Luận án tiến sỹ - Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam - Pdf 51

i

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận án này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
của nhiều tổ chức và cá nhân. Tôi thực sự trân trọng và biết ơn sâu sắc đối với
những sự giúp đỡ quý báu đó.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS. TSKH Nguyễn Quang
Thái, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu,
hoàn thành luận án này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS. TS. Ngô Doãn Vịnh và PGS. TS. Bùi Tất Thắng
và tổ bộ môn chuyên ngành của Viện Chiến lược phát triển đã góp ý, bình luận giúp
tôi hoàn thiện luận án.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cán bộ Trung tâm Tư
vấn phát triển và Đào tạo của Viện Chiến lược đã hướng dẫn, tạo điều kiện cho các
nghiên cứu sinh hoàn thành tốt luận án tiến sĩ.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, những người thân, bạn bè và đồng nghiệp
đã quan tâm, động viên, giúp đỡ, chia sẻ và tạo mọi điều kiện để tôi nghiên cứu,
hoàn thành luận án này./.
Tác giả luận án

Nguyễn Thị Lan Hương


ii

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án “Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành của
nền kinh tế tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học
độc lập của cá nhân tôi. Các kết quả nghiên cứu trong luận án là do tác giả thực
hiện. Các tài liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân khác được
tham khảo, sử dụng, trích dẫn trong luận án đều đã được ghi rõ nguồn gốc.

1.2.2 Ảnh hưởng mang tính dài hạn.........................................................................21
1.2.3 Cơ chế ảnh hưởng...........................................................................................23
1.3

NHỮNG NHÂN TỐ CHÍNH ẢNH HƯỞNG TỚI TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU NGÀNH TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.................................32

1.3.1 Sự can thiệp của Nhà nước.............................................................................33
1.3.2 Vai trò của Doanh nghiệp................................................................................36
1.3.3 Trình độ, năng lực của người lao động...........................................................40
1.4

PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG HÓA ẢNH HƯỞNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.........................................................41

1.4.1. Phương pháp hạch toán tăng trưởng...............................................................42
1.4.2. Phương pháp ước lượng bằng mô hình kinh tế lượng.....................................45
1.4.3. Phương pháp véctơ.........................................................................................47
1.5 QUAN SÁT TỪ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI...........................................48
1.5.1 Thành công của Hàn Quốc..............................................................................48
1.5.2. Thất bại của Liên Xô thời kỳ 1960-1980........................................................52
1.5.3 Hạn chế của Thái Lan ....................................................................................55
1.5.4 Một số kết quả nghiên cứu định lượng về ảnh hưởng của chuyển dịch cơ
cấu ngành tới tăng trưởng kinh tế...................................................................60
Tiểu kết chương 1...................................................................................................64
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU NGÀNH CỦA NỀN KINH TẾ TỚI TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ Ở VIỆT NAM..............................................................................66
2.1
2.2


BỐI CẢNH MỚI VÀ YÊU CẦU CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH
NHẰM TĂNG CƯỜNG ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ THỜI KỲ 2011-2020.......................................................................131
3.2 QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH NHẰM TĂNG
CƯỜNG ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THỜI
KỲ 2011-2020................................................................................................134
3.3 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH NHẰM TĂNG CƯỜNG ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ THỜI KỲ 2011-2020.......................................................140

3.3.1. Nhóm giải pháp chung..................................................................................141
3.3.2 Nhóm giải pháp đẩy mạnh tốc độ chuyển dịch lao động từ khu vực nông
nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp...........................................................166
3.4 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP....................................................176
Tiểu kết chương 3.................................................................................................177
KẾT LUẬN...........................................................................................................179
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CỦA
TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.....................187
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................188
PHỤ LỤC.............................................................................................................. 199


v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN
ASEAN5
BRICs
CCLĐ

Bộ chỉ tiêu phát triển thế giới

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1:

10 nhóm ngành được đầu tư lớn nhất theo thành phần kinh tế................70

Bảng 2.2:

Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu ngành theo hệ số cosα....................................73

Bảng 2.3:

Chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng trưởng kinh tế..................................73

Bảng 2.4:

Kết quả ước lượng OLS khi lần lượt thêm các biến vào mô hình...........75


vi
Bảng 2.5:

