-Làm việc theo nhóm : Tôi chia lớp thành các nhóm 5-6 em. Cho các em thảo
luận, phân việc cho các bạn trong nhóm sắm vai chơi trò «Mẹ ơi, con... sốt !». HS
trong vai con phải nêu được dấu hiệu cơ thể không khỏe mạnh.
 Rèn cho các em kĩ năng tương tác với bạn trong nhóm để sắm vai diễn kịch.
Khích lệ những em chưa mạnh dạn, thiếu tự tin trong giao tiếp cùng tham gia với
các bạn trong nhóm.
Bài 52. Vật dẫn nhiệt và vật cách nhiệt – trang 104.
-Sau thí nghiệm các em sẽ lí giải việc sử dụng các chất dẫn nhiệt, các chất cách
nhiệt và sử dụng hợp lí trong những trường hợp đơn giản, gần gũi. Biết được
những vật dẫn nhiệt tốt và vật dẫn nhiệt kém.
Các em biết tương tác nhau trong quá trình thực hành làm thí nghiệm. Biết chia
sẻ kiến thức cho nhau.

Từ thực tế cho thấy, trước đây, sự nhận thức của các em học sinh không
đồng đều nên tình trạng một số học sinh khó khăn trong học tập thì quá trình đàm
thoại để lĩnh hội kiến thức làm cho các em không đủ tự tin để có thể tham gia trả
lời câu hỏi, thậm chí có em còn nản lòng, chán học.
Bằng hình thức dạy học này, tôi thấy các em đã mạnh dạn hơn, chủ động
hơn khi trình bày những gì mình quan sát được từ cuộc sống xung quanh. Tôi có
thể dễ dàng kiểm tra được việc nắm bắt bài học của các em, sự tự tin, mạng dạn
trong giao tiếp đến đâu, để từ đó tôi có sự điều chỉnh phương pháp cũng như hình
thức tổ chức dạy học của mình cho phù hợp hơn trong những giờ dạy học môn
Khoa học. Bên cạnh đó cũng đã rèn luyện và phát triển kĩ năng giao tiếp và tương
tác cho cca1 em khi cùng nhau tìm ra kiến thức mới, cùng nhau tiến hành các thí
nghiệm “học mà chơi, chơi mà học”.
Tóm lại : Xuất phát từ những yêu cầu đổi mới, từ hoàn cảnh cụ thể của xã
hội, của giáo dục nhà trường, của gia đình, vị trí của giáo viên trong công tác giáo

lên lớp, các phong trào của Đội phát động rất hiệu quả. Các em chủ động, tự giác,
năng nổ tham gia, tương tác với các bạn trong tổ, trong lớp rất tốt đầy tinh thần tập
thể.
Học sinh khó khăn theo thống kê đầu năm đã giảm, các em là học sinh lười
học có nhiều tiến bộ. Nhiều năm liền không có học sinh lưu ban, các em hoàn
thành Chương trình lớp học 100%.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Qua nghiên cứu và thực hiện đề tài “Một số biện pháp giáo dục và rèn kĩ
năng sống cho học sinh qua môn khoa học 4”, tôi rút ra một số kinh nghiệm từ
thực tiễn như sau :
1. Cần phải hướng dẫn kĩ cho học sinh việc chuẩn bị bài ở nhà và đồ dùng học
tập thật chu đáo trước khi đến lớp. Giáo viên phải sưu tầm hình ảnh, tư liệu về tự
nhiên-xã hội để làm cơ sở so sánh, chứng minh áp dụng cho từng bài giảng.
Nghiên cứu kĩ mục tiêu bài dạy để có đồ dùng dạy học đúng yêu cầu, đúng trọng
tâm.
2. Thiết kế bài dạy phải chú ý đến đối tượng học sinh, lồng ghép giáo dục kĩ
năng sống cho các em trong một số tình huống thường gặp hàng ngày đặc biệt phải
chú ý đến hoàn cảnh từng em để kết hợp giáo dục kiến thức thường thức cho phù
hợp, tránh cho HS hiểu nhằm mà mặc cảm với cuộc sống gia đình mình.
3. Phải cho học sinh thực hành, thí nghiệm, thảo luận nhóm, … để các em tư
duy, học tập và sáng tạo, tự tìm ra kiến thức trước khi giáo viên diễn giải, minh
chứng. Phải phát huy tính tích cực học tập của học sinh (không gò ép, áp đặt) cần
gợi ý, động viên để các em tự tin vào khả năng suy nghĩ, tìm tòi của mình. Sử dụng
11


kĩ năng sống vốn có của mình để giải quyết một số sự cố có thể xảy ra trong quả
trình thực hành-thí nghiệm.
4. Giáo viên phải yêu nghề, yêu quý học sinh, cải tiến phương pháp và nhiệt
tình giảng dạy. Luôn động viên, khuyến khích các em học tập, khen chê rõ ràng,

4. Tài liệu “Giáo dục Kĩ năng sống” dành cho giáo viên từ bậc Mầm non tới
THPT - 2015. (Tác giả : Nguyễn Thanh Bình - Nguyễn Trí Thanh - Phạm Thị VuiTrịnh Thắng Lợi-Phạm Hồng Anh)
3. Thông tư :
 Số 22/2016/TT-BGDĐT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định
đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo thông tư số 30/2014/TTBGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
12


4. Luật Giáo dục.
5.Tạo hứng thú cho học sinh học tập-Nguồn internet.
6. Hình ảnh minh họa-Chụp từ thực tế sau các tiết dạy tại lớp học.
Người thực hiện

13


14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status