Đóng góp của chuyển dịch cơ cấu ngành vào tăng trưởng năng suất lao
động xã hội ở Việt Nam và một số nước.................................................79

Bảng 2.6:

Đóng góp của các ngành vào tăng trưởng năng suất lao động xã hội
thời kỳ 1995-2000...................................................................................84


Cơ cấu giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị................................................25

Hình 1.3:

Quan hệ giữa tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và GDP/người...............28

Hình 1.4:

Quan hệ giữa tính đa dạng và độ tinh xảo của sản phẩm với tăng trưởng
kinh tế.....................................................................................................31

Hình 1.5:

Các giai đoạn công nghiệp hóa đuổi kịp.................................................59

Hình 1.6:

Quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng trưởng của các nước
trên thế giới giai đoạn 1965-1998...........................................................61

Hình 2.1:

Cơ cấu xuất khẩu thời kỳ 1986-2009......................................................69

Hình 2.2:

Cơ cấu phân bố vốn đầu tư theo hiệu quả vốn đầu tư (VA/K).................71

Hình 2.3:

Hình 2.10: Đóng góp của chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành vào tăng trưởng năng
suất lao động xã hội thời kỳ 1995-2009..................................................89
Hình 2.11: Cơ cấu GTGT nội ngành công nghiệp thời kỳ 2000-2009 (%)...............94
Hình 2.12: Tỷ trọng VA/GO của ngành công nghiệp thời kỳ 1995-2009..................96
Hình 2.13: FDI đăng ký giai đoạn 1988 – 2009 theo các đối tác chính..................122
Hình 2.14: FDI trong ngành dịch vụ thời kỳ 1988-2007.........................................125
Hình 3.1:

Dư địa tái cấu trúc cơ cấu ngành của Việt Nam....................................138

Hình 3.2:

Lựa chọn địa điểm đầu tư của các công ty Nhật Bản............................163


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua hơn 20 năm Đổi mới, kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng với tốc độ khá cao:
tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân thời kỳ 1991-2000 đạt
7,6%/năm, thời kỳ 2001-2010 đạt khoảng 7,2%/năm. Tuy nhiên, bên cạnh tăng
trưởng kinh tế nhanh, như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) ngày 02 tháng
2 năm 2009 đã chỉ ra, chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất, hiệu quả và sức
cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; tăng trưởng kinh tế dựa chủ yếu vào các nhân
tố phát triển theo chiều rộng, vào những ngành và những sản phẩm truyền thống,
công nghệ thấp; tăng trưởng còn thấp so với khả năng, tiềm lực của đất nước.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trong tăng trưởng kinh tế những
năm qua, trong đó, nguyên nhân từ cấu trúc nội tại của nền kinh tế đóng vai trò

phát triển. Theo W. Rostow, quá trình phát triển của mỗi quốc gia được chia thành 5
giai đoạn ứng với 5 dạng cơ cấu ngành. Giai đoạn 1 được gọi là giai đoạn xã hội
truyền thống với cơ cấu ngành nông nghiệp là chủ đạo, hoạt động chính là săn bắn
và hái lượm, sản xuất nhỏ, tiểu thủ công. Giai đoạn 2 được gọi là giai đoạn chuẩn bị
cất cánh trong đó cơ cấu nông nghiệp – công nghiệp là chủ đạo, những hiểu biết về
khoa học – kỹ thuật bắt đầu được áp dụng trong nông nghiệp – công nghiệp, giáo
dục mở rộng, nhu cầu đầu tư dẫn đến sự ra đời của ngân hàng và các tổ chức huy
động vốn, giao thương quốc tế thúc đẩy giao thông và thông tin, nhưng năng suất
vẫn còn thấp. Giai đoạn 3 được gọi là giai đoạn cất cánh, trong đó cơ cấu kinh tế là
công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ với công nghiệp chế tạo là đầu tầu và có tốc
độ tăng trưởng nhanh, lợi nhuận được để lại để tái sản xuất, kích thích phát triển
khu vực dịch vụ và đô thị, khu vực nông nghiệp được thương mại hóa, vốn nước
ngoài và khoa học công nghệ có vai trò quan trọng. Giai đoạn 4 được gọi là giai
đoạn trưởng thành, cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp với nhiều
ngành công nghiệp mới phát triển, nông nghiệp được cơ giới hóa, năng suất cao,
nhu cầu thương mại quốc tế tăng mạnh, khoa học kỹ thuật được ứng dụng ở mọi
mặt nền kinh tế. Giai đoạn 5 là giai đoạn tiêu dùng cao trong đó cơ cấu ngành theo


3
GDP thay đổi không còn nhanh, cơ cấu lao động thay đổi theo hướng tăng tỷ lệ dân
cư đô thị, lao động có tay nghề chuyên môn cao, thu nhập tăng nhanh, dân cư giàu
có dẫn đến sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ cao cấp, các chính
sách kinh tế hướng vào phúc lợi xã hội.
Cũng trong những năm 1950s, A. Lewis, nhà kinh tế học đạt giải Nobel người
Anh, gốc Jamaica, đã xuất bản nghiên cứu được cho là có ảnh hưởng nhất đối với
kinh tế học phát triển dưới tên gọi “Phát triển kinh tế với cung lao động không giới
hạn” trong đó ông giải thích mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp trong
quá trình tăng trưởng bằng “mô hình hai khu vực cổ điển”. Theo A. Lewis, khi nông
nghiệp có dư thừa lao động thì tăng trưởng kinh tế được quyết định bởi khả năng

kinh tế phát triển đến giai đoạn cao nhất.
Không chỉ nghiên cứu trên góc độ lý thuyết, ảnh hưởng của chuyển dịch cơ
cấu ngành tới tăng trưởng kinh tế cũng được các nhà kinh tế lượng hóa bằng cách
nghiên cứu định lượng.
T. Gylfason và G.Zoega (2004) đã lượng hóa ảnh hưởng của chuyển dịch cơ
cấu ngành tới tăng trưởng của các nước trên thế giới thông qua việc xem xét sự thay
đổi trong tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp và sự dịch chuyển lao động nhập cư từ
nông thôn ra thành thị, sử dụng bộ số liệu của Ngân hàng thế giới cho 86 nước
(không có Việt Nam) trong thời kỳ 1965-1998. Nghiên cứu cho thấy khi tỷ trọng
ngành nông nghiệp trong GDP giảm 1 điểm phần trăm thì tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân đầu người tăng 0,032 điểm phần trăm. Kết quả nghiên cứu nói trên cũng
tương đối phù hợp với kết quả nghiên cứu năm 1999 của Temin với bộ số liệu của
15 nước Châu Âu trong thời kỳ 1955-1975: khi tỷ trọng lao động nông nghiệp trong
tổng lao động giảm đi 20%, trung bình, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ tăng thêm
0,8%. Luận án tiến sỹ của K.Yılmaz (2005) về “Cơ cấu công nghiệp và thị trường
lao động: nghiên cứu về tăng trưởng năng suất” cho thấy ảnh hưởng của chuyển
dịch cơ cấu ngành đối với tăng trưởng năng suất nhiều nước trên thế giới trong thời
kỳ nghiên cứu (1965-1999) là rất nhỏ. Nghiên cứu của A.Fonfría và các cộng sự
(2005) về “phần thưởng do chuyển dịch cơ cấu” đối với ngành công nghiệp chế tạo
ở Tây Ban Nha cho kết quả các tác động tĩnh và động đối với năng suất lao động do
chuyển dịch cơ cấu ngành gây ra chủ yếu là âm, cho thấy sự dịch chuyển lao động


5
từ các ngành có năng suất lao động thấp sang các ngành có năng suất lao động cao
hơn là rất hạn chế. Điều này có nghĩa là tỷ trọng của các ngành công nghiệp truyền
thống với lao động năng suất thấp vẫn rất cao, trong khi tỷ trọng của các ngành có
hàm lượng công nghệ cao và năng động hơn còn thấp. Nghiên cứu của P. Huber và
các cộng sự (2005) cho các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Trung và Đông Âu (CEEC)
cũng đi đến kết luận: chuyển dịch cơ cấu lao động chỉ đóng vai trò nhỏ trong việc

Bài nghiên cứu của GS. Nguyễn Quang Thái, năm 2004 trên “Tạp chí nghiên cứu
kinh tế” là một nghiên cứu với nhiều phân tích về định lượng và các cuốn sách sau đó
do tác giả chủ biên vào các năm 2004, 2006, 2010 về “Toàn cảnh kinh tế Việt Nam”
cũng đã phân tích chi tiết về chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng trưởng toàn nền kinh tế.
Các công trình nghiên cứu riêng rẽ về tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ở Việt Nam khá phong phú, tuy nhiên rất hiếm công trình nghiên cứu
chuyên sâu tập trung vào ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành tới tăng trưởng.
Nghiên cứu của GS Nguyễn Quang Thái (2004) sử dụng phương
pháp tính hệ số cosφ để so sánh tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành giữa Việt
Nam và các nước, qua đó phản ánh chất lượng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam.
Nghiên cứu của Viện Chiến lược phát triển (2007) và nghiên cứu của Viện Nghiên
cứu quản lý kinh tế trung ương (2008) cùng lượng hóa tác động của chuyển dịch cơ
cấu ngành tới tăng trưởng năng suất lao động sử dụng phương pháp hạch toán tăng
trưởng nhưng trên hai góc độ tiếp cận khác nhau. Cách tiếp cận của Viện Chiến lược
phát triển sử dụng bộ số liệu của Ngân hàng thế giới để so sánh tốc độ chuyển dịch
cơ cấu ngành của nước ta với một số nước trong khu vực khi ở cùng giai đoạn phát
triển. Cách tiếp cận này vừa cho phép ước lượng được mức độ ảnh hưởng của
chuyển dịch cơ cấu ngành tới tăng trưởng năng suất lao động ở Việt Nam, chuyển
dịch này là đúng hướng hay không, có phù hợp với quy luật của thế giới hay không
và cho phép đánh giá mức độ chuyển dịch như vậy là nhanh hay chậm so với các
nước láng giềng vì một trong những mục tiêu phát triển quan trọng của nước ta là
rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trên thế giới, trước tiên là các quốc
gia trong khu vực. Trong khi đó, cách tiếp cận của CIEM là sử dụng bộ số liệu của
Tổng cục thống kê để đánh giá mức độ tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động
của 20 nhóm ngành tới tăng trưởng năng suất lao động của nền kinh tế nhằm rút ra


7
khuyến nghị Nhà nước nên có chính sách (chủ yếu là chính sách đầu tư) để phát
triển những ngành nào trong những năm tới. Viện Chiến lược phát triển (2008) và

8
kinh tế ở Việt Nam.
- Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
ngành nhằm tăng cường ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong
thời kỳ 2011-2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành
tới tăng trưởng kinh tế.
Trong đó, cơ cấu ngành được tập trung phân tích là cơ cấu ngành phân loại
dựa trên các đặc điểm kinh tế-kỹ thuật của ngành (phân ngành cấp I và cấp II) và cơ
cấu ngành phân loại dựa trên phương thức và công nghệ sản xuất (nhóm ngành
nông nghiệp và nhóm ngành phi nông nghiệp).
Trong luận án, chỉ tiêu được sử dụng để phản ánh tăng trưởng kinh tế là thay
đổi GDP, tốc độ tăng trưởng GDP và tăng trưởng năng suất lao động xã hội. Chỉ tiêu
trung tâm được sử dụng để phản ánh cơ cấu ngành và chuyển dịch cơ cấu ngành là
chỉ tiêu cơ cấu lao động và mức độ thay đổi của cơ cấu lao động. Sở dĩ lựa chọn
như vậy là vì chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động không chỉ phản ánh xác thực hơn
mức độ chuyển biến sang xã hội công nghiệp của một đất nước mà còn ít bị ảnh
hưởng bởi các nhân tố ngoại lai hơn chỉ tiêu thay đổi cơ cấu GDP. Tầm quan trọng
của chuyển dịch cơ cấu lao động thậm chí còn được một số nhà kinh tế xem như chỉ
tiêu quyết định nhất để đánh giá mức độ thành công của quá trình công nghiệp hóa
trong nghiên cứu so sánh giữa các nền kinh tế.
Về phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu, luận án phân tích cho cả nền
kinh tế Việt Nam trong giai đoạn từ 1986-2009, chú trọng vào 10 năm đầu của thế
kỷ 21.

5. Các phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận án bao gồm:
- Phương pháp biện chứng: được sử dụng xuyên suốt luận án, đặc biệt khi
phân tích cơ sở lý luận về ảnh hưởng qua lại của chuyển dịch cơ cấu ngành tới tăng

Phương pháp so sánh, lịch sử được vận dụng trong các nội dung về Kinh nghiệm
của một số nước trên thế giới; so sánh ả nh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành tới
tăng trưởng năng suất lao động xã hội và tăng trưởng kinh tế giữa Việt Nam và các quốc

gia trên thế giới v.v…


10
6. Những điểm mới của luận án
Về mặt học thuật
Luận án đã xây dựng được nền tảng lý thuyết cho việc nghiên cứu ảnh hưởng
của chuyển dịch cơ cấu ngành tới tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, đã hệ thống hóa và
làm rõ các khái niệm cơ bản về cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành và tăng trưởng kinh tế.
Luận án đã phân tích và làm rõ được mối quan hệ biện chứng phức tạp về ảnh
hưởng qua lại giữa chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng trưởng kinh tế cũng như chỉ ra
đặc điểm của ảnh hưởng qua lại này. Luận án đã nêu ra được những nhân tố chính
tác động tới mối quan hệ qua lại giữa chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng trưởng kinh
tế, đó là vai trò quan trọng của Nhà nước, Doanh nghiệp và người lao động.
Về mặt phương pháp
Luận án đã lựa chọn trong số các phương pháp lượng hóa ảnh hưởng của
chuyển dịch cơ cấu ngành tới tăng trưởng kinh tế đã được sử dụng trên thế giới để
giới thiệu phương pháp khả thi có thể áp dụng trong điều kiện số liệu và phù hợp
với thực trạng phát triển của Việt Nam. Hai cách tiếp cận để lượng hóa ảnh hưởng
của chuyển dịch cơ cấu ngành tới tăng trưởng kinh tế được trình bầy và sử dụng
phân tích cho Việt Nam trong luận án là: (1) Lượng hóa ảnh hưởng của chuyển dịch
cơ cấu ngành tới tăng trưởng kinh tế một cách gián tiếp thông qua tác động tới năng
suất lao động xã hội bằng phương pháp hạch toán tăng trưởng; (2) Lượng hóa ảnh
hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành tới tăng trưởng kinh tế một cách trực tiếp sử
dụng mô hình kinh tế lượng và phương pháp véc-tơ.
Về mặt thực tiễn

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG
Các khái niệm về cơ cấu ngành của nền kinh tế (sau đây gọi tắt là cơ cấu
ngành), chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng trưởng kinh tế là những khái niệm trung
tâm của kinh tế học, được nghiên cứu từ lâu và cũng đã có sự thống nhất ở mức độ
nhất định. Trong khuôn khổ luận án, để tập trung vào phân tích ảnh hưởng của
chuyển dịch cơ cấu ngành tới tăng trưởng kinh tế, luận án kế thừa và sử dụng các
khái niệm đã được thừa nhận về cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành, chuyển dịch cơ cấu
ngành và tăng trưởng kinh tế để làm nền tảng phân tích tác động này.

1.1.1. Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế
a) Khái niệm
Cơ cấu kinh tế được hiểu là “nội dung, cách thức liên kết, phối hợp giữa các
phần tử cấu thành hệ thống kinh tế; biểu hiện quan hệ tỷ lệ cả về mặt lượng và chất
của các phần tử hợp thành hệ thống” [87,33].
Ngành là tổng thể các đơn vị kinh tế cùng thực hiện một chức năng trong hệ
thống phân công lao động xã hội. Cơ cấu ngành của nền kinh tế là “Quan hệ tỷ lệ
của tập hợp tất cả các ngành hình thành nên nền kinh tế và các mối quan hệ tương
đối ổn định giữa chúng” [73, 4]. Cơ cấu ngành là một chỉnh thể liên kết các ngành
kinh tế theo một kiểu cấu trúc nhất định, tạo ra những thuộc tính mới, chất lượng
mới của hệ thống mà những thuộc tính này không thể có ở từng bộ phận riêng rẽ
hợp thành hệ thống.
Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế được hiểu là quá trình thay đổi
trạng thái cơ cấu từ trạng thái này sang trạng thái khác [70, 20] Như vậy, chuyển
dịch cơ cấu ngành có thể tạo ra tác động thúc đẩy tăng trưởng - nếu sự chuyển dịch
là hợp lý, hay kìm hãm tăng trưởng - nếu sự chuyển dịch là bất hợp lý. Đồng thời,


13
chuyển dịch cơ cấu ngành là một quá trình nên cần một khoảng thời gian nhất định
mới có thể thấy rõ kết quả của sự chuyển dịch, suy cho cùng là kết quả của sự phát


14
công nghiệp, những ngành công nghiệp chế tạo đòi hỏi tay nghề kỹ thuật cao, vốn
lớn hay công nghệ hiện đại như cơ khí chế tạo, điện tử công nghiệp, hóa mỹ phẩm,
dược phẩm… chiếm tỷ trọng cao sẽ chứng tỏ nền kinh tế đạt mức độ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa cao hơn so với những lĩnh vực công nghiệp khai khoáng, sơ chế
nông sản, công nghiệp lắp ráp…Trong khu vực dịch vụ, những lĩnh vực dịch vụ
chất lượng cao, gắn với công nghệ hiện đại như bảo hiểm, ngân hàng, tư vấn, viễn
thông, hàng không vv…chiếm tỷ lệ cao sẽ rất khác với những lĩnh vực dịch vụ phục
vụ sinh hoạt dân sự với công nghệ thủ công hoặc trình độ thấp, quy mô nhỏ lẻ.
b.2 Mức độ thay đổi của cơ cấu lao động
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
còn được đánh giá qua một chỉ tiêu rất quan trọng là cơ cấu lao động đang làm việc
trong nền kinh tế được phân bổ như thế nào vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau.
Một nền kinh tế đang phát triển không chỉ mở rộng một cách đơn thuần, mà cấu trúc
của nền kinh tế đó cũng thay đổi. Những ngành công nghiệp mới xuất hiện và phát
triển, còn các ngành công nghiệp cũ rút lui và biến mất. Cùng với những thay đổi
này, nhiều loại hình nghề nghiệp khác nhau cũng xuất hiện và biến mất. Điều này có
nghĩa: tăng trưởng đòi hỏi việc tái phân bổ liên tục sức lao động. “Nếu đầu tư, tiến
bộ công nghệ và những thay đổi về thể chế là động cơ của tăng trưởng kinh tế thì
chuyển dịch lao động là dầu bôi trơn để động cơ đó luôn hoạt động. Không có dầu
này, tăng trưởng không được duy trì liên tục."[32].
Các nhà kinh tế học đánh giá rất cao chỉ tiêu cơ cấu lực lượng lao động đang
làm việc trong nền kinh tế, vì ở góc độ phân tích kinh tế vĩ mô, cơ cấu lao động xã
hội mới là chỉ tiêu phản ánh sát thực nhất mức độ thành công về mặt kinh tế-xã hội
của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bởi vì công nghiệp hóa, hiểu theo
nghĩa đầy đủ của nó, không phải chỉ đơn thuần là sự gia tăng tỷ trọng giá ttrị của
sản xuất công nghiệp, mà là cùng với mức đóng góp vào GDP ngày càng tăng của
lĩnh vực công nghiệp (và hiện nay là công nghiệp và dịch vụ dựa trên công nghệ kỹ
thuật hiện đại), phải là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đời sống xã hội con

b.3 Mức độ thay đổi của cơ cấu hàng xuất khẩu
Trong điều kiện của một nền kinh tế đang công nghiệp hóa, cơ cấu các mặt
hàng xuất khẩu cũng được xem như một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá
mức độ thành công của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công


16
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quy luật phổ biến của quá trình công nghiệp hóa (đối với
phần lớn các nước đang phát triển hiện nay) là xuất phát từ một nền kinh tế nông
nghiệp, ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP và số lượng
lao động làm nông nghiệp chiếm phần lớn nhất trong tổng lực lượng lao động xã
hội, và do đó, trong tổng giá trị xuất khẩu ít ỏi mà họ có được; một phần rất lớn là
sản phẩm nông nghiệp hoặc sản phẩm của công nghiệp khai thác ở dạng nguyên
liệu thô (chưa qua chế biến hoặc chỉ ở dạng sơ chế). Trong khi đó nhu cầu nhập
khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ quá trình phát triển
công nghiệp lại rất lớn nên tình trạng khan hiếm và thiếu hụt ngoại tệ luôn là một
điểm yếu mang tính kinh niên.
Hầu hết các nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa để trở thành một
nước công nghiệp phát triển đều cơ bản trải qua một mô hình chung trong cơ cấu
sản xuất và cơ cấu hàng xuất khẩu là: từ chỗ chủ yếu sản xuất và xuất khẩu hàng sơ
chế sang các mặt hàng công nghiệp chế tạo, lúc đầy là các loại sản phẩm của công
nghiệp chế tạo sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật thấp như lắp ráp, sản phẩm dệt
may, chế biến nông lâm thủy sản…chuyển dần sang các loại sản phẩm sử dụng
nhiều công nghệ kỹ thuật cao như sản phẩm cơ khí chế tạo, hóa chất, điện tử, v.v…
Chính vì vậy, sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu, từ những mặt hàng sơ chế
sang những loại sản phẩm chế biến dựa trên cơ sở công nghệ-kỹ thuật cao luôn
được xem như một trong những thước đo rất quan trọng đánh giá mức độ thành
công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hơn nữa, đối với nhiều nước chậm phát
triển, do những chỉ số tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia nhiều khi thấp hơn tiêu chuẩn kỹ
thuật quốc tế nên cơ cấu sản phẩm xuất khẩu (được thị trường quốc tế chấp nhận) sẽ

năng. Sản lượng thực tế có thể đo bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản
phẩm quốc dân (GNP) v. Trong nghiên cứu này, chỉ tiêu được sử dụng là GDP và
tốc độ tăng trưởng GDP.
2

Ở các nước phương Tây, không tồn tại khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế bởi ngay từ buổi đầu của
kinh tế học, khái niệm tăng trưởng kinh tế mà A. Smith (1776) đưa ra đã bao hàm cả vấn đề chất lượng tăng
trưởng. Khái niệm chất lượng tăng trưởng chỉ thực sự ra đời vào những năm 1980s xuất phát từ thực tế của
các nước đang phát triển, khi người ta thấy rằng, ở nhiều nước Mỹ la tinh hay Trung Đông có tăng trưởng
kinh tế, tức là có sự gia tăng sản lượng mà không có sự cải thiện nhiều về năng lực sản xuất, tăng trưởng
không liên tục mà lên xuống bấp bênh. Tham khảo thêm các nghiên cứu Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh
(2005), Nguyễn Văn Thường và Nguyễn Kế Tuấn (2007), T. P. Soubbotina (2005) v.v...


18
b) Nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế
Để lý giải nguồn gốc của tăng trưởng, các nhà kinh tế học cổ điển đã khái
quát hoá hàm sản xuất của mọi nền kinh tế bằng một phương trình rất ngắn gọn: Y =
f(K,L), trong đó Y là sản lượng, K là vốn và L là lao động. Có nghĩa là Y được hiểu
là một hàm số có 2 yếu tố biến đổi: vốn và lao động. Ở đây, họ đã gộp đất đai và
vốn tư bản trở thành nhân tố K duy nhất. Về sau, R. Solow (1956) đã biến đổi
phương trình cũ nói trên thành phương trình mới: Y = Af(K, L), trong đó A là tiến
bộ kỹ thuật.
Trong thời gian đầu, các nhà kinh tế học đồng tình với cách phân rã này,
nhưng về sau, do việc phát hiện thêm nhiều nhân tố khác cũng có có đóng góp nhất
định cho tăng trưởng như thể chế, yếu tố hội nhập quốc tế v.v..nên các nhà kinh tế
học đã gọi A là nhân tố năng suất tổng hợp (TFP). Ví dụ, theo D. Rodrik (2000), các
nhân tố K, L, và A là các nhân tố nội sinh, và cần phải bổ sung thêm các nhân tố
ngoại sinh như địa lý (bao gồm: vị trí, khí hậu, địa hình, sinh thái, nguồn lực tự
nhiên) và các nhân tố bán ngoại sinh như thể chế và quá trình hội nhập quốc tế. Tuy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